BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NGỌC CÁT TƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIN HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NGỌC CÁT TƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIN HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG
Nghệ An, 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy,
cô giáo Khoa Quản lý Giáo dục, Phòng Đào tạo sau đại học Trường đại học Vinh
đã tham gia quản lý, giảng dạy tận tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cám ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Hường, người hướng dẫn
khoa học, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo Sở, các phòng, ban
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới bước vào thế kỷ XXI đang đứng trước xu thế của thời đại: Hội
nhập, hợp tác, toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực để cùng phát triển. Tri
thức, tài năng và nguồn lực con người là con đường để đổi mới và phát triển.
Vấn đề đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới những thời cơ và thách thức
lớn đối với bản lĩnh và trình độ của mỗi dân tộc. Cả thế giới đang chuyển từ
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, đó là quá trình chuyển đổi
từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế
chủ yếu dựa vào tri thức con người.
Việt Nam đang đứng trước một xã hội tương lai: xã hội thông tin, xã hội
học tập, ở đó mỗi người phải nỗ lực học tập, học tập suốt đời trong một nền
giáo dục tốt nhất để có được những phẩm chất, năng lực mới xứng đáng ở vị
trí trung tâm của sự phát triển.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Phát triển
giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt
Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng
ĐNGV và CBQL là khâu then chốt”. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo
dục THPT có vị trí quan trọng góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Mục tiêu của giáo dục THPT nhằm hình
thành cho học sinh học vấn phổ thông và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật,
công nghệ và hướng nghiệp để tiếp tục học lên bậc giáo dục nghề nghiệp, đại
học hoặc đi vào cuộc sống. Hiện nay, giáo dục THPT đang được đổi mới toàn
diện từ mục tiêu, nội dung, chương trình đến kế hoạch và phương pháp dạy
học để tạo nên sự liên thông và đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ với các bậc
học khác.
8
Trong điều 15 của Luật Giáo dục cũng đã ghi rõ: “Nhà giáo giữ vai trò
tuyển dụng sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc ĐNGV chưa được
thực hiện tốt, chưa có hệ thống. Trong khi đó, do việc dạy tin học trong
trường THPT là vấn đề còn khá mới mẻ, nên việc nghiên cứu phát triển giáo
viên tin học trong trường THPT chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ
thống.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số
giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV tin học ở các trường THPT Thành
phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề xuất một số giải
pháp nâng cao chất lượng ĐNGV dạy Tin học ở các trường THPT tại Thành
phố Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV tin học ở
trường THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV tin
học ở các trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Chất lượng ĐNGV tin học ở các trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh
sẽ được nâng cao nếu đề xuất và thực hiện các giải pháp có tính khoa học,
tính đồng bộ, tính khả thi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV tin
học ở trường THPT
10
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng và công tác nâng
cao chất lượng giáo viên dạy tin học ở các trường THPT Thành phố Hồ Chí
Minh.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV tin học ở các
trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV tin học ở các
trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh
12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Sự phát triển của thực tiễn giáo dục đặt ra những yêu cầu ngày càng cao
với giáo viên – những chủ thể quan trọng của quá trình giáo dục trong học
đường. Vì lý do đó, các nghiên cứu về giáo viên rất được quan tâm và phát
triển. Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, V.I. Lê nin
đã rất coi trọng việc xây dựng ĐNGV. Người viết: “Chúng ta phải làm cho
giáo viên ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn
không có và không thể có được trong xã hội tư sản”. Lê nin yêu cầu phải:
“Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ tinh thần của
giáo viên… nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật
chất cho họ”.
Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng giáo viên cũng
được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển giáo dục – đào tạo và nhu cầu tăng
trưởng kinh tế. Vì thế, chất lượng ĐNGV đã nhiều nước trên thế giới quan
tâm. Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra
yêu cầu đối với một giáo viên cần có các phẩm chất [27]:
1/ Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn
mình dạy;
2/ Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương
pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó;
3/ Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất
đặc trưng của nghề dạy học;
13
4/ Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác;
5/ Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp
nghiệp của giáo viên…
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Lịch sử nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV gắn liền với lịch
sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Hơn năm mươi năm xây dựng và
phát triển, nền giáo dục nước ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục liên
thông và hoàn chỉnh từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đáp ứng một
cách tích cực nhu cầu nâng cao dân trí, nhu cầu nhân lực và nhân tài của xã
hội. Hơn năm mươi năm phát triển giáo dục là hơn năm mươi năm không
ngừng xây dựng và nâng cao chất lượng ĐNGV trong hệ thống giáo dục Việt
Nam.
Vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV đã được Bác Hồ, Đảng và Nhà nước
ta hết sức quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: … nếu không có
thầy giáo thì không có giáo dục… Người còn chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của
nghề dạy học… Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực
góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản… “Các thầy cô
giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”… “các
cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả
năng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm vụ” [30,
tr.114].
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chủ Tịch, suốt nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà
nước ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và
nâng cao chất lượng ĐNGV, trong đó có việc nghiên cứu về ĐNGV. Theo đó,
nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã được triển khai dưới sự chỉ đạo của
15
Bộ GD&ĐT. Tiêu biểu trong các nghiên cứu đó là những công trình nghiên
cứu về mô hình nhân cách của ĐNGV các cấp học, bậc học và mô hình nhân
cách của người quản lý nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Nghiên cứu về ĐNGV còn được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục
ở cấp độ vĩ mô và vi mô. Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề ĐNGV dưới góc
độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện. Có thể kể đến
nghề dạy học của giáo viên, thôi thúc người giáo viên sáng tạo, thúc đẩy
người giáo viên không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ. Từ đó, tác giả đề
nghị cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “bí quyết nhà nghề”;
đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người giáo viên là nền
tảng của mô hình đào tạo giáo viên thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệu quả [27,
tr.6].
Trong bài viết “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất
lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả
Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách
phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên
OECD. Tác giả đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo
viên có năng lực qua sự phân tích 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận
năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề cập những chính sách cải
thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp vĩ mô và vi mô; từ đó, tác giả nhấn
mạnh đến ba vấn đề nguồn quyết định chất lượng giáo viên là: bản thân người
giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài.
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV được Đảng và
Nhà nước ta coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển giáo dục – đào
tạo; để giáo dục trở thành “quốc sách hàng đầu” trong sự nghiệp đổi mới đất
17
nước; vừa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước vừa nâng cao
chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn
2011 – 2020 đã xác định một trong những giải pháp quan trọng để phát triển
giáo dục quốc gia là “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã
hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý
giáo dục, nâng cao chất lượng ĐNGV và CBQL là khâu then chốt.” [10]. Tác
giả Trần Kiều bàn về chất lượng giáo dục đã coi chất lượng ĐNGV là yếu tố
quan trọng hàng đầu và đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục thì không
thể không chú ý trước hết về chất lượng ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về
giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo
dục khác”, “Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,
giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên” [32]. Như vậy, giáo viên là tên gọi chỉ
nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề. Theo đó, giáo
viên thực hiện lao động nghề nghiệp của mình tại các trường THPT được gọi
là giáo viên THPT.
Giáo viên THPT phải có những tiêu chuẩn:
- Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt.
- Đạt trình độ chuẩn về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ.
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp.
- Lý lịch bản thân rỏ ràng.
Nhiệm vụ của giáo viên THPT là:
19
- Giáo dục giảng dạy theo đúng chương trình, kế hoạch; soạn bài, chuẩn
bị thí nghiệm; kiểm tra, đánh giá; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ; quản lý học
sinh trong các hoạt động giáo dục; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn.
- Tham gia công tác phổ cập giáo dục.
- Rèn luyện đạo đức, học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, giáo dục.
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, pháp luận của nhà nước và điều lệ của
nhà trường.
- Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo.
- Phối hợp các đoàn thể, tổ chức xã hội, gia đình học sinh trong các hoạt
động giáo dục.
Giáo viên THPT được đảm bảo các quyền:
- Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy và
giáo dục.
- Được đảm bảo mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần; được chăm sóc sức
khỏe theo các chính sách, chế độ đối với nghề giáo.
giáo dục học sinh; Có trình độ ngoại ngữ đủ để đáp ứng yêu cầu nắm bắt, trao
đổi thông tin, tiếp cận với trang thiết bị kỹ thuận và phần mềm mới phục vụ
cho hoạt động nghề nghiệp của mình; Có trình độ về lý luận dạy học và giáo
dục học để vận dụng tích cực các nguyên lý giáo dục, nguyên tắc dạy học
trong hoạt động nghề nghiệp một cách hiệu quả; Có kiến thức chung về các
lĩnh vực văn hóa, xã hội, nhân văn để có thể mở rộng giao tiếp xã hội, tích
cực hòa nhập và ứng dụng tin học vào phát triển cộng đồng.
1.2.1.3. ĐNGV tin học trường THPT
21
Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề
nghiệp tạo thành một lực lượng. Khái niệm đội ngũ không chỉ được sử dụng
trong lĩnh vực quân sự mà còn được sử dụng một cách phổ biến trong lĩnh
vực tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như: đội ngũ tri thức,
đội ngũ công nhân viên chức; đội ngũ y bác sỹ… Trong lĩnh vực giáo dục
thuật ngữ đội ngũ cũng được sử dụng để chỉ những tập hợp người được phân
biệt với nhau về chức năng trong hệ thống giáo dục. Ví dụ ĐNGV, đội ngũ
CBQL trường học… ĐNGV được nhiều tác giả nước ngoài quan niệm như là
những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết
dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và
tài năng của họ đối với giáo dục. Ở Việt Nam, khái niệm ĐNGV dùng để chỉ
một tập hợp người bao gồm CBQL, giáo viên. Từ điển Giáo dục học định
nghĩa: “ĐNGV là tập hợp những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy
học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định” [70, tr.95]
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể quan niệm: ĐNGV là một tập hợp
những người làm nghề dạy học – giáo dục được tổ chức thành một lực lượng
(có tổ chức) cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã
đề ra cho tập hợp đó, tổ chức đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau
thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp
luật, thể chế xã hội. Họ chính là nguồn lực quan trọng trong lĩnh vực giáo dục
mầm non, phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.
xét từ những bình diện khác nhau. Có nhiều cách hiểu về chất lượng giáo dục,
ví dụ:
- Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất). Điều này chỉ
có thể hiểu được, cảm nhận được nếu so sánh với những sự vật có cùng những
23
đặc tính với sự vật đang được xem xét. Đây là cách tiếp cận tiên nghiệm về
chất lượng.
- Chất lượng được xem xét trên cơ sở những thuộc tính đo được. Điều đó
có nghĩa là chất lượng có thể được đo lường khách quan và chính xác. Một sự
vật có thuộc tính nào đó “cao hơn” cũng có nghĩa là nó “tốt hơn” và do đó
cũng “đắt hơn”. Cách tiếp cận này gọi là cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi
xem xét chất lượng.
- Chất lượng được xem như sự phù hợp với nhu cầu. Các sản phẩm và
dịch vụ được “sản xuất” một cách chính xác với những “đặc tính kỹ thuật” đã
định; mọi sự lệch lạc đều dẫn đến giảm chất lượng. Đây là cách tiếp cận dựa
trên sản xuất về chất lượng.
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu); là “đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng”. Chất lượng được xem xét đơn giản chỉ trong con
mắt của người chiên ngưỡng sự vật hoặc sử dụng chúng.
Có một định nghĩa về chất lượng tỏ ra có ý nghĩa đối với việc xác định
chất lượng giáo dục và cả việc đánh giá nó, đó là: Chất lượng là sự phù hợp
với mục tiêu… Mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ
mạng, mục đích, v.v…; còn sự phù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong
muốn của những người quan tâm, là đạt hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra,…
Đây là định nghĩa thích hợp và thông dụng nhất khi xem xét các vấn đề của
giáo dục.
1.2.2.2. Chất lượng ĐNGV
Chất lượng ĐNGV được bao hàm nhiều yếu tố như trình độ được đào tạo
của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên công tác trong tổ chức, nhận
thức chính trị, thái độ công dân
Là cách giải quyết vấn đề khó khăn. (Từ điển tiếng Việt), hay nói cách
khác, giải pháp là phương pháp giải quyết vấn đề cụ thể, khó khăn nào đó.
1.2.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV
Là phương pháp giải quyết những vấn đề cụ thể trong ĐNGV để nâng
cao chất lượng dạy học.
1.3. Một số vấn đề về chất lượng ĐNGV tin học ở trường THPT
1.3.1. Vị trí, vai trò của người giáo viên tin học THPT
Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục nước ta hiện nay là nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. ĐNGV là nhân tố quan trọng và chủ
yếu nhất quyết định chất lượng giáo dục – đào tạo vai trò chủ đạo trong quá
trình giáo dục đào tạo ở các nhà trường, các cơ sở giáo dục. Điều 14 Luật
Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo
chất lượng giáo dục”
ĐNGV tin học là người trực tiếp thực hiện các mục tiêu chiến lược của
nhà trường, các cơ sở đào tạo. ĐNGV tin học là nhân tố quyết định chất lượng
giáo dục. Đảng và nhà nước ta coi trọng ĐNGV và CBQL giáo dục là lực
lượng nồng cốt trong sự nghiệp giáo dục, là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng –