Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở huyện triệu sơn tỉnh thanh hóa - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ HỒNG HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ HỒNG HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH HUÂN
VINH - 2014
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo trong
Hội đồng Đào tạo Trường Đại học Vinh đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong
quá trình học tập, nghiên cứu.
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư, Tiến
sĩ Nguyễn Đình Huân đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trong quá trình hình
thành, xây dựng và hoàn chỉnh luận văn.
Tác giả xin cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh
Thanh Hóa, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Triệu Sơn, Hiệu trưởng, Phó

1.2.2. Học sinh giỏi, học sinh giỏi trung học cơ sở 22
1.2.3. Bồi dưỡng học sinh giỏi 23
1.2.4. Chất lượng, chất lượng giáo dục 24
1.3. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trung học cơ sở 31
1.3.1. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường
trung học cơ sở
31
1.3.2. Mục tiêu của việc bồi dưỡng học sinh giỏi 31
1.3.3. Yêu cầu về năng lực và phẩm chất của giáo viên trung học
cơ sở trong thời kỳ đổi mới
32
1.3.4. Đổi mới phương thức nhận dạng, phát hiện và tuyển chọn
học sinh giỏi
33
1.3.5. Nội dung, phương thức bồi dưỡng học sinh giỏi trung học 35
1.4. Một số vấn đề về quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở
trường trung học cơ sở
36
1.4.1. Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trung
học cơ sở
36
1.4.2. Quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trung học cơ sở
thông qua các hoạt động bổ trợ
37
1.4.3. Các yếu tố có tác động đến quản lý hoạt động bồi dưỡng
học sinh giỏi
38
4
Kết luận chương 1
41

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi trung
học cơ sở ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
57
2.4.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ
học sinh về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động bồi
dưỡng học sinh giỏi
57
2.4.2. Quản lý các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt
động bồi dưỡng học sinh giỏi
57
2.4.3. Quản lý kiểm tra, đánh giá 57
2.4.4. Quản lý việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã
hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
57
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở huyện Triệu Sơn
58
5
2.5.1. Thuận lợi
58
2.5.2. Khó khăn 59
2.5.3. Nguyên nhân 59
2.5.4. Bài học kinh nghiệm 60
Kết luận chương 2 60
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở,
huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
61
3.1. Một số nguyên tắc đề xuất giải pháp 61
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 61

3.3. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 93
3.3.1. Mục đích 93
3.3.2. Đối tượng khảo sát 93
3.3.3. Kết quả khảo sát 94
Kết luận chương 3 97
6
Kết luận và kiến nghị 98
1. Kết luận 98
2. Kiến nghị 99
2.1. Đối với bộ Giáo dục và Đào tạo 99
2.2. Đối với sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa 100
2.3. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo Triệu Sơn 100
2.4. Đối với cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp 101
2.5. Đối với Ban đại diện cha mẹ học sinh 102
2.6. Đối với Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở 102
2.7. Đối với giáo viên giảng dạy 102
7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
Ban chấp hành trung ương BCH TW
Bồi dưỡng học sinh giỏi BD HSG
Bồi dưỡng thường xuyên BDTX
Cán bộ quản lý CBQL
Cán bộ quản lý giáo dục CBQL GD
Cán bộ, giáo viên, nhân viên CB, GV, NV
Chất lượng giáo dục CLGD
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH
Cơ sở vật chất CSVC
Giáo dục GD
Giáo dục học sinh giỏi GD HSG

trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH). Thời kì đổi mới đất
nước đặt ra nhiều yêu cầu đối với giáo dục. Từ một nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN), mở cửa hội nhập, đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm thực hiện
thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, đã tạo ra nhiều biến đổi to lớn, nhanh chóng. Những biến đổi đó ảnh
hưởng trực tiếp đến sự nghiệp giáo dục, Nhà nước đầu tư nhiều hơn cho giáo
dục và tiến hành đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục, giáo dục đang thực sự
trở thành quốc sách hàng đầu.
Trong thời đại khoa học và công nghệ ngày nay, nhân lực có trình
độ cao không chỉ là tiền đề mà còn là yếu tố có tính quyết định cho sự
phát triển của một đất nước. Để tạo nguồn nhân lực có trình độ cao thì vấn
đề phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng người tài có vai trò quan trọng.
Xác định được vai trò quan trọng của người tài, Đảng và Nhà nước ta
đã có những chủ trương, chính sách để phát hiện và bồi dưỡng người giỏi.
Để góp phần thực hiện chủ trương đó, ngành giáo dục cần chú trọng nâng
cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ bậc học phổ thông. Các
nhà quản lý giáo dục, các nhà trường phải đề ra được những biện pháp quản
lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi để công tác này đạt kết quả cao nhất.
1
Luật giáo dục năm 2005 và Luật giáo dục sửa đổi năm 2009 ghi rõ:
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [32, tr.3].
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [32, tr.8].
Với quan điểm: giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ của toàn Đảng, của
Nhà nước và của nhân dân, Đảng ta đã coi giáo dục và đào tạo là quốc sách

những năm qua còn bộc lộ nhiều hạn chế. Cần phải tiếp tục nghiên cứu, tìm
biện pháp khắc phục cả về nhận thức lẫn hành động thực tiễn nhằm quản lý tốt
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, góp phần trực tiếp thực hiện thắng lợi các
chủ trương của Đảng, Nhà nước về nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Ở huyện Triệu Sơn, từ trước đến nay chưa có công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách có hệ thống, cả về lý luận và thực tiễn những giải pháp
quản lý bồi dưỡng học sinh giỏi để góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển ngành
giáo dục của huyện. Xuất phát từ tính cấp thiết đó, tác giả chọn đề tài: “Một
số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi ở các
trường trung học cơ sở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất giải pháp quản lý công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở huyện Triệu Sơn, tỉnh
Thanh Hóa.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường
trung học cơ sở, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở trên địa
bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa sẽ được phát triển nếu đề xuất được các
giải pháp quản lý nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi, có cơ sở khoa
học và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, đồng thời triển khai các giải pháp đó
một cách triệt để và đồng bộ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên mạng lưới, giáo viên cốt
cán, chuyên viên phòng Giáo dục và Đào tạo.
Tham khảo các loại sách, báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, có liên
quan đến nội dung đề tài.
Phương pháp chuyên gia: trao đổi, thỉnh thị ý kiến một số cán bộ lãnh
đạo và cán bộ quản lý giáo dục, chuyên gia về giáo dục.
Phương pháp phỏng vấn: trao đổi với một số cán bộ quản lý, giáo viên
cốt cán, cán bộ mạng lưới chuyên môn, chuyên viên,
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: nghiên cứu một số kế hoạch, báo
cáo sơ kết, tổng kết của một số trường trung học cơ sở ở huyện Triệu Sơn,
5
báo cáo kết quả học sinh giỏi của Phòng Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và
Đào tạo Thanh Hóa trong 3 năm học: 2011 - 2012, 2012 - 2013, 2013 - 2014.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Nhóm các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở.
Chương 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường
trung học cơ sở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng bồi dưỡng
học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

XX, học sinh giỏi đã trở thành một vấn đề của nước Mỹ với hàng loạt các tổ
chức và các trung tâm nghiên cứu ra đời. Năm 2002 có 38 bang của Hoa Kỳ
có đạo luật về giáo dục học sinh giỏi (GD HSG), trong đó 28 bang có thể đáp
ứng đầy đủ cho việc GD HSG.
Nước Anh thành lập cả một Viện hàn lâm quốc gia dành cho HSG, tài
năng trẻ và Hiệp hội quốc gia dành cho HSG, bên cạnh website hướng dẫn
giáo viên dạy cho HSG và học sinh tài năng (http://www.nc.uk.net/gt/).
Từ năm 2001 chính quyền New Zealand đã phê chuẩn kế hoạch phát
triển chiến lược HSG; Cộng hòa liên bang Đức có Hiệp hội dành cho HSG và
tài năng Đức.
Giáo dục phổ thông Hàn Quốc có một chương trình đặc biệt dành cho
HSG nhằm giúp chính quyền phát hiện học sinh tài năng từ rất sớm. Năm
1994 có khoảng 57/174 cơ sở GD ở Hàn Quốc tổ chức chương trình đặc biệt
dành cho HSG.
Từ năm 1985, Trung Quốc thừa nhận phải có một chương trình GD đặc
biệt dành cho hai loại đối tượng học sinh yếu, kém và HSG, trong đó cho
phép các HSG có thể học vượt lớp; một trong 15 mục tiêu ưu tiên của Viện
quốc gia nghiên cứu giáo dục và đào tạo Ấn Độ là phát hiện và bồi dưỡng HS
tài năng.
Có thể nói, hầu như tất cả các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và BD
HSG trong chiến lược phát triển chương trình GD phổ thông. Nhiều nước ghi
riêng thành một mục dành cho HSG, một số nước coi đó là một dạng của giáo
dục đặc biệt hoặc chương trình đặc biệt.
8
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt nam ta thấy từ đời xưa ông cha ta đã rất
coi trọng, chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và đã đúc rút thành một
kinh nghiệm quý báu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đến thăm Văn miếu
Quốc Tử Giám chúng ta thấy trên văn bia còn ghi: “Các bậc hiền nhân là yếu
tố cốt tử đối với một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước tăng tiến

nhưng sự nghiệp giáo dục của dân tộc vẫn không ngừng phát triển.
Chúng ta đã biết phát huy được lực lượng toàn xã hội quan tâm đầu tư
bồi dưỡng nhân tài để tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục ngay trong
những điều kiện khó khăn nhất.
Đất nước thống nhất, chúng ta có điều kiện thuận lợi để phát triển sự
nghiệp giáo dục. Trong giai đoạn này, sự nghiệp giáo dục Việt Nam cũng đạt
được những kết quả nhất định, thống nhất hệ thống giáo dục cả hai miền Nam
- Bắc. Song, với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền giáo dục trong thời
gian này đã không khai thác triệt để bài học quý giá đó. Thay vì thực hiện “Sự
quản lý giáo dục của Nhà nước”, chúng ta đã “Nhà nước hóa giáo dục”, ngành
giáo dục bị bó hẹp, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội. Do đó,
cơ sở vật chất cho giáo dục xuống cấp và lạc hậu, động lực của người học và
người dạy bị giảm sút, sự phát triển của giáo dục cả về số lượng và chất lượng
đều không đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) thành công, đất nước bước vào
thời kỳ đổi mới, sự nghiệp giáo dục đã dần được quan tâm đúng mức, có bước
chuyển mình tích cực, hướng tới sự phát triển thuận lợi. Đường lối đổi mới đất
nước đã tạo điều kiện cho sự đổi mới trong tư duy giáo dục. Giáo dục đứng
trước thử thách phải phát triển lên một trình độ mới để đáp ứng yêu cầu phát
triển toàn diện của đất nước. Bài học lịch sử của sự phát triển giáo dục được khơi
dậy và nâng lên tầm tư duy mới. Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương
(BCH TW) Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo
(GD&ĐT) đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nền
10
giáo dục Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Hội nghị toàn thể BCH TW Đảng thảo
luận và ra Nghị quyết về sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
1.1.2.1. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ ở nước ta hiện nay
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, với sự
phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ
thông tin và truyền thông; với sự phổ biến của Internet và sự tiến nhanh đến

tài, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút, trọng dụng nhân tài. Chẳng hạn, thành
phố Hà Nội đã thông qua: “Quy định tạm thời về ưu đãi, khuyến khích các
nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, người có cống hiến cho sự nghiệp
xây dựng và phát triển Thủ đô” và “Quy định tạm thời về thu hút, sử dụng,
đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao”. Thành phố
Đà Nẵng, tỉnh Bình Dương đã ban hành quy định chính sách đào tạo, thu hút
nguồn nhân lực trình độ cao về công tác tại địa phương. Thành phố Hồ Chí
Minh có chương trình đầu tư lớn cho “Vườn ươm tài năng”, …
Mặt khác, để đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao, nhất là
cán bộ khoa học công nghệ phục vụ các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, trọng
điểm, Chính phủ đã phê duyệt và bắt đầu thực hiện đề án cử người đi học
nước ngoài bằng ngân sách nhà nước từ năm 2000. Bộ GD&ĐT đã phối hợp
với các bộ, ban, ngành liên quan tuyển chọn được trên 1.000 lưu học sinh và
thực tập sinh. Các chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao đã và đang
được triển khai thực hiện có hiệu quả ở các Đại học Quốc gia, Đại học vùng
và một số Trường Đại học trọng điểm trong cả nước. Đây là một mô hình đào
tạo tiên tiến, phù hợp với điều kiện Việt Nam để đào tạo, bồi dưỡng và phát
triển tài năng. Nhiều Trường Đại học đã xây dựng quỹ khuyến khích tài năng,
kêu gọi tài trợ của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội, tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho sinh viên phấn đấu, trưởng thành. Nhiều sinh viên, học viên,
nghiên cứu sinh đã tập trung thời gian, tâm huyết, trí tuệ vươn lên đạt nhiều
thành tích xuất sắc trong học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học.
12
Tuy nhiên, công tác phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo tài năng trẻ ở nước
ta còn nhiều bất cập. Trong một thời gian dài mạng lưới các trường chuyên,
lớp chọn phát triển tràn lan, tự phát, bộc lộ nhiều khiếm khuyết cả về nội
dung, chương trình và phương pháp giáo dục, quản lý, tuyển sinh, … công tác
bồi dưỡng tài năng ở bậc đại học và sau đại học, giai đoạn quan trọng nhất
trong đào tạo trình độ nghề nghiệp, chưa rõ nét. Chưa có phương thức tích
cực và chủ động để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng sinh viên xuất sắc ngay từ

năng trẻ.
Bốn là, tập trung xây dựng một số Trường Đại học trọng điểm quốc gia
ngang tầm khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế. Các trường này phải thực sự
là vườn ươm đào tạo nhân tài cho đất nước. Đồng thời, sắp xếp lại và phát
huy hơn nữa vai trò của các viện nghiên cứu khoa học của Chính phủ và các
Liên hiệp hội trong đào tạo, thực hiện kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa
học.
Năm là, quan tâm tổng kết thực tiễn, kịp thời rút ra những bài học kinh
nghiệm về thực thi chính sách tài năng trẻ. Tiến hành xây dựng và tổ chức
thực hiện các phương án điều tra chọn mẫu, tiến tới tổng điều tra về tài năng trẻ
của quốc gia. Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học về nhân
tài, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng tài năng trẻ.
Sáu là, tạo cơ chế, chính sách khuyến khích toàn xã hội tham gia vào việc
phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ. Xã hội hóa công tác bồi dưỡng và
phát triển tài năng trẻ. Phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính
trị; giữa gia đình, nhà trường, xã hội tạo quy trình hợp lý để phát hiện, bồi
dưỡng, giúp đỡ và phát huy tài năng trẻ.
Bảy là, tạo cơ chế, chính sách thu hút nhân tài là người Việt Nam đang
sinh sống, làm việc ở nước ngoài về nước góp sức xây dựng tổ quốc và tham
gia đào tạo nhân tài. Cho phép trí thức giỏi của Việt Nam có điều kiện thường
xuyên giao lưu, học hỏi, làm việc với các tổ chức quốc tế trong và ngoài
14
nước. Có chính sách ưu đãi đối với các học sinh tài năng Việt Nam được du
học nước ngoài bằng nhiều nguồn vốn. Đồng thời ưu tiên phân công công tác
cho những người tu nghiệp ở nước ngoài đạt kết quả cao, nhất là những ngành
trong nước còn thiếu cán bộ khoa học tài năng.
Tóm lại, nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng tài năng trẻ ở
nước ta hiện nay đang là một đòi hỏi bức thiết, một trách nhiệm nặng nề
và vinh dự lớn lao đối với các trường đại học, trung học nói riêng và toàn
ngành GD&ĐT nói chung. Tất cả vì sự nghiệp xây dựng và phát triển

yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích
của nhóm” [28, tr.33].
Frederics William Taylor, người Mỹ cho rằng: Quản lý là nghệ thuật
biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái gì đó như thế nào, bằng
phương pháp tốt nhất, rẻ nhất. H. Fayol (1886 - 1925), là người đầu tiên tiếp
cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử
tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận - hiện đại tới nay, quan niệm rằng: Quản lý
hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm
tra. C. Mác cũng đã khẳng định: “Mọi người lao động trực tiếp trong xã hội
hoặc chung thực hiện trên quy mô tương đối lớn, ở mức độ ít hay nhiều đều
cần đến quản lý” [17, tr.34]; PGS.TS. Đặng Quốc Bảo quan niệm rằng: “Quản
lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. Quản là coi sóc,
giữ gìn nhằm ổn định hệ thống. Lý là thanh lý, xử lý, biện lý, sửa sang, chỉnh
đốn nhằm làm cho hệ thống phát triển.
Hệ thống ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái.
Hệ thống phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
Như vậy: quản lý = ổn định + phát triển.
16
Trong “quản lý” phải có mầm mống của “lý” và trong “lý” phải có hạt
nhân của “quản”. Điều này tạo ra mối quan hệ hiện thực: ổn định đi tới sự
phát triển, phát triển trong thế ổn định” [1, tr.176].
Quản lý là: “Hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)
trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức” [2, tr.326].
Kế thừa những nhân tố hợp lý của các cách tiếp cận và quan niệm về
quản lý trong lịch sử tư tưởng quản lý, có thể đưa ra khái niệm về quản lý như
sau: quản lý là tổng hợp sự tác động có ý thức, có định hướng, có chủ đích,
bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để
phối hợp các nguồn lực, nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status