Phối hợp phương pháp dạy học trực quan với phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trọng dạy học nội dung môn toán lớp 3 - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Lí do chon đề tài
Dòng chảy thông tin mạnh cùng cơn lốc khoa học kĩ thuật đã và đang từng ngày, từng giờ
làm thay đổi da thịt những thành viên trong đại gia đình nhân loại chúng ta. Kết quả của sự thay đổi
tăng tốc ấy đòi hỏi sự thích ứng, phát triển của nhân tố con người. Dĩ nhiên khẳng định vai trò của
giáo dục là rất quan trọng cho sự phát triển của tương lai nhân loài. Đặc biệt là giáo dục Tiểu học -
bậc học nền tảng - nơi nuôi dưỡng những mầm xanh cho đất nước, sẽ là những điểm đặt đầu tiên
trong những vi mạch của sự phát triển và kết nối với các bậc học tiếp theo nhằm đào tạo nguồn
nhân lực có nhân cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày càng lớn ấy.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì giáo dục thường xuyên đổi mới. Song song
với đổi mới nội dung dạy học và mục tiêu dạy học tiểu học thì việc đổi mới phương pháp dạy học
là rất cần thiết, mang tính chất thời đại, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà
quản lí giáo dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp. Đổi mới phương pháp dạy học tức là
phải biết kết họp hài hòa, vận dụng linh hoạt các ưu điểm của phương pháp dạy học trong từng tình
huống cụ thể nhất là việc kết hợp phương pháp dạy, phương pháp học truyền thống và hiện đại.
Điển hình cho sự phối họp giữa phươg pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học
hiện đại có thể kể tới hai phương pháp là dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề với dạy học trực
quan. Sự kết hcrp của hai phương pháp này đã đáp ứng được phần nhiều xu thế đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay là tập trung vào người học, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh, hình
thành ở các em năng lực tự phát hiện các vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống nhằm
thích ứng với xã hội hiện đại.
Môn Toán là một trong hai môn học chính ở Tiểu học giúp học sinh có những kiến thức cơ
bản ban đầu về số học, hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng
dụng thiết thực trong đời sống. Đặc biệt nó góp phần phát triển năng lực tư duy, khả năng diễn đạt,
ứng xử, giải quyết các tình huống có vấn đề; góp phần hình thảnh bước đầu phương pháp tự học và
làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
Lớp 3 được xem là cẩu nối giữa giai đoạn thứ nhất và giai đọn thứ hai của Tiểu học, lứa tuổi
có đặc điểm tâm sinh lí đang phát triển, các em có thể tự phát hiện, chủ động tiếp thu kiến thức.
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm, bản chất của các phương pháp dạy học và đặc điểm nội dung môn
Toán lớp 3 tôi nhận thấy việc kết họp phương pháp dạy học trực quan với dạy học phát hiện và giải
quyết vấn đề vào dạy học nội dung môn Toán nói chung và môn Toán ở lớp 3 là rất phù họp và đem

1.1.1.1. Khải niệm
Phương pháp dạy học trực quan trong dạy học toán ở tiểu học là phương pháp dạy học trong
đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn cho học sinh trực tiếp hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng dạy
học, từ đó giúp học sinh hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn toán.
Ví dụ: Khi dạy bài “Bảng nhân 6” giáo viên đã tổ chức hướng dẫn cho học sinh thao tác trên
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 2
các tấm bìa để từ đó thành lập bảng nhân 6. Bước thứ nhất giáo viên sử dụng 1 tấm bìa có 6 chấm
tròn và hỏi học sinh lấy 1 lần như thế thì được mấy chấm tròn? Sau đó giáo viên lấy 2 tấm bìa, mỗi
tấm bìa có 6 chấm tròn và hỏi 6 chấm tròn được lấy mấy lần? Vừa làm giáo viên vừa tổ chức cho
học sinh thao tác trên các tấm bìa mà học sinh đã chuẩn bị ở nhà. Từ đó học sinh tìm cách lập bảng
nhân 6. Khi đó ta nói giáo viên đã sử dụng phương pháp dạy học trực quan để dạy các nội dung
toán học.
1.1.1.2. Phân nhóm các phương pháp dạy học trực quan
Phân nhóm này bao gồm phương pháp trinh bày trực quan và phương pháp quan sát.
1.1.1.2.1. Phương pháp trình bày trực quan
Là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học trước,
trong và sau khi nắm tài liệu mới trong khi ôn tập, củng cố, hệ thống hoá và kiểm tra tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo.
Phương pháp trình bày trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh hoạ và trình bày.
Minh hoạ thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh hoạ như bản mẫu,
biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng
Trình bày thường gắn liền với việc trình bày những thí nghiệm, những thiết bị kỹ thuật, chiếu
phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video.
Trình bày thí nghiệm là trinh bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn
cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, điểm xuất phát trong quá trình nhận thức - học tập của học
sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn.
Thông qua sự trình bày bằng trực quan của giáo viên mà học sinh không chỉ lình hội dễ dàng
tri thức mà còn giúp họ học tập được những động tác mẫu mực của giáo viên, nhờ vậy, dễ dàng hình
thành kỹ năng, kĩ xảo cho học sinh.

quả nhưng phần lớn các hình ảnh thường có kích thước nhỏ, do đó học sinh sẽ khó theo dõi.
Nếu không ý thức rõ phương tiện trực quan chỉ là một phương tiện nhận thức mà lạm dụng
chúng thì dễ làm cho học sinh phân tán chú ý, thiếu tập trung vào những dấu hiệu bản chất, thậm
chí còn làm hạn chế sự phát triển năng lực tư duy trừu tượng của trẻ.
Tuy vậy phương pháp trực quan sinh động vẫn phát huy hiệu quả tốt, nhất là đối với bậc tiểu
học, nó góp phần phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh. Vì vậy trong giảng dạy giáo viên
nên đầu tư nhiều hơn vào phương pháp dạy học này để tiến tới hình thành được một cơ sở lí luận
đầy đủ hom.
1.1.1.4. Vai trò, chức năng và phạm vỉ sử dụng của phương pháp dạy học trực quan trong dạy học
toán
1.1.1.4.1 .Vai trò và tác dụng của phương pháp dạy học trực quan
Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học (có tính trực giác, cụ thể) và do tính chất đặc
thù của các đối tượng Toán học (tính trừu tượng và khái quát cao) mà phương pháp trực quan có vai
trò quan trọng trong dạy học Toán ở Tiểu học.
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 4
Yới những hình ảnh trực quan (do các đồ dùng biểu diễn mang lại) và lời giảng của giáo
viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh hội kiến thức toán học trừu tượng. Bản chất
của phương pháp dạy học này là giáo viên đã tác động vào tư duy học sinh tiểu học theo đúng quy
luật nhận thức “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn”.
Nhìn chung, trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học giảm nhẹ công việc của giáo
viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được đồ dùng thích họp, người
giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động
nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hom, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt
đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh
tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe
- thấy - làm được, nên khi đưa các phương tiện dạy học vào quá trình dạy học, giáo viên có điều kiện
để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu,
lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo của các em.

Ví dụ: Khi hình thành bảng nhân 6 ở lớp 3 nên hướng dẫn học sinh sử dụng các tấm bìa để
tìm ra kết quả phép nhân. Nhưng khi học sinh đã thuộc bảng nhân thì cố gắng không dùng các tấm
bìa nữa mà tập cho học sinh cách nói ngay, viết ngay kết quả phép tính.
Ba là: Các phương tiện trực quan phải tăng dần mức độ trừu tượng. Mức độ trừu tượng của
phương tiện phụ thuộc vào khả năng nhận thức của trẻ. Đối với trẻ nhỏ (Ở giai đoạn các lớp 1, 2, 3)
thì các phương tiện mang tính cụ thể hơn.
Yí dụ: Khi giới thiệu về số lượng của số 3, lúc đầu giáo viên có thể cho học sinh lấy 2 bông
hoa rồi lấy 1 bông hoa nữa để dược 3 bông hoa, sau đó có thể cho học sinh lấy 2 que tính rồi lấy 1
que tính nữa để được 3 que tính, tiếp đến lấy 2 chấm tròn rồi lấy 1 chấm tròn nữa để được 3 chấm
tròn. Từ 3 bông hoa đến 3 que tính rồi đến 3 chấm tròn đã có sự chuyển dần từ vật cụ thể sang vật
có tính tượng trưng hơn và điều quan trọng là học sinh nhận được “cái chung” của các nhóm vật đó
là “ba” (số lượng đều là 3).
Bổn là: Không quá đề cao và tuyệt đối hóa phương pháp trực quan. Phương pháp trực quan
có nhiều ưu điểm và có vai trò quan trọng trong dạy học toán ở tiểu học, tuy nhiên nếu tuyệt đối
hóa phương pháp trực quan, dùng quá mức cần thiết sẽ gây phản tác dụng, làm cho học sinh lệ
thuộc vào phương tiện trực quan, tư duy máy móc, kém phát triển tư duy trừu tượng, vì vậy cần sử
dụng linh hoạt, đúng mức phương pháp dạy học trực quan, trên cơ sở phối họp một cách hợp lí các
phương pháp dạy học khác.
Ví dụ: Khi dạy học sinh giải một bài mới, dạng bài toán có lời văn chẳng hạn dạng bài toán
nói về nhiều hơn một số đơn vị, giáo viên có thể sử dụng hoặc hướng dẫn học sinh sử dụng các
minh họa trực quan thích hợp. Những học sinh đã nắm được cách giải và đã có kĩ năng giải các bài
toán dạng đó rồi mà vẫn yêu cầu học sinh phải “vẽ sơ đồ” rồi mới giải bài toán thì việc làm đó
không hỗ trợ cho sự phát triển tư duy của học sinh và là việc làm máy móc.
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 6
1.1.2. Dạy học phát hiện và giải quyết vẩn đề
1.1.2.1. Khái niệm
1.1.2.1.1. Tình huống gợi vấn đề
Tình huống gợi vấn đề là những tình huống gợi cho học sinh khó khăn về mặt lí luận hoặc
thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một

mình để phát hiện và giải quyết vấn đề tức là đặt học sinh vào trạng thái chủ động chứ không phải
thụ động tiếp thu tri thức từ thầy.
Mục đích dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội được kết quả của quá trình phát
hiện và giải quyết vấn đề mà còn làm cho học sinh học được bản thân của việc học tức là học sinh
học được cách thức mà loài người tìm ra tri thức: Từ mò mẫm đến phát hiện đến kiểm chứng,
chứng minh và khẳng định tính chân lí của vấn đề ấy.
1.1.2.4. Các hình thức phát hiện và giải quyết vẩn đề
1.1.2.4.1. Tự phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.2.4.2. Vấn đáp, phát hiện và giải quyết vẩn đề
1.1.2.4.3. Thuyết trình, phát hiện và giải quyết vẩn đề
Do đặc điểm của học sinh tiểu học nên các vấn đề được hướng tới là những vấn đề đơn giản.
Phần lớn các vấn đề được giải quyết trên cơ sở dựa vào trực quan (quan sát các số, hình ảnh, rút
ra kết luận khái quát) nên hình thức vấn đáp, phát hiện và giải quyết vấn đề được sử dụng nhiều
nhất, phù hợp nhất với học sinh tiểu học.
1.1.2.5. Quy trình phát hiện và giải quyết vấn đề Gồm 4 bước:
*Bước 1: Thâm nhập, phát hiện vẩn đề
Học sinh phát hiện ra vấn đề từ tình huống gợi vấn đề giáo viên đưa ra. Có nhiều cách để gợi
vấn đề cho học sinh:
+ Cách 1 :Tạo tình huống gợi vấn đề từ các kiến thức học thường ngày Ví dụ:Khi học bài: “Phép
cộng các số trong phạm vi 10000”, để hướng dẫn học sinh thực hiện phép cộng 3526 + 2759 giáo
viên nêu bài toán: Phân xưởng một làm được 3526 sản phẩm, phân xưởng hai làm được 2759 sản
phẩm. Hỏi cả hai phân xưởng làm được bao nhiêu sản phẩm?
Giáo viên đưa ra câu hỏi: “Muốn biết cả hai phân xưởng làm được bao nhiêu sản phẩm ta
làm thế nào?”
Học sinh phải vận dụng kiến thức đã học để trả lời câu hỏi: “Muốn biết cả hai phân xưởng
làm được bao nhiêu sản phẩm ta phải tính tổng 3526 + 2759.
Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào cách tính tổng các số có 3 chữ số để thực hiện tính tổng
3526 + 2759.
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu cách đặt tính khi thực hiện 3526 + 2759.
Học sinh nêu: “Viết 3526 rồi viết 2759 xuống dưới sao cho các chữ số ở

+ Cách 3 : Lật ngược một câu khẳng định đã biết Yí dụ: Khi học sinh học dấu hiệu chia hết
cho 9 “các số có tổng các chữ số chia hết cho 9 thì chia hết cho 9” ta có thể có các phát biểu: “Mọi
số chia hết cho 9 thì có tổng các chữ sô chia hết cho 9” được không?
Hay “Nếu các số không có tổng các chữ số chia hết cho 9 thì có chia hết cho 9” được hay
không?
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 9
Học sinh phải suy nghĩ và xét các trường họp số cụ thể để kiểm nghiệm câu phát biểu mới
đúng hay sai?
+ Cách 4: Khái quát hóa
luật của dãy số:Trong dãy số này,mỗi số đều bằng số đứng ngay trước nó cộng thêm 6,hoặc bằng
số đứng ngay sau nó trừ đi 6.
Các số cần điền là:
Học sinh phát hiện vấn đề và tìm giải pháp để giải quyết vấn đề.Thường được thực hiện
theo sơ đồ sau:
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 10
Ví dụ:Viết số thích họp vào ô trống
6 12 18 36 60
ỉọc sinh quan sát các

tron
g ô
trông,thử tìm môi quan hệ giữa các

trong dãy số và nhận xét: 6 + 6 = 12; 12 + 6 = 18, học sinh khái quát quy
6 12 18 24 30 36 42 48 54 60
*Buớc 2: Học sinh phát liên và giải quyêt vân đê
Giải thích sơ đồ:
Khi phân tích vấn đề cần làm rõ những mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm. Trong

*Bước 2: Học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 11
- Dựa vào gợi ý của giáo viên học sinh phát hiện yêu cầu của bài học là thành lập bảng nhân 6.
- Học sinh phát hiện: Khi ta thêm một tấm bìa có cùng 6 chấm tròn thì kết quả của phép tính liền sau
sẽ bằng kết quả của phép tính liền trước cộng thêm 6.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào cách xây dựngbảngnhân đã
học ở các lớp dưới để thành lập “Bảng nhân 6”.
- Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét về thừa số thứ nhất, thừa số thứ
hai và tích của mỗi phép nhân vừa lập?
- Học sinh: Thừa số thứ nhất luôn bằng 6, thừa số thứ hai của phép tính liền sau hơn thừa số thứ hai
của phép tính liền trước là 1 đơn vị, tích sau hơn tích trước 6 đơn vị (tích sau bằng tích trước cộng
thêm 6 đơn vị).
Ví dụ: 6x8=6x7+6 6x9=6x8+6
*Bước 3: Trình bày giải pháp
- Học sinh trình bày kết quả phép tính
6x1 = 6 6x2 = 12 6x3
= 18
6x10 = 60
*Bước 4: Nghiên cứu sâu hơn về giải pháp
- Giáo viên yêu cầu học sinh có thể dựa vào bảng nhân 6 để xem xét cách thành lập bảng chia 6.
Đây là phương pháp phát huy vai trò tự giác, tích cực, chủ đông, sáng tạo của học sinh.
Thông qua đó đánh giá khả năng khám phá, tìm kiếm, xử lí tình huống của học sinh. Đồng thời
hình thành ở học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, khả năng linh hoạt trong suy nghĩ,
dám nghĩ, dám làm, tìm tòi chiếm lĩnh tri thức mới.
1.1.2.6. Tác dụng của phương pháp phát hiện và giải quyết vẩn đề trong dạy học
Sử dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học có tác dụng to lớn về
nhiều mặt:
- Kiến thức của học sinh được vững chắc và hệ thống kiến thức đó do chính bản thân học sinh tìm ra
nên khó quên khi quên dễ dàng tìm lại được.

- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị. Thực hành so sánh các phần bằng nhau của đơn vị trên
hình vẽ và trong trường họp đơn giản.
- Giới thiệu bước đầu về chữ số La Mã.
b) Đại lượng và đo đại lượng:
- Bổ sung và lập bảng các đơn vị đo độ dài từ milimét đến kilômét. Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị
tiếp liền nhau, giữa mét và kilômét, giữa mét và xăngtimét, milimét. Thực hành đo và ước lượng độ
dài.
- Giới thiệu đơn vị đo diện tích: xăngtimét vuông.
- Giới thiệu gam. Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đom vị gam. Giới thiệu lkg = lOOOg.
- Ngày, tháng, năm. Thực hành xem lịch.
- Phút, giờ. Thực hành xem đồng hồ, chính xác đến phút. Tập ước lượng khoảng thời gian trong
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 13
phạm vi một phút.
- Giới thiệu tiếp về tiền Việt Nam. Tập đổi tiền với các trường hợp đan giản.
c) Yếu tố hình học:
- Giới thiệu góc vuông và góc không vuông. Giới thiệu êke. Vẽ góc bằng thước thẳng và êke.
- Giới thiệu đỉnh, góc, cạnh của các hình đã học.
- Tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông.
- Giới thiệu compa. Giới thiệu tâm và bán kính, đường kính của hình tròn. Vẽ đường tròn bằng
compa.
- Thực hành vẽ trang trí hình tròn.
- Giới thiệu diện tích của một hình. Tính diện tích hình chữ nhật và diện tích hình vuông.
d) Yếu tố thống kê:
- Giới thiệu bảng số liệu đom giản.
- Tập sắp xếp lại các số liệu của bảng theo mục đích, yêu cầu cho trước.
e) Giải bài toán:
- Giải các bài toán có đến 2 bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản.
- Giải bài toán quy về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học.
1.2.2. Thực trạng dạy học nội dung môn Toán lớp 3

Nội dung môn Toán lớp 3 có rất nhiều bài có thể sử dụng cách thức dạy học theo định hướng
nêu trên. Nhưng vì điều kiện có hạn nên tôi chỉ soạn một số giáo án thể hiện sự phối họp giữa dạy
học phát hiện và giải quyết vấn đề với dạy học trực quan trong dạy học nội dung môn Toán ở lớp 3.
CHƯƠNG II
XÂY DựNG MỘT SỐ GIÁO ÁN THỂ HIỆN sự PHỐI HỢP DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ
GIẢI QUYẾT VẤN ĐÈ VỚI DẠY HỌC TRựC QUAN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG
MÔN TOÁN Ở LỚP 3
BẢNG NHÂN 6 (TOÁN 3)
I. Mục tiêu
- Học sinh phát hiện và lập được bảng nhân 6 và học thuộc bảng này.
- Học sinh củng cố kĩ năng, thực hành nhân 6, giải toán có lời văn và đếm thêm 6.
- Học sinh phát triển khả năng diễn đạt, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.
ILPhương pháp, phucng tiện dạy học
- Phương pháp: dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học trực quan
- Phương tiện:
+ Các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn.
+ Bảng phụ ghi nội dung bảng nhân 6.
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 15
2 +2 +2 +2 +2 + 1
5 + 5 + 5 + 5 + 5 + 5
- Y ê u cầu 2 học sinh làm bài trên
bảng vừa chỉ và gọi tên các thành
phần và kết quả của các phép nhân
vừa lập được.
- Nhận xét và cho điểm học sinh.
2. Dạy học bài mới:
2.1. Giới thiệu bài:
2.2. Hướng dẫn học sinh lập bảng nhân 6:
- Giáo viên gắn 1 tấm bìa có 6 chấm tròn lên bảng

l.Kiêm tra bài cũ:
- Gọi hai học sinh lên bảng làm bài
tập sau:
Viết phép nhân tương ứng với mỗi
tổng sau:
- Hai học sinh làm bài trên bảng, cả
lớp làm ra giấy nháp.
Giáo viên nhận xét kêt quả làm của học sinh.
- Giáo viên treo bảng nhân 6 yêu cầu học sinh quan sát, hướng dẫn học sinh nhận xét ghi nhớ cách
thành lập bảng nhân 6.
Khóa luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Tư - K34A - Giáo dục Tiểu học 17
+ 6 nhân 2 bằng mấy? + 6 nhân 2 bằng 12.
+ Vì sao em biết 6 nhân 2 bằng 12?
+ V ì 6 x 2 = 2 x 6 m à 2 x 6 = 12
(học
sinh đã học bảng nhân 2) nên
6 x 2 = 1 2 .
- Viết lên bảng phép nhân: - Sáu nhân hai bằng 12.
6x2 =12 và yêu cầu học sinh đọc
phép nhân này.
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm - Học sinh thảo luận và trình bày kết
đôi và phát phiếu thảo luận cho học quả: Học sinh phát hiện ra hoàn
sinh với nội dung như sau: thành bảng nhân 6 có thể dựa vào các
PHIEU HỌC TẠP bảng nhân 2, 3, 4, 5 hoặc dựa vào
Nhóm: tổng các số hạng bằng nhau.
1. Tính PHIEU HỌC TẠP
6xl = 6x6 = Nhóm:
6x2 = 6x7 = 1. Tính
6x3 = 6x8 = 6 x 1 = 6 6 x 6 = 3 6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status