Đa dạng thành phần loài tảo lục, vi khuẩn lam và chất lượng nước hồ chứa vực mẫu ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ TRƯỜNG THI

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI TẢO LỤC, VI KHUẨN LAM
VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC HỒ CHỨA VỰC MẤU
Ở THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60.42.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Văn Chung

Nghệ An – 2014i
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của các
cơ quan, đơn vị, các thầy, cô giáo cũng như gia đình và bạn bè.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học,

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình nghiên cứu tảo lục và VKL 3
1.1.1. Một số dẫn liệu về nghiên cứu tảo lục và VKL trên thế giới 3
1.1.2. Một số dẫn liệu về nghiên cứu tảo lục và VKL ở Việt Nam 6
1.2. Mối quan hệ giữa chất lượng nước và vi tảo 9
Chương II: PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 13
2.1. Đối tượng nghiên cứu 13
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 13
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 14
2.3. Phương pháp nghiên cứu 14
2.3.1.Thu mẫu nước 14
2.3.2. Thu mẫu tảo 14
2.4. Phương pháp phân tích 15
2.4.1. Phân tích mẫu nước 15
2.4.2. Phân tích mẫu tảo 16
2.4.3. Xử lý số liệu 17
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
3.1. Kết quả phân tích chất lượng nước hồ Vực Mấu-Thị xã Hoàng Mai-Nghệ
An 18
3.1.1. Một số chỉ tiêu thủy lý 18
3.1.1.1. Nhiệt độ 18
3.1.1.2. Một số chỉ tiêu thủy hóa 21
3.1.2.1. pH 21
3.1.2.2. Oxy hòa tan (Dissolved oxygen: DO) 22

iv
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Đợt 1 : đợt thu mẫu thứ nhất (ngày 27/12/2013).
Đợt 2 : đợt thu mẫu thứ hai (ngày 24/5/2014).
Đợt 3 : đợt thu mẫu thứ ba (ngày 10/8/2014).
DO : ôxy hòa tan
COD : nhu cầu oxy hóa học
Fe
ts
: sắt tổng số
QCVN: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
BTNMT: Bộ tài nguyên môi trường.
VKL : Vi khuẩn Lam
TB/l (hoặc tb/l): tế bào/l v
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Nhiệt độ không khí hồ Vực Mấu 18
Bảng 3.2: Nhiệt độ nước hồ Vực Mấu 18
Bảng 3.3: Độ trong của nước nước hồ Vực Mấu (cm) 20
Bảng 3.4: Độ pH nước nước hồ Vực Mấu 21
Bảng 3.5: Oxy hòa tan (DO) trong nước hồ Vực Mấu (mgO
2
/l) 23
Bảng 3.6: Nhu cầu ôxy hóa học (COD) của nước hồ Vực Mấu (mgO


vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí thu mẫu ở hồ chứa Vực Mấu, Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 13
Biểu đồ 3.1: Biến động nhiệt độ không khí qua các đợt nghiên cứu(t
0
C) 19
Biểu đồ 3.2: Biến động nhiệt độ nước nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu (t
0
C) 19
Biểu đồ 3.3: Độ trong của nước nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu 20
Biểu đồ 3.4: Độ pH nước nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu 21
Biểu đồ 3.5: Biến động hàm lượng oxy hòa tan nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu 23
Biểu đồ 3.6: Biến động chỉ số COD nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu 24
Biểu đồ 3.7: Biến động nhu cầu oxy sinh học (BOD
5
) nước hồ Vực Mấu qua các đợt
nghiên cứu 26
Biểu đồ 3.8: Biến động hàm lượng amoni nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu 27
Biểu đồ 9: Biến động hàm lượng photphat nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu 28
Biểu đồ 3.10. Biến động hàm lượng sắt t.số nước hồ Vực Mấu qua các đợt nghiên cứu 301
MỞ ĐẦU

Vi tảo (Microalgae) là nguồn thức ăn quan trọng của động vật thủy sinh,
không có vi tảo thì không có nghề cá (Hollerback, 1951). Vi tảo là mắt xích đầu tiên
trong chuỗi thức ăn tự nhiên của vực nước, thực vật nổi chứa nhiều chất dinh dưỡng

Vực Mấu là hồ chứa nước với tổng lưu vực trữ nước là 215 km
2
, trữ lượng
thiết kế 75 triệu m
3
nước; cấp nước tưới cho hơn 4600 ha đất canh tác; cấp nước
sinh hoạt cho gần 40.000 hộ dân khu đô thị Hoàng Mai và huyện Quỳnh Lưu và khu
công nghiệp với dung lượng khoảng 11,39 triệu m
3
/năm. Đây còn là nơi nuôi trồng
thuỷ sản và cung cấp nguồn nước nuôi trồng thuỷ sản trong khu vực là 400 ha, đồng
thời góp phần cắt giảm lũ cho hạ lưu. Vực Mấu còn là hồ bán nhân tạo có kiểu kiến
trúc đẹp nên đã được đưa vào khai thác du lịch sinh thái.
Nghiên cứu về vi tảo nói chung, tảo lục và VKL nói riêng, ở hồ Vực Mấu
đang còn là mảng trống. Việc đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước cũng
như điều tra các loài vi tảo nhằm tìm ra các loài có ý nghĩa khoa học và có giá trị
cho nuôi trồng thủy sản hay chỉ thị chất lượng môi trường nơi đây là thực sự cần
thiết. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đa dạng thành phần loài tảo lục,
vi khuẩn lam và chất lượng nước hồ chứa Vực Mấu ở thị xã Hoàng Mai,
tỉnh Nghệ An”.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Đánh giá chất lượng nước, thành phần loài và số lượng cá thể, tảo lục và vi
khuẩn lam (VKL) cũng như mối liên quan giữa chất lượng nước với sự phân
bố của vi tảo.
Nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Phân tích, đánh giá chất lượng nước hồ Vực Mấu ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh
Nghệ An
- Xác định thành phần loài tảo lục, VKL cũng như số lượng tế bào vi tảo và sự
biến động của chúng.

Ngành tảo lục (Chlorophyta) phân thành 5 lớp: Lớp Volvocophyceae gồm
những dạng có cơ thể dinh dưỡng là những tế bào có roi chuyển động và những tập
đoàn tế bào đó. Lớp Protococophyceae có cơ thể dinh dưỡng là những tế bào không
chuyển động có màng tế bào chặt và những tập đoàn của tế bào đó. Lớp
Ulotriphyceae gồm những cơ thể dạng sợi hoặc bản đa bào. Lớp Siphonophyceae
gồm những dạng không có cấu trúc tế bào, tản của chúng có kích thước lớn phức 4
tạp và toàn bộ cơ thể chỉ là một tế bào khổng lồ, dạng ống chứa nhiều nhân. Lớp
Conjugatophyceae gồm những dạng có cấu trúc đơn bào đối xứng và các dạng sợi
sinh sản hữu tính [27].
Trên thế giới, việc nghiên cứu thực vật nổi ở các hệ thống sông đã có nhiều
thành tựu. Ở nước Nga, công trình nghiên cứu của Shtina (1941) nghiên cứu ở sông
Kama. Tác giả đã phát hiện được 420 loài thực vật nổi trong đó ở ngành tảo lục: bộ
Protococcales có 84 loài, bộ Desmiales có 26 loài. Mặt khác trong quá trình nghiên
cứu, tác giả đã nhận ra rằng sự biến động theo mùa của thực vật nổi ở sông Kama
giữa các năm là cơ bản giống nhau, tuy có lệch nhau một ít do có liên quan đến chế
độ thủy văn của từng năm. Số lượng thực vật nổi dao động từ 20.000- 13.000.000 tế
bào/ lít, nhóm chủ đạo thuộc về tảo silic trong suốt cả năm, mặc dầu có một số
tháng thì ưu thế lại thuộc về tảo lục và VKL và đỉnh cao nhất vào mùa hè (đầu
tháng 8 đến giữa tháng 9), thấp nhất vào mùa đông (dẫn theo [4]).
Komarenco (1968) đã nghiên cứu thực vật nổi lưu vực sông Iacutxco và đã
phát hiện được 211 loài và dưới loài, trong đó có 36 loài tảo lục. Ngoài ra, tác giả
còn đánh giá số lượng thực vật nổi và đặc điểm của chúng cũng như sự phân bố
theo nhóm sinh thái. Kết quả cho thấy có 81,5% số lượng loài sống ở đáy, chỉ có
18,5% số loài sống trôi nổi. Nếu xét theo sự vận động của nước thì có 4,7% tổng số
loài ưa nước chảy, còn 95,3% là ưa nước đứng (dẫn theo [4]).
Bộ Chloroccales của ngành Chlorophyta đã được quan tâm nghiên cứu ở
nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Ấn Độ việc nghiên cứu đã có từ rất lâu. Năm 1860,

cây trồng [39]. Nhà tảo học Ấn Độ Desikachary (1959) đã phản ánh sự phong phú
các taxon tảo VKL thường gặp tại khu vực khí hậu nóng ẩm và nhiều mưa này [33].
Những thành tựu nghiên cứu tảo đất gắn liền với những phát kiến trong lĩnh
vực vi sinh vật đất của Vinogratski, đặc biệt là công trình nghiên cứu của Frank
(1889), người đầu tiên đã có nhận xét về khả năng đồng hoá nitơ khí quyển của
VKL. Hơn 20 năm sau Drew (1928) đã phân lập được 3 loài VKL sạch vi khuẩn,
kết quả cho thấy chúng có khả năng đồng hoá nitơ phân tử. Về sau có các công trình
nghiên cứu của Fogg (1942; 1951; 1956; 1962); Singh (1942; 1961); Herisset
(1946; 1952) đã khẳng định không phải tất cả các loài VKL đều có khả năng cố
định nitơ khí quyển mà chỉ có một số trong chúng biểu thị khả năng này, phần lớn
VKL cố định nitơ (VKLCĐN) đa số thuộc về các họ như: Anabaenaceae,
Nostocaceae, Rivulariaceae và Scytonemataceae (dẫn theo [14]).
Ngoài ra, các nhà khoa học còn quan tâm tới độc tố do VKL tiết ra. Từ năm
1940, việc phân lập VKL độc đã được Theodose Alson (đại học tổng hợp 6
Minnesoto - Mỹ) tiến hành. Ông đã phân lập được một số chủng VKL thuộc các chi
Microcystis và Anabaena (dẫn theo [44]).

1.1.2. Một số dẫn liệu về nghiên cứu tảo lục và VKL ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu đầu tiên về tảo ở Việt Nam được các nhà khoa
học nước ngoài tiến hành, đến năm 1960 mới có công trình nghiên cứu của người
Việt Nam.
Năm 1963, Shirota đã nghiên cứu một số vực nước có địa hình, loại hình
khác nhau từ Huế vào Rạch Giá đã phát hiện được 43 loài thuộc bộ Protococcales,
chúng tập trung vào 8 họ, trong đó có họ Hydrodictyaceae và họ Oocystaceae chiếm
ưu thế [42]. Sau đó, nhà thực vật người Pháp Loureiro (1973) là người đầu tiên mô
tả về loài tảo lục Ulva pisum (dẫn theo [20]).
Năm 2003, Nguyễn Văn Tuyên và cộng sự đã công bố 295 loài và dưới loài

tập trung trong 5 ngành, có 16 loài bổ sung cho khu hệ tảo Việt Nam. Trong đó
ngành Chlorophyta chiếm 41,33% tổng số loài phát hiện và số loài nhiều nhất
thuộc về chi Scenedesmus [20]. Trong một nghiên cứu khác năm 2006, nhóm
nghiên cứu của tác giả tác giả đã xác định được 63 loài và dưới loài thuộc 27 chi,
14 họ và 4 bộ của ngành tảo lục trong một số thủy vực nuôi thủy sản nước lợ ở
tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh [21].
Năm 2004, trong luận án tiến sĩ của mình với đề tài “Khu hệ thực vật nổi ở
vùng Tây Nam hệ thống sông Lam (Nghệ An – Hà Tĩnh)”, Lê Thị Thúy Hà đã công
bố 409 loài và dưới loài vi tảo, trong đó bộ Chlorococcales có 85 loài và dưới loài,
23 chi, 9 họ [4].
Võ Hành và Mai Văn Sơn (2009) nghiên cứu “Sự đa dạng ngành tảo lục
(Chlorophyta) hạ lưu sông Mã – Thanh Hóa” đã ghi nhận 127 loài và dưới loài
thuộc 30 chi, 12 họ, 3 bộ, 2 lớp trong đó Protococcophyceae chiếm ưu thế với 102
loài. Các tác giả cũng công bố 38 loài và dưới loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ
tảo thủy vực nội địa Việt Nam [10].
Tổng hợp các đặc điểm cơ bản về hình thái phân loại và phân bố các loài tảo
lục ở Việt Nam, Dương Đức Tiến và Võ Hành (1997) trong cuốn “Tảo nước ngọt
Việt Nam, phân loại tảo Lục (Chlorococcales)” đã mô tả chi tiết đặc điểm phân loại
hơn 800 loài và dưới loài tảo lục ở Việt Nam cũng như các địa điểm phân bố của
chúng [27]. 8
Đối với VKL, người Việt Nam nghiên cứu và công bố kết quả đầu tiên về
VKL, đó là Cao Ngọc Phương (1964). Bà đã viết về 23 taxon VKL đất ở Sài Gòn
và Đà Lạt, trong đó có 11 chi với 2 chi có tế bào dị hình và 9 chi không có tế bào dị
hình, một loài mới đối với khoa học là Phormidium vietnamense và một thứ
(varietas) mới Gloeocapsa punctata var. phanhiangii (dẫn theo [24]).
Trong lĩnh vực nghiên cứu tảo nước ngọt ở khu vực miền Bắc, Nguyễn Văn
Tuyên, với công trình nghiên cứu khu hệ tảo nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam năm

Trần Văn Nhị (1991), Dương Đức Tiến, Dương Quỳnh Hương (1993), Trần Đăng
Kế (1994), Ngô Kế Sương và cộng sự (1994), Trần Văn Tựa (1993, 1994) và Đoàn
Đức Lân (1994) (dẫn theo [24]).
Ở khu vực miền Trung, Đỗ Thị Trường, Võ Hành (1999), khi nghiên cứu
VKLtrên đất trồng lúa của 14 xã thuộc huyện Hoà Vang (tp. Đà Nẵng) đã phát hiện
được 45 loài và dưới loài, trong đó chi Osillatoria và Nostoc chiếm ưu thế, có 3 loài
có khả năng cố định nitơ thuộc các chi Anabaena và Nostoc [30]. Nguyễn Lê Ái
Vĩnh, Võ Hành (2001) đã phát hiện được 69 loài và dưới loài thuộc 15 chi, 5 họ khi
nghiên cứu VKL trên đất Thạch Hà - Hà Tĩnh [31]. Nguyễn Công Kình (2001), khi
nghiên cứu mẫu đất từ các cánh đồng lúa của thành phố Vinh và vùng lân cận đã
phát hiện được 10 loài và dưới loài VKL [16]. Hồ Sỹ Hạnh (2007) đã công bố 129
taxon bậc loài và dưới loài VKL trong các loại hình đất trồng tỉnh Đắc Lắc, trong đó ở
đất trồng lúa gặp 101 loài và dưới loài, đất trồng bông gặp 55 loài và dưới loài, ở đất
trồng cà phê gặp 26 loài và dưới loài [11].
Đối với vi tảo trong các thủy vực, Nguyễn Đình San (2001) đã phát hiện
được 29 loài VKL trong các thuỷ vực nước ngọt bị ô nhiễm của các tỉnh Thanh
Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh [20]. Công trình nghiên cứu của Lê Thị Thuý Hà (2004) đã
phát hiện được 56 loài VKL ở sông Cả [4].
Mới đây, Nguyễn Lê Ái Vĩnh và cộng sự (2012), đã nghiên cứu về đặc điểm
hình thái, phả hệ phát sinh của một số loài VKL gây nở hoa nước trong các thủy
vực nước ngọt ở Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình [45].

1.2. Mối quan hệ giữa chất lượng nước và vi tảo
Thực vật nổi nói chung, tảo lục và VKL nói riêng, sống trong môi trường nước,
vì vậy mà giữa vi tảo và nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với
nhau. Các yếu tố môi trường nước như: nhiệt độ, ánh sáng, pH, hàm lượng ôxi hoà tan 10
và các muối dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự tồn tại, phát triển của

giảm sự ô nhiễm nước.
Trong nước nitơ tồn tại ở dạng đạm NO
3
-
, NH
4
+
là sản phẩm của quá trình
amin hoá các chất hữu cơ hoặc do thuỷ sinh vật bài tiết. Theo Fogg (1952), vi tảo
hấp thu muối NH
4
+
nhanh hơn NO
3
-
. Vì vậy nếu trong môi trường có cả NH
4
+

NO
3
+
thì NH
4
+
được hấp thu trước tiên. Kết quả nghiên cứu của Guxeva (1952) cho
thấy, nhu cầu về đạm không giống nhau ở các loài tảo. Tảo lục và VKL có nhu cầu
về đạm cao hơn tảo silic (dẫn theo [7]). Người ta cho rằng, việc làm sạch nước thải
khỏi các chất hữu cơ hoà tan chủ yếu là do vi khuẩn có trong nước, tảo chỉ sinh ra


2+
, Fe
3+

thành phần không thể thiếu của Cytocrom, Ferodoxin - cần thiết cho quá trình
quang hợp. Nguyên tố này thường xuyên thay đổi hoá trị và luôn tham gia vào các
phức chất nên việc xem xét ảnh hưởng của nó lên tảo rất khó khăn. Nghiên cứu của
Nguyễn Đình San (2001) có giới thiệu rằng, tảo silic có nhu cầu sắt cao hơn tảo lục,
còn VKL có nhu cầu ít nhất [20].
Bên cạnh sự tác động của các yếu tố môi trường nước đối với đời sống của vi
tảo thì đồng thời vi tảo có tác động ngược lại với môi trường nước. Một số tảo có
khả năng hấp thu những kim loại nặng, sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn ô
nhiễm cho nước. Những nghiên cứu đã phát hiện các tế bào tảo Chlorella emeronii
cố định đã tích luỹ hiệu quả và làm bay hơi Hg trong các thí nghiệm dài kỳ. Nghiên
cứu tế bào VKL cố định đạm cũng cho thấy khả năng hấp thụ Cu một cách hiệu quả
[3]. Scenedesmus, Chlorella được phát hiện có khả năng tích luỹ Cu
2+
, Pb, Cr
3+
, từ
67- 96% [3]. Nhờ sử dụng mạnh các chất đó mà tảo phát triển mạnh, là nguồn thức
ăn cho tôm, cá, tạo điều kiện cho nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển, sự phát triển 12
của vi tảo ở một giới hạn nhất định sẽ có ý nghĩa trong quá trình tự làm sạch nước.
Tuy nhiên có một số loài tảo sự phát triển của chúng lại có hại cho nước vì nó chứa
một số độc tố có hại cho động vật thuỷ sản như chi Nostoc, Anabaena,
Microcystis,
Việc nghiên cứu sử dụng vi tảo để làm sinh vật chỉ thị cũng đã được nghiên

Điểm II: Giữa bờ phía Bắc 14 Điểm III: Góc bờ phía Đông Nam
Mặt cắt 2: gồm
Điểm IV: Giữa bờ phía Tây
Điểm V: Giữa bờ Đông Nam
Điểm VI: Góc bờ phía Nam
Mặt cắt 3: gồm
Điểm VII: Bờ Đông Nam
Điểm VIII: Giữa bờ phía Nam
Điểm IX: Góc bờ phía Nam
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu trong 3 đợt khác nhau về chế độ khí hậu.
- Đợt 1: ngày 27 tháng 12 năm 2013, thời điểm thu mẫu là cuối đông.
- Đợt 2: ngày 24 tháng 5 năm 2014, thời tiết đã vào hè.
- Đợt 3: ngày 10 tháng 8 năm 2014, thời tiết đã cuối hè – đầu thu.
Trong các đợt thu mẫu ngoài hiện trường chúng đều được tiến hành trong
khoảng thời gian từ 9 giờ đến 12 giờ cùng ngày.

2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Thu mẫu nước
Mẫu nước dùng để phân tích chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa được lấy ở tầng mặt
0-20 cm thu vào chai nhựa PE 1500ml, bảo quản ở 4
0
C và phân tích trong vòng 24h
tại phòng thí nghiệm. Riêng mẫu nước xác định hàm lượng oxy hòa tan được cố

màu đen - trắng là độ trong cuối cùng.
- Oxi hòa tan (Dissolved Oxygen - DO) được xác định bằng phương pháp Winkler
- Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand – BOD) được xác
định bằng các xác định lượng oxy hòa tan tiêu hao sau 5 ngày ủ mẫu ở 20
0
C.
- Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand – COD) được xác định
bằng phương pháp kali pemanganat.
- Xác định hàm lượng NH
4
+
bằng phương pháp so màu với thuốc thử Nessler
ở λ = 410 nm.
- Xác định hàm lượng PO
4
3-
bằng phương pháp so màu với axit
phosphomolipdic và thuốc thử SnCl
2
ở λ = 630nm.
- Xác định hàm lượng Fe tổng cộng theo phương pháp so màu với dung dịch
kali cyanua ở bước sóng λ = 480nm.
Các chỉ số DO, BOD
5
, COD, NH
4
+
, PO
4
3-

Mỗi mẫu tảo ở được quan sát trên 9 tiêu bản. Nếu 1 loài xuất hiện:
- Từ 1 - 3 tiêu bản thì được coi là gặp ít, kí hiệu là (+)
- Từ 4 - 6 tiêu bản thì được coi là thường gặp, kí hiệu là (++)
- Từ 7 - 9 tiêu bản thì được coi là gặp nhiều, kí hiệu là (+++)
+ Phân tích định lượng:
Số lượng tế bào (TB) tảo được xác định trên buồng đếm Goriarev. Gọi m là
số TB có trong 25 ô lớn của buồng đếm. Do thể tích buồng đếm là 10
4
cm
3
(ml) nên
số lượng TB có trong 1ml là (mx10
4
); suy ra, trong 1 lít nước có m x 10
4
x 10
3
= m
x 10
7
TB. Khi thu mẫu, ta lọc 10 lít nước thành 50 ml, nghĩa là cô đặc 200 lần (2 x
10
2
). Bởi vậy, số tế bào vi tảo có trong 1 lít nước mẫu thực tế là: 17
n =

2x10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status