chính sách xóa đói giảm nghèo ở xã Thượng Nhật , Nam Đông ,Huế - Pdf 29

MỤC LỤC
PHẦN I. LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Đối tượng nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Mục đích của đề tài 2
5. Phương pháp nghiên cứu 2
6. Kết cấu bài thu hoạch 3
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Nghèo đói và đặc điểm của các hộ nghèo đói 3
1.1.1. Khái niệm và tiêu chí phân định nghèo đói 3
1.1.2. Đặc điểm của các hộ nghèo đói 8
1.2. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói 10
1.2.1. Nguyên nhân khách quan 10
1.2.2. Nguyên nhân chủ quan 11
1.3. Ý nghĩa của công tác XĐGN và vai trò của Nhà nước trong việc xóa đói giảm nghèo
13
1.3.1 Ý nghĩa của công tác XĐGN 13
1.3.2 Vai trò của Nhà nước trong việc xóa đói giảm nghèo 14
1.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xoá đói giảm nghèo 15
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở XÃ THƯỢNG
NHẬT, NAM ĐÔNG, THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2011 - 2014 17
2.1. Khái quát tình hình tự nhiên , kinh tế, xã hội tại thị trấn Ái Nghĩa 17
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 17
2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 17
2.1.1.2.Lĩnh vực kinh tế 19
2.1.1.2.1.Về sản suất nông lâm nghiệp 19
2.1.1.2.2.Xây dựng cơ bản 22
2.1.1.2.3. Ngân sách 22
2.1.2. Lĩnh vực văn hóa xã hội 22

3.2.1.1. Tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo 38
3.2.1.2. Dạy nghề cho người nghèo 39
3.2.1.3. Công tác khuyến nông và hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, kiến thức về tổ chức
sản xuất, tổ chức cuộc sống 40
3.2.1.4. Hỗ trợ ổn định sản xuất, việc làm cho hộ nghèo 40
3.2.1.5. Giải pháp từ các hộ gia đình 41
3.2.2 Nhóm chính sách tuyên truyền và hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội 42
3.2.2.1. Hoạt động truyền thông giảm nghèo 42
3.2.2.2. Chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ về y tế 42
3.2.2.3. Chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ về giáo dục 42
3.2.2.4. Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở 43
3.2.2.5. Về trợ giúp pháp lý cho người nghèo 43
3.2.2.6. Quan tâm hỗ trợ phụ nữ nghèo 43
3.2.2.7. Xã hội hoá công tác giảm nghèo 43
3.2.3. Vai trò của nhân viên CTXH trong XĐGN 44
PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 45
3.1.Kết luận 45
3.2. Kiến nghị 46
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
CTXH Công tác xã hội
DS Dân số
GDMN Giáo dục mầm non
HĐND Hội đồng nhân dân
KH Kế hoạch
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
KHKT Khoa học kỹ thuật
LĐ TB&XH Lao động, thương binh và xã hội
NĐ CP Nghị định chính phủ
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

Niên luận năm 3
Đông. Kinh tế kém phát triển kéo theo đời sống nhân dân nơi đây cũng thiếu thốn rất
nhiều. Nghèo đói về lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục không được chăm chút
khiến cho nơi đây bao năm nghèo vẫn cứ hoàn nghèo.
Nhằm thực hiện theo nghị định 32 về xóa đói giảm nghèo cho người dân tại các
vùng khó khăn. Em mạnh dạn chọn đề tài: “
Đánh giá thực trạng công tác xóa đói
giảm nghèo tại xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, Tỉnh Thừa Thiên Huế ”
để nghiên cứu và đưa ra giải pháp nhằm góp chút công sức vào công cuộc xóa
đói giảm nghèo tại địa phương. Đó là lý do e chọn dề tài này.
2. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Thượng
Nhật, Nam Đông, Huế.
3. Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi không gian: nghiên cứu tại xã Thượng Nhật, Nam Đông, Huế.
• Phạm vi thời gian: Nghiên cứu, thu thập số liệu từ năm 2011-2015.
4. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng đói nghèo ở xã Thượng Nhật, Nam Đông,
Huế.Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả xóa đói
giảm nghèo ở xã Thượng Nhật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu đó là:
Thứ nhất là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: nghiên cứu, phân tích
vấn đề một cách khoa học, khách quan.
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 2
Niên luận năm 3
Thứ hai, phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu, số liệu: thu thập tài liệu,
số liệu liên quan đến đề tài đang nghiên cứu, văn phòng Ủy ban xã Thượng Nhật; tài
liệu từ sách, vở; tài liệu qua nguồn internet… sau đó tổng hợp, phân tích và xử lý.
Thứ ba, phương pháp hỏi ý kiến những người hiểu biết: hỏi một số cán bộ đang làm

xuyên phải vay nợ và không có khả năng trả nợ.
Như vậy “nghèo đói” là khái niệm dùng để chỉ cả tình trạng nghèo và tình trạng đói.
Nghèo đói nói chung là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống thấp hơn chuẩn
mực nghèo đói được áp dụng cho địa phương đang xét.
Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng Quốc gia hay từng
vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể. Tiêu chí chung
nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu
cầu cơ bản của con người về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã
hội.
Tóm lại: Nghèo đói là một khái niệm dùng để chỉ mức sống và khả năng thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và
giao tiếp xã hội… của một nhóm dân cư, một cộng đồng hay quốc gia trong một thời
kì nhất định. Khái niệm nghèo đói cơ bản thống nhất về định tính song không có một
chuẩn mực chung về nghèo đói cho tất cả các quốc gia vì nghèo đói là khái niệm động,
thường xuyên biến đổi theo không gian và thời gian. Ở một thời điểm nhất định, mỗi
quốc gia, vùng lãnh thổ sẽ có những tiêu chuẩn, chuẩn mực phân định nghèo đói khác
nhau, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội thì ngưỡng phân định nghèo đói này có xu
hướng ngày càng cao.

Tiêu chí phân định nghèo đói

Cách phân định của Thế giới
Chuẩn nghèo là một chỉ tiêu để phân biệt người nghèo với người không nghèo. Trên
thế giới có rất nhiều thước đo khác nhau về nghèo đói, tùy từng điều kiện cụ thể mà
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 4
Niên luận năm 3
mỗi nước có thể lựa chọn cho mình phương pháp xác định phù hợp. Chuẩn nghèo
được phân định theo một số quan niệm sau:
Trong chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc năm 1997, Ngân hàng Thế giới
(WB) đưa ra kiến nghị thang đo nghèo đói như sau: (lấy mức thu nhập năm 1990)

chi tiêu và thành thị là 75%.
Từ 1996 trở về trước, chuẩn nghèo đói của nước ta tính theo mức chi tiêu bằng
lương thực (qui thóc), từ năm 1996 trở đi mới tính theo giá trị bằng tiền.
Từ những năm 1991, 1992, Bộ LĐ - TB&XH đã tiến hành khảo sát, điều tra nghiên
cứu để xác định chuẩn nghèo đói của Việt Nam. Theo đó từ năm 1996 đến nay, nước
ta đã năm lần công bố chuẩn nghèo cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước
như sau:
Vào năm 1996, hộ đói được xác định là hộ có mức thu nhập bình quân đầu
người/tháng qui gạo là 13kg; Hộ nghèo được xác định theo 3 mức: thứ nhất là dưới
25kg/người/tháng đối với thành thị. Thứ hai, dưới 20kg/người/tháng đối với nông thôn
đồng bằng, trung du. Thứ ba, dưới 15kg/người/tháng đối với nông thôn miền núi, hải
đảo.
• Giai đoạn 1997 - 2000
Chuẩn nghèo dưới đây tính cho cả gạo và qui ra tiền theo giá năm 1997 cho tất cả
các vùng, cụ thể:
Hộ đói: dưới 13kg gạo/người/tháng, tương đương với 45.000 đồng.
Hộ nghèo vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg gạo/người/tháng, tương đương
55.000 đồng.
Hộ nghèo vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg gạo/người/tháng tương
đương 70.000 đồng.
Hộ nghèo thành thị: dưới 25kg gạo/người/tháng tương đương 90.000 đồng.
• Giai đoạn 2001 - 2005
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 6
Niên luận năm 3
So với giai đoạn 1996 -2000, chuẩn nghèo giai đoạn này tăng khoản 1,5 lần vì
trong 5 năm (1996 - 2000), mức sống dân cư Việt Nam tăng lên khoảng 1,47 lần và
GDP/người giai đoạn 1991 - 2000 tăng lên 1,91 lần. Do đó Nhà nước đã có sự điều
chỉnh chuẩn nghèo phù hợp và chỉ tính bằng tiền, cụ thể như sau:
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.0000 đồng/người/tháng;
Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng;

nghèo thấp hơn bình quân cả nước; Thứ ba, có đủ nguồn lực cân đối cho các giải pháp
XĐGN.
Cần lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn chặt với tính thu nhập bình quân
của hộ gia đình, tuy vậy tỉ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với tỉ lệ người nghèo. Thông
thường trong một quốc gia thì tỉ lệ người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỉ lệ hộ nghèo,
vì qui mô hộ gia đình của nhóm nghèo thường cao hơn nhóm không nghèo.
1.1.2. Đặc điểm của các hộ nghèo đói
Nhìn chung những hộ nghèo có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, hộ nghèo thường có thu nhập thấp hoặc thậm chí không có thu nhập mà
phụ thuộc vào các nguồn trợ cấp, nguồn thu nhập không ổn định, chủ yếu từ nông
nghiệp hoặc từ việc bán sức lao động, không có việc làm thường xuyên, thường không
có thu nhập phụ, nguồn thu nhập dành cho tích lũy mở rộng sản xuất của các hộ nghèo
là rất thấp hoặc không có vì phần lớn thu nhập đều dành cho chi tiêu, sinh hoạt hàng
ngày của gia đình, có ít tài sản và tài sản có giá trị thấp, nhà cửa chất lượng kém, một
số hộ không có nhà mà phải ở thuê hoặc ở nhờ nhà người khác.
Thứ hai, phần lớn thu nhập của các hộ nghèo chỉ đáp ứng được các nhu cầu thiết
yếu nhất trong cuộc sống. Các hộ nghèo thường có khuynh hướng chi vượt khỏi thu.
Do nguồn thu nhập ít ỏi nên hầu như phần lớn thu nhập chủ yếu được sử dụng để đáp
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 8
Niên luận năm 3
ứng nhu cầu ăn uống thường ngày của người nghèo. Nhìn chung, mức chi cho ăn uống
chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi tiêu thường xuyên của các hộ gia đình nghèo, trung
bình khoảng70 % cơ cấu tiêu dùng, còn lại để chi cho khám chữa bệnh, đi lại, hiếu
hỉ…Thực tế cũng cho thấy tình trạng chi tiêu vượt quá mức thu nhập dẫn đến việc vay
nợ chồng chất của hộ nghèo. Thực ra chi tiêu chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng
thoát nghèo của hộ vì điều đó tạo nên những thuận lợi hay cản trở con đường thoát
nghèo của họ. Tuy nhiên, bố trí cách chi tiêu hợp lí lại là cách giải quyết tạm thời cho
sự giảm sút kinh tế của hộ nghèo.
Thứ ba, hộ nghèo thường có số lượng nhân khẩu trong gia đình cao hơn bình quân
chung. Hệ quả là khi qui mô gia đình càng lớn thì thu nhập bình quân đầu người sẽ

Vì mục đích kiếm kế sinh nhai, họ thường phải chấp nhận làm các công việc độc hại,
nặng nhọc, dễ xảy ra tai nạn lao động. Cơ hội tiếp cận giáo dục và các dịch vụ xã hội
thấp vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của nghèo đói.
Thứ sáu, thất nghiệp và việc làm bấp bênh, cho thu nhập thấp là hai dấu hiệu đặc
trưng trong tình trạng việc làm của hộ nghèo cả ở thành thị và nông thôn. Hoạt động
nghề nghiệp phổ biến nhất của người nghèo ở thành thị là hoạt động buôn bán dịch vụ
nhỏ với quy mô gia đình. Họ thường làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức với
những loại công việc không đòi hỏi tay nghề cao, mang tính chất thu nhập thấp và
không ổn định. Có thể nói khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực cần thiết cho sự
tồn tại và mưu sinh của đa số người nghèo, đặc biệt đối với người nghèo thành thị. Ở
nông thôn, các hộ nghèo sống chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp có giá trị thu
nhập thấp, tỉ số lệ thuộc cao, mang tính thời vụ và chịu nhiều ảnh hưởng của các điều
kiện tự nhiên nên tình trạng thiếu việc làm khi chưa đến mùa vụ xảy ra thường xuyên,
mặt khác ở nông thôn có rất ít việc làm để tạo thêm thu nhập phụ, nếu có thì đa số là
các nghề truyền thống với đầu ra không đảm bảo và thu nhập không cao.
1.2. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói
1.2.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, những biến động về chính trị - xã hội, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh,
điều kiện sản xuất khó khăn là một trong những nguyên nhân làm cho người dân rơi
vào tình trạng nghèo đói. Do nguồn thu nhập bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên họ
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 10
Niên luận năm 3
khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như mất mùa,
thiên tai, tai nạn, ốm đau Những vùng có khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn
hán thường xuyên, địa hình phức tạp, kinh tế chậm phát triển, chịu nhiều hậu quả của
chiến tranh thường có tỉ lệ hộ nghèo cao hơn. theo báo cáo của Bộ LĐ - TB&XH, ước
tính tỉ lệ hộ nghèo các vùng trong cả nước đến cuối năm 2010 như sau: Đông Bắc:
14,39%; Tây Bắc: 27,3%; Đồng bằng sông Hồng: 5,43%; Bắc Trung Bộ: 16,04%;Tây
Nguyên: 11,51%; Duyên hải miền Trung: 10,47%; Đông Nam Bộ: 2,59%; Đồng bằng
sông Cửu Long: 7,32%.

kinh tế - xã hội. Những hộ gia đình sinh nhiều con, đẻ dày một mặt sẽ hạn chế sức lao
động của người mẹ, mặt khác phải tốn thêm một khoản chi phí không ít để nuôi con
nhỏ, chưa kể đến việc sức khỏe của người mẹ cũng bị ảnh hưởng khi sinh nhiều con,
đẻ dày. Sinh đẻ không có kế hoạch làm cho qui mô gia đình tăng và tỉ lệ người ăn theo
cao là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của hộ.
Thứ tư, việc chi tiêu không có kế hoạch, không tính toán cũng là một nguyên nhân
chủ quan gây nên nghèo đói. Chi tiêu không có kế hoạch thường dẫn đến tình trạng
thiếu ăn trong những tháng giáp hạt. Do đó, để đảm bảo nhu cầu sinh sống và sản xuất
họ phải vay mượn với lãi suất cao làm cho đời sống càng trở nên khó khăn hơn.
Thứ năm, một thực tế cho thấy, trong những gia đình có người mắc các tệ nạn xã
hội (rượu chè, cờ bạc, ma túy…), ốm yếu, bệnh tật là những vấn đề ảnh hưởng trực
tiếp đến thu nhập và chi tiêu của họ, họ phải chịu hai gánh nặng khi vừa mất đi thu
nhập từ lao động đó, lại phải chi phí cao cho khám chữa bệnh, mua rượu, thuốc, ma
túy… đây cũng là nguyên nhân đẩy họ vào vòng lẩn quẩn của nghèo đói.
Thứ sáu, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của xã hội, lười lao động, không
có ý thức vươn lên thoát nghèo cũng là một nguyên nhân chủ quan gây nên nghèo đói
và hiện tượng “tái nghèo”.
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 12
Niên luận năm 3
1.3. Ý nghĩa của công tác XĐGN và vai trò của Nhà nước trong việc xóa đói giảm
nghèo
1.3.1 Ý nghĩa của công tác XĐGN
Từ việc phân tích một số nguyên nhân cũng như khái niệm của nghèo đói như trên,
chúng ta có thể thấy những ý nghĩa thiết thực và quan trọng của chính sách XĐGN
như sau:
Thứ nhất, XĐGN làm giảm sự phân hóa giàu nghèo, giảm ngăn cách giữa nhóm
giàu với nhóm nghèo, từ đó thắt chặt hơn mối liên kết giữa các nhóm dân cư trong xã
hội. Đây là một yếu tố có tác động tích cực ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc - yếu tố cơ bản trong việc đảm bảo vấn đề an ninh chính trị của mỗi
quốc gia.

việc quản lí kinh tế - xã hội, tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định bằng chính sách tiền
tệ tích cực, hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo cân đối ngân sách vững chắc.
Thứ hai là kết hợp chặt chẽ, hợp lí các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội
trong phạm vi cả nước, trong từng lĩnh vực, từng địa phương. Thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực thi dân chủ
cơ sở, tăng cường mối liên kết và các cuộc đối thoại giữa chính quyền địa phương với
nhân dân.
Thứ ba, ban hành các chính sách, giải pháp để phát triển kinh tế đi đôi với XĐGN
như: chú trọng đầu tư cho phát triển “tam nông” (nông nghiệp - nông thôn - nông dân);
đầu tư xây dựng hạ tầng cho các vùng nghèo; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với
các dịch vụ công như cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa… cho người nghèo;
ổn định và nâng cao đời sống của người nghèo, của cộng đồng các DTTS; phát triển
mạng lưới an sinh xã hội trợ giúp các nhóm người yếu thế và người nghèo.
Thứ tư, huy động và phân bổ nguồn lực cho XĐGN; đa dạng hóa các nguồn lực và
phương thức thực hiện XĐGN theo hướng phát huy cao độ nội lực kết hợp với sử
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 14
Niên luận năm 3
dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế, khuyến khích và kêu gọi sự tham gia của các
tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước vào chương trình XĐGN.
Thứ năm, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá và tổng kết kết quả công tác
XĐGN.
Cuối cùng là hợp tác quốc tế với Chính phủ các nước khác trong nỗ lực XĐGN
trên phạm vi toàn cầu.
1.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xoá đói giảm nghèo
Đảng và Nhà nước ta có 4 quan điểm về xóa đói giảm nghèo.
Một là, XĐGN vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng tâm trước
mắt, vì: Thứ nhất, xóa đói giảm nghèo là nội dung, là nhiệm vụ cần thực hiện để bảo
đảm công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy, có những nguyên nhân nảy sinh nghèo đói
không phải do môi trường xã hội, không do điều kiện kinh tế - địa lý, mà do hoàn cảnh
và đặc điểm của từng cá nhân, từng hộ gia đình. Những trường hợp này luôn có khả

xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã cho thấy, nếu đặt công bằng xã
hội lên trên hết và tách rời với phát triển kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các
động lực phát triển. Tuy nhiên, nếu đặt hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất thì sẽ làm
tăng tình trạng phân hóa hai cực, làm tăng sự khốn khó đối với không ít quần chúng
nhân dân. Bởi vậy, trong khi thực hiện bài toán phát triển đất nước, làm sao phải tạo
mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của
nó, đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo thành công việc thường xuyên, liên tục.
Bốn là, xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội. Cần khẳng định một cách
mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng lại ở việc thực hiện chính sách xã hội,
không phải việc riêng của ngành lao động - xã hội hay một số ngành khác, mà là
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân.
Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảm nghèo, tất cả mọi cán bộ Đảng, chính
quyền đều phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và
phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng.
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 16
Niên luận năm 3
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở XÃ
THƯỢNG NHẬT, NAM ĐÔNG, THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2011 -
2014
2.1. Khái quát tình hình tự nhiên , kinh tế, xã hội tại thị trấn Ái Nghĩa
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên-Huế. Huyện Nam Đông là
thị trấn Khe Tre và 10 xã: Hương Phú, Hương Sơn, Thượng Quảng, Thượng Long,
Thượng Nhật, Thượng Lộ, Hương Lộc, Hương Hoà, Hương Giang, Hương Hữu. Tọa
độ: 16 độ 4’13”B 107 độ 41’46”Đ. Tổng diện tích tự nhiên 65.051,8 ha trong đó diện
tích đất nông nghiệp có 4.019,38 ha, đất lâm nghiệp chiếm 41.799,31 ha, còn lại là đất
khác và chưa sử dụng. Dân số 2,3 vạn gồm 2 dân tộc Kinh và Cơ-tu, trong đó người
dân tộc thiểu số (9.320 người) chiếm 41%. Toàn huyện có 10 xã trong đó có 7 xã đặc
biệt khó khăn mà 6 xã là người dân tộc thiểu số chiếm trên 70%. Địa bàn huyện chỉ có

vẻ bề thế, hiện đại. Bên cạnh đó, đời sống văn hóa, chăm sóc y tế, giáo dục đào tạo
được chăm lo đúng mức. Hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở được xây dựng theo
hướng hiện đại, kết hợp bảo lưu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 18
Niên luận năm 3
tộc người, đảm bảo các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân; hệ thống trường
lớp các cấp học từ giáo dục mầm non đến THPT hoàn chỉnh, đặc biệt tỷ lệ huy động
trẻ trong độ tuổi ra lớp luôn đạt cao. Nam Đông là huyện đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên
Huế được phong tặng danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới. Quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội huyện Nam Đông đến năm 2020 đã xác định mục tiêu tổng
quát là xây dựng Nam Đông trở thành huyện có nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh
và bền vững theo hướng công nghiệp hóa, có hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
ngày càng hoàn thiện, liên thông với hệ thống hạ tầng của tỉnh Thừa Thiên Huế và cả
nước; đời sống vật chất và chất lượng các lĩnh vực văn hóa - xã hội cải thiện, nâng
cao, bản sắc các dân tộc được bảo tồn và phát triển; an ninh - quốc phòng và trật tự an
toàn xã hội được đảm bảo; cảnh quan môi trường được giữ vững. Phấn đấu xây dựng,
phát triển Nam Đông đến năm 2020 trở thành huyện có trình độ phát triển ở mức độ
trung bình của tỉnh Thừa Thiên Huế. Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng về giao
thông tại NamĐông đã được xác định là sẽ nâng cấp, mở rộng đường tỉnh lộ 14B La
Sơn - Nam Đông, thúc đẩy xây dựng đường 74 Nam Đông – A Lưới. Triển khai xây
dựng tuyến đường cao tốc Cam Lộ - La Sơn - Túy Loan. Tiếp tục nâng cấp, từng bước
hoàn thiện mạng lưới đường giao thông tại trung tâm huyện lỵ, giao thông liên xã, liên
thôn; từng bước đầu tư đường vào các vùng sản xuất tập trung./.
Thượng Nhật là một xã thuộc huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt
Nam.Xã có diện tích 113,84 km², dân số năm 1999 là 1627 người, mật độ dân số đạt
14 người/km².
2.1.1.2. Lĩnh vực kinh tế
2.1.1.2.1. Về sản suất nông lâm nghiệp
a. Trồng trọt: Diện tích gieo trông cây hàng năm vụ Đông Xuân 2014-2015 là 223
ha/23 ha đạt 94,49% kế hoạch, trong đó: Diện tích cây lương thực có hạt 66 ha/75ha ,

hội nghị triển khai kế hoạch và giao chỉ tiêu cụ thể mỗi thôn chọn 8 vườn mẫu. Thành
lập Ban chỉ đạo của xã, phân công, tổ chức họp triển khai kế hoạch tại 6/7 thôn; đồng
thời thành lập tổ vận động của thôn nhằm để tổ chức vận động, thúc đẩy, kiểm tra tình
hình, tiến độ thực hiện.
Qua triển khai, chỉ đạo vận động đến nay đã thực hiện được như sau: Tổng số hộ
toàn xã có vườn nhà 450/514 bộ gia đình, có 376 vườn đã có chăm sóc cải tạo, có 600
cây chuối trồng mới /45 hộ và trồng 200 cây gấc của chương trình dự án Ilen tại 2
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 20
Niên luận năm 3
thôn Atin và thôn La Vân ( trong đó thôn A tin 100 cây/10 hộ, thôn la Vân 90 cây/ 9
hộ, thôn Hợp Hòa 10 cây/01 hộ). Hiện nay số cây trồng mới đang phát triển khá tốt.
b. Chăn nuôi- Thú y: Đến nay tổng đàn gia súc 1.206 con, ( trong đó: Trâu 130
con; bò 202 con. Lợn 822 con, dê 52 con) . Tổng đàn gia cầm 5.249 con. Chỉ đạo nhân
dân che chắn chuồng trại đảm bảo , dự trữ thức ăn để phòng ngừa mưa rét nhằm hạn
chết thiệt hại về gia súc, gia cầm.
Công tác Thú y: Từng bước được quan tâm cũng cố, kiện toàn, thường xuyên chỉ đạo
tăng cường công tác kiếm soát, kiểm dịch và triển khai tiêm phòng gia súc đạt 87%,
dại chó đạt 57%. Tổ chức phun tiêu độc khử trùng chuồng trại tại các thôn trong xã đạt
100% hộ gia đình có chăn nuôi gia súc, gia cầm.
c. Nuôi các nước ngọt: Tổng diện tích ao hồ toàn xã vẫn duy trì 3.8 ha , trong đó
diện tích có thả cá 2,8 ha. Diện tích còn lại do khó khăn về nguồn nước, kinh phí vật tư
nên đã bị bỏ hoang.
d. Lâm nghiệp: Chỉ đạo tốt công tác chăm sóc rừng trồng hiện có của các năm,
hiện nay rừng trồng đang phát triển tốt đến nay đã trồng được 39 ha rừng keo sau khai
thác và diện tích mới mở rộng thêm. Trồng 3.000 cây sao đen vs diện tích 2,9 ha tại
thôn Atin của dự án CARBI. Trồng lâm sàn ngoài gỗ dưới tán rừng tại 2 rừng cộng
đồng thôn La Vân 6.000 cây mây, 700 cây sên và thôn Lập với số lượng 6.000 cây
mây dưới tán rừng của dự án ICCO; Phòng Nông Nghiệp hỗ trợ 70 cây Ba Kích trồng
thí điểm tại rừng cộng đồng của thôn Lappj. Chú trọng chỉ đạo khâu xử lý thực bì
không để gây cháy rừng. Công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa bàn cơ bản tốt, các đối

2.1.2. Lĩnh vực văn hóa xã hội
2.1.2.1. Giáo dục
Đã hoàn thành xong nhiệm vụ năm học 2014-2015 , cơ sở vật chất , trang thiết bị
được xây dựng, công tác giảng dạy của thầy cô giáo chất lượng được nâng lên, tỷ lệ
huy động học sinh ở các bậc học đạt chỉ tiêu giao.
Trường Mầm non huy động trẻ ra lớp 204 cháu ( Trong đó: nhà trẻ huy động
63/157 cháu, đạt 41,1%. Mẫu giáo huy động 141/141 cháu đạt 100% ) Tỷ lệ trẻ phát
triển đạt yêu cầu 185/204 trẻ, đạt 90,6%. Tỷ lệ trẻ được học chương trình GDMN
SVTH: Đoàn Thị Hà Duyên 22

Trích đoạn Mục tiêu của công tác xóa đói giảm nghèo Tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo Vai trò của nhân viên CTXH trong XĐGN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status