Nghệ An, năm 2014 2
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC TẬP
Ở TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đình Phương Nghệ An, năm 2014 3
Lời cảm ơn
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu với sự nổ lực, cố gắng của bản thân và
sự chỉ bảo tận tình của quý thầy, cô giáo và các nhà quản lý giáo dục. Với tình cảm
kính trọng và chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy trong Ban
giám hiệu nhà trường; quý thầy, cô ở Phòng đào tạo sau Đại học của trường Đại học
Vinh và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Đặc biệt là cảm ơn thầy PGS. TS Ngô Đình Phương đã trực tiếp hướng dẫn
4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Mục đích nghiên cứu 10
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11
4. Giả thuyết khoa học 11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 11
6. Phương pháp nghiên cứu 11
7. Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 12
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 15
1.2.1. Khái niệm XHHT 15
1.2.2. Xã hội hoá và xã hội hoá giáo dục 17
1.2.3. Phát triển 20
1.2.4. Phát triển XHHT 20
1.2.5. Giải pháp và giải pháp phát triển xã hội học tập 20
1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT
23
1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng XHHT 23
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT 25
Kết luận Chương 1 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC TẬP Ở TỈNH TIỀN
GIANG 28
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, KT-XH và tình hình giáo dục của tỉnh Tiền
Giang 28
3.2.3. Tổ chức huy động toàn xã hội cùng chăm lo phát triển giáo dục 65
3.2.4. Đa dạng hóa các hình thức và phương tiện học tập 68
3.2.5. Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các TTHTCĐ nhằm kết hợp tốt với
Trung tâm GDTX, trường trung cấp KTKT, trường nghề 72
3.2.6. Xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, khóm ấp khuyến học
76
3.3. Khảo sát sự cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất 80
3.3.1. Khảo sát nhận thức về các giải pháp xây dựng XHHT ở tỉnh Tiền Giang
80
3.3.2. Khảo sát về tầm quan trọng của 6 nhóm giải pháp xây dựng XHHT nếu
được áp dụng ở tỉnh Tiền Giang 81
3.3.2. Kết quả thăm dò tính khả thi của 5 nhóm giải pháp xây dựng XHHT nếu
được áp dụng ở tỉnh Tiền Giang 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1. Kết luận 84
2. Kiến nghị 84
CÁC PHỤ LỤC 87 6
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BCH
:
Kinh tế kỹ thuật
KT-XH
:
Kinh tế - xã hội.
NCL
:
Ngoài công lập.
PCGD
:
Phổ cập giáo dục.
PCGDTH
:
Phổ cập giáo dục tiểu học
PCGDTHCS
:
Phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
THCS
:
Trung học cơ sở.
THPT
:
Trung học phổ thông.
TTGDTX
:
Trung tâm iáo dục thường xuyên
TTGDTX-HN
:
Trung tâm giáo dục thường xuyên-hướng nghiệp
TTHTCĐ
:
người, thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của cá nhân, phù hợp với trụ cột của giáo dục thế
kỷ 21 “học để học cách học, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định
mình”. Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập là một chủ trương quan trọng,
một cuộc vận động cách mạng to lớn, của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, vừa có
tính cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài phù hợp với xu thế của thời đại khi giáo dục - đào
tạo đã trở thành yếu tố quyết định tương lai của mỗi dân tộc, quốc sách hàng đầu của
mỗi quốc gia. Xã hội học tập là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Xã hội học tập sẽ tạo
thế và lực nội sinh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế trong quá trình thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước. Trong xã hội tri thức, những điều vừa học được có nguy cơ lạc hậu, cần phải
được bổ sung. Từ đó xuất hiện khái niệm Học suốt đời. Nền kinh tế tri thức bắt buộc
mọi người phải có kiến thức đáp ứng được nhu cầu của nó, nên ai cũng phải học, do
vậy khái niệm xã hội học tập ra đời thay cho khái niệm xã hội công nghiệp. Trong xã
hội học tập, không phải ai cũng được đến trường, người học trở thành người tự
học. Năng lực học tập, lòng ham hiểu biết trở thành kho báu nội tại của mỗi con
người trong xã hội mới.
Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2001) tại điều 35 đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu”. Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 cũng đã khẳng định: “Phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài”. Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
một lần nữa khẳng định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao
dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài".
Trong những năm qua, ngành GD&ĐT cả nước đã có những bước phát triển
mới, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc mở rộng quy mô, tăng cơ hội tiếp
cận giáo dục cho mọi người và tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
8
Tuy vậy, trước những yêu cầu tăng về quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục và
“Trong
xã hội học tập, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng
mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày
càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp
phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại. Các cơ quan nhà nước, các tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình
có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người
được học tập suốt đời. Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng
thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và GDTX; đẩy mạnh các hoạt
9
động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người
dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi”.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tiền Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 2010
– 2015 đã khẳng định: “Đổi mới, phát triển mạnh mẽ GD&ĐT, khoa học và công
nghệ, chủ động bảo vệ môi trường, hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu, xây dựng
xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời”.
1.2. Về mặt thực tiễn:
Hiện nay, nâng cao dân trí là một yêu cầu bức thiết mang một ý nghĩa chiến
lược về phát triển nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhất là
trong điều kiện khoa học - công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và
công cuộc công nghiệp hóa đang chuyển dần qua nền kinh tế tri thức mà cốt lõi là
đội ngũ công nhân trí thức có trình độ chuyên môn cao. Lịch sử phát triển của nhiều
nước trên thế giới đã cho chúng ta thấy rằng, tất cả các nước có nền kinh tế hùng
mạnh, có khoa học - công nghệ phát triển đều là những nước có nền giáo dục -
đào tạo tiên tiến, luôn xem phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo là nhiệm vụ chiến
lược hàng đầu của quốc gia mình. Giáo dục - đào tạo và phát triển kinh tế - xã hội
ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, giáo dục - đào tạo cũng đồng thời gắn bó hữu
cơ với khoa học - công nghệ. Chính điều đó đã đặt giáo dục đứng ở vị trí trung tâm
của sự phát triển. Giáo dục có sứ mạng giúp mọi người phát huy tất cả tài năng và
Vấn đề xây dựng xã hội học tập ở Tiền Giang là một vấn đề có ý nghĩa quyết
định và cấp bách đối với đòi hỏi CNH, HĐH của đất nước và của tỉnh Tiền Giang.
Đây là một vấn đề lớn, phức tạp đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu khoa học với
phương pháp tiếp cận hệ thống trên cơ sở phân tích thực trạng và định hướng xây
dựng mô hình xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang. Trên cơ sở hệ thống giáo dục mở, từ
đó sẽ khắc phục dần sự phân biệt truyền thống giữa giáo dục ban đầu với GDTX,
khắc phục quan niệm cổ truyền về tuổi đi học và tuổi lao động trong đời người, khắc
phục cách hiểu cứng nhắc và tạo ra một hàng rào phân cách giữa giáo dục hàn lâm
và giáo dục nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều và chưa có
những nghiên cứu sâu về giải pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang. Các
hoạt động xây dựng xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang trong những năm qua tuy được
quan tâm, nhưng trong triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn do đây là vấn đề vừa
mới, vừa khó và hiệu quả mang lại chưa cao, mặt bằng dân trí dù được cải thiện
nhưng vẫn còn ở mức thấp. Trong những năm gần đây chỉ có duy nhất một công
trình nghiên cứu về mô hình xã hội học tập tại tỉnh Tiền Giang, đó là: Đề tài khoa
học cấp tỉnh “Xây dựng mô hình xã hội học tập giai đoạn 2006 – 2015” của Hội
khuyến học tỉnh Tiền Giang.
Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi chọn đề tài luận văn “Một số giải
pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang với mong muốn thông qua việc
định hướng phát triển mô hình về xã hội học tập trên địa bàn Tiền Giang sẽ có điều
kiện để tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về ý thức học tập, học suốt đời, qua đó
huy động mọi nguồn lực hình thành và xây dựng xã hội học tập.
2. Mục đích nghiên cứu
11
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp
phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản
và toàn diện GD&ĐT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Chương 2: Vấn đề phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang .
7.3. Kết luận và kiến nghị 12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Xây dựng XHHT đã trở thành một trào lưu của thế giới khi bước vào thế kỷ
XXI. Trong kế hoạch phát triển giáo dục của nhiều nước như Mỹ, Canada, Nga,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều coi XHHT như “mô hình của giáo dục
trong một xã hội đang thay đổi”. Singapore đề ra: “Nhà trường tư duy, quốc gia học
tập”. Mục tiêu giáo dục của Thái Lan trong kỷ nguyên toàn cầu hoá là xây dựng
XHHT… Đài Loan cũng đưa ra chính sách “Tiến tới xây dựng XHHT”, công bố
năm 1998 là “năm học tập suốt đời cho mọi người”.
Thật ra, vấn đề xây dựng XHHT trên thế giới bắt đầu được nghiên cứu từ
những thập niên 60 của thế kỷ trước. Đônanson là người đầu tiên đã đưa ra ý tưởng
cho rằng, xã hội trong tương lai sẽ có nhiều biến đổi rất nhanh chóng, do đó nhu cầu
học tập sẽ tăng lên hơn nhiều. Con người cần phải học để hiểu, để tác động, để điều
hành các biến đổi đó. Năng lực học tập phải trở thành một thuộc tính bản chất của
mỗi người, ai cũng phải biết học suốt đời một cách thành thục. Từ đó theo
Đônanson, các công ty, các phong trào xã hội và chính quyền đều phải là các “hệ
thống học tập”.
Năm 1972, Etga Phô viết cuốn “Học để tồn tại”. Trong cuốn sách này, tác
giả đã nhấn mạnh “nếu học tập là việc động chạm đến suốt đời của con người, cả
theo nghĩa thời gian, cả theo nghĩa đa dạng và đối với mọi người trong xã hội, kể cả
các nguồn lực xã hội, kinh tế và giáo dục, khi đó chúng ta phải đi xa hơn việc tháo
dỡ tất cả các hệ thống giáo dục cho đến lúc nào đạt được tình trạng của một XHHT”.
tiến bộ đã đạt được kể từ sau Diễn đàn ở Jomtien, đồng thời khẳng định một lần nữa
tầm nhìn về Giáo dục cho mọi người đến năm 2015. Các mục tiêu đề ra tại Diễn đàn
Dakar gồm 6 nhóm chính:
- Mở rộng chăm sóc và giáo dục mầm non;
- Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đến năm 2015;
- Tăng cường hiểu biết và kỹ năng sống cho thanh niên và người lớn;
- Đạt mức 50% tỷ lệ biết đọc, biết viết của người lớn vào năm 2015;
- Đạt cân bằng giới vào năm 2005 và bình đẳng giới vào năm 2015;
- Cải thiện chất lượng giáo dục.
Sau đó 3 tháng, tại hội nghị G8, họp ở Ôkinawa, Nhật Bản, tháng 7/2000,
nguyên thủ của các nước này đã cho rằng: “Sự thách thức đối với mỗi nước là phải
trở thành một XHHT và phải đảm bảo cho công dân của mình được trang bị kiến
thức, kỹ năng và tay nghề cho thế kỷ mới”. Tại Hội nghị của UNESCO họp ở
Giơnevơ tháng 12/2003 đã gắn XHHT với xã hội thông tin, xã hội tri thức. Từ đó
các đại biểu dự hội nghị đã đi tới thống nhất XHHT, xã hội tri thức, xã hội thông tin
đều đặt ra con người vào vị trí trung tâm, đều tập trung vào con người, tạo điều kiện
cho con người phát triển bền vững và là điều kiện của mọi sự phát triển của kinh tế
xã hội.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm hướng tới
các mục tiêu Giáo dục cho mọi người đã cam kết ở Dakar và đạt được một số thành
14
tựu sau: Giáo dục mầm non đã có những chuyển hướng quan trọng trong việc hình
thành mạng lưới giáo dục mầm non trong cả nước trên tinh thần Quyết định 161/QĐ-
TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Đề án phát triển Giáo dục cho mọi
người giai đoạn 2006 - 2015 để thực hiện Quyết định 161QĐ-TTg đã được Chính
phủ thông qua tại phiên họp tháng 11/2005. Về giáo dục tiểu học, đã có 45 tỉnh,
thành đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đạt 71,43% số tỉnh, thành của cả
nước; Về giáo dục trung học cơ sở, đã có 46 tỉnh, thành đạt chuẩn phổ cập trung học
15
Ngoài ra, còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về xây dựng XHHT ở các
địa phương. Các nghiên cứu trong một số luận văn trên đã đề cập đến thực trạng nhận
thức về XHHT và đề xuất các giải pháp xây dựng XHHT ở các địa phương.
Riêng ở tỉnh Tiền Giang, ngoài những văn bản có tính chất chủ trương,
đường lối của Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, Sở GD&ĐT…, thì những năm gần
đây hầu như chỉ có duy nhất một công trình nghiên cứu về mô hình xã hội học tập tại
tỉnh Tiền Giang đó là: Đề tài khoa học cấp tỉnh “Xây dựng mô hình xã hội học tập
giai đoạn 2006 – 2015” của Hội khuyến học tỉnh Tiền Giang. Ngoài ra chưa có tác
giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Khái niệm XHHT
Khái niệm XHHT lần đầu tiên xuất hiện trong bản báo cáo: “Học để làm
người” trình UNESCO năm 1975 của “Hội đồng Quốc tế về phát triển giáo dục” do
ông Edgare Fause, nguyên Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Pháp, làm chủ tịch
trình bày. Trong bản báo cáo này, Hội đồng cho rằng, hướng về tương lai thay cho
các cuộc cải cách “từng mảng” này cần phải tư duy lại và tập trung vào hai khái
niệm gắn bó với nhau là “GDTX” và “XHHT”.
Bước vào thế kỷ XXI, xây dựng XHHT đã trở thành một trào lưu của thế
giới. Tổ chức các nước trong Hội đồng kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)
họp tháng 4/2000, Hội nghị thượng đỉnh G8 họp tháng 7/2000, đều có lời kêu gọi
các nước xây dựng XHHT trên quan điểm học tập suốt đời, đảm bảo cho công dân
của mình được trang bị kiến thức, kỹ năng và tay nghề cần cho thế kỷ mới.
Theo các quan chức của UNESCO, XHHT có những đặc trưng nổi bật :
- Mọi người đều được học tập, học thường xuyên, học suốt đời.
- Toàn bộ môi trường xung quanh đều có thể tạo ra cơ hội học tập và phát
huy tài năng của mỗi người.
- Con người được tiếp nhận trình độ giáo dục cơ bản để học tập và tự hoàn
thiện.
Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định “Xây
dựng nền giáo dục của dân, do dân, vì dân, ðảm bảo công bằng về cõ hội học tập
cho mọi ngýời tạo ðiều kiện ðể toàn xã hội học tập và học tập suốt đời"
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “XHHT là một xã hội mọi người đều lấy học
tập làm một công việc thường xuyên, suốt đời, học trong nhà trường và ngoài nhà
trường, chính quy và không chính quy, như là một phần không thể thiếu được của
đời mình, lấy học tập làm phương pháp tiếp cận (cách nhìn, cách xử lý) của cuộc
sống nhằm phát triển con người bền vững - động lực cho toàn bộ sự tiến bộ xă hội”.
Tác giả Phạm Tất Dong đưa ra quan điểm: “Trong xã hội học tập, mỗi con
người phải được GDTX, đào tạo liên tục, học tập suốt đời, lấy sự học hỏi làm lẽ sống
của mình. Mỗi người đều có cơ hội học tập, học ở trường, học tập trong đời sống
kinh tế, xã hội, văn hóa, do đó, hệ thống giáo dục không chỉ bó hẹp trong các hình
thức học ngoài nhà trường. Đó là hệ thống giáo dục mềm dẻo, tạo ra sự đa dạng của các
ngành học, của các hình thức học về các kênh liên thông giữa các hình thức giáo dục khác
nhau”17
Theo tác giả Đoàn Minh Tuấn, hiểu nột cách đơn giản: “Xã hội học tập là
một xã hội mà ở đó việc học tập trở thành một nhu cầu tự nhiên và trở thành nếp
cảm, nếp nghĩ của cộng đồng dân cư trong xã hội”.
Tác giả Nguyễn Như Ất quan niệm: “vấn đề xây dựng xã hội học tập sau thế
kỷ XX là vấn đề nóng hổi của giáo dục toàn cầu, tuy cho đến nay khái niệm xã hội
học tập vẫn chưa đi đến thống nhất nhưng như thế vẫn không cản trở con đường
nhiều nước đi tìm để thiết lập mô hình xã hội học tập trong thực tiễn”.
Theo quan điểm của tác giả Vũ Oanh, XHHT là “một xã hội vì người học,
của người học, do người học, lấy người học và việc học suốt đời làm trung tâm”.
Tác giả Nguyễn Viết Sự lại xem xét khái niệm XHHT từ các tiêu chí của nó.
Theo tác giả, XHHT là một xã hội trong đó:
chủ nghĩa, thì thuật ngữ xã hội hóa được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện,
trong các hội nghị, hội thảo…
Nhiều công trình nghiên cứu về XHH đều nhận định: “Bản chất của xã hội
hóa là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường
giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội;
tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống
nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự là của dân, do
dân và vì dân”.
Xã hội hóa không phải là buông lỏng sự quản lý hoặc từ bỏ chức năng quản
lý thống nhất của Nhà nước mà thực chất là tăng cường sự quản lý của Nhà nước
bằng pháp luật.
Xã hội hóa gắn liền với mở rộng dân chủ, khắc phục dần tính thụ động, thờ
ơ, phó mặc cho Nhà nước.
Xã hội hóa là làm sao phải thu hút mọi tổ chức trong xã hội, mọi thành phần
kinh tế tham gia thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước.
Tất cả những đặc điểm trên thể hiện khá đầy đủ về nội dung, vai trò cũng
như ý nghĩa của hoạt động xã hội hóa.
1.2.2.2. Xã hội hoá giáo dục.
Qua nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn hoạt động giáo dục, cho
thấy có sự khác biệt rõ ràng về ý nghĩa tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa
công tác giáo dục. Thực tế nếu tự thân vận động, giáo dục dù không có định hướng
cụ thể rõ ràng vẫn thể hiện tính chất xã hội nhưng không đạt đến trình độ XHH đích
thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó. Cần phân biệt XHHGD và xã hội hóa
công tác giáo dục.
Xã hội hóa giáo dục là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động
giáo dục và cộng đồng xã hội, là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã
hội, thích ứng với xã hội. Xã hội hóa công tác giáo dục là duy trì sự cân bằng giữa
hoạt động giáo dục và xã hội.
Xã hội hóa giáo dục là cách nói gọn của XHHCTGD với nội hàm là phương
thức, cách thức, phương châm, cách làm giáo dục, tổ chức và quản lý giáo dục. Đảng
hóa”. Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học. Đề cao
trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội. Chuyển dần mô hình giáo dục hiện
nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt
đời”.
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản
pháp quy và tổ chức thực hiện rộng rãi chủ trương XHHGD và XHHGD phải được
hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xă hội tham gia vào giáo
dục, làm cho hoạt động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xă hội.
20
Xã hội hóa giáo dục, theo chúng tôi phải được hiểu trên phương diện rộng là
toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, làm cho hoạt
động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xã hội.
1.2.3. Phát triển
Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát
triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ…, theo
nghĩa thông thường “phát triển” được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo
chiều hướng tích cực, tiến lên.
Từ điển Tiếng Việt đã giải thích khái niệm “phát triển” như sau: “biến đổi
hoặc làm cho biến đổi, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến
phức tạp”. Phát triển là mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh. Phát triển là
khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến
cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
1.2.4. Phát triển XHHT
Phát triển XHHT là nhằm hình thành một xã hội thực hiện tốt sự gắn kết
chặt chẽ giữa học tập ban đầu trong các nhà trường với học tập suốt đời bên ngoài
nhà trường, giữa giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội, mọi người có nhu cầu đều
được học tập thường xuyên, suốt đời, học gắn với hành, được tri thức hoá, ai cũng
được phát huy mọi tiềm năng của mình. Phát triển XHHT còn là nhằm tạo ra một
môi trường giáo dục, trong đó mọi người đều được cung cấp cơ hội học tập, với thiết
quan trọng, vừa là mục tiêu, động lực và giải pháp để phát triển giáo dục – đào tạo
bền vững, tiến tới một xã hội văn minh, tiến bộ.
Thông thường các giải pháp phát triển XHHT phải đảm bảo thực hiện cho
được các chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá quá trình xây
dựng và phát triển XHHT.
a. Định hướng phát triển XHHT ở nước ta.
Trong quá trình phát triển XHHT ở nước ta cần xuất phát từ các định hướng
sau đây:
Phát triển XHHT là con đường sáng tạo của nhân dân ta nhằm “phát triển
mọi tiềm năng có sẵn ở mỗi con người Việt Nam”, phát huy nội lực của người học
bằng tự học, tự rèn luyện, tự lập thân, lập nghiệp; khai thác và phát triển những tiềm
năng của xã hội nói chung của ngành giáo dục nói riêng để phát triển giáo dục.
Phát triển XHHT ở Việt Nam là nhằm thực hiện có hiệu quả các chương
trình mục tiêu giáo dục đến năm 2020 là duy trì một cách bền vững kết quả chống
mù chữ, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS, tạo tiền đề để phổ cập trung
học ở giai đoạn tiếp theo, phát triển mạnh mẽ đào tạo nghề, trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, nâng cao chất lượng, và hiện đại hoá giáo
dục, củng cố hệ thống công lập, đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng, nâng cao chất
lượng giáo dục “không chính quy”, giáo dục “ngoài công lập”, giáo dục từ xa, khu
vực nông thôn, nông nghiệp, vùng dân tộc ít người, tăng cường chỉ đạo mở rộng
phong trào tự học và đào tạo nhân lực đại trà, coi trọng đào tạo tinh hoa, bồi dưỡng,
phát triển nhân tài.
Phát triển XHHT dựa trên đường lối phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn
dân tộc, theo phương thức xã hội hoá giáo dục kết hợp với vai trò chủ đạo của Nhà
nước, phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc, kế thừa và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách.
22
- Mạnh dạn đổi mới cơ chế quản lý giáo dục hiện nay theo hướng phân cấp
mạnh để tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho địa phương và các cơ sở
cùng chung sống với nhau, biết tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, biết thích nghi
với những thay đổi về việc làm, biết tự tạo việc làm, biết tự rèn luyện đạo đức, thể
lực…
23
Có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, học ở mọi người, mọi việc, trong lao động,
giao tiếp, giải trí, học bằng nhiều cách. Mọi người học tập lẫn nhau và giúp nhau học
tập.
Mở rộng cơ chế để mọi người đều hiểu biết và có trách nhiệm, nghĩa vụ học
tập và góp phần xây dựng và phát triển XHHT. Huy động mọi tiềm năng trí tuệ, tài
lực, vật lực trong toàn xă hội, tạo ra nhiều nguồn lực đa dạng để vừa phát triển giáo
dục đào tạo trong các trường học, vừa tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức nhiều hình thức
giáo dục mới, đa dạng bên ngoài nhà trường để xây dựng phong trào học tập và môi
trường giáo dục lành mạnh trong toàn xã hội, hướng tới XHHT. Những hoạt động
này có thể gọi tắt là “khuyến học” với ý nghĩa là khuyến khích hỗ trợ, tạo điều kiện
cho việc học, tự học.
1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
XHHT
1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng XHHT
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục,
giúp cho nhiều người có cơ hội học tập, thu hút ngày càng nhiều người tham gia xây
dựng giáo dục, hướng tới một XHHT như đã nêu ở Nghị quyết Trung ương 4 (khoá
VII), Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII). Luật Giáo dục thể hiện rất rõ ràng: “
GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện
nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để
cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời
sống xã hội. Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi
người, xây dựng xã hội học tập”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát huy nguồn lực
trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục- đào tạo,
Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã
hội học tập đã tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo của Đảng là : “ Đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân với nhiều hình thức phong phú,
thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội
học tập ở nước ta hiện nay; xác định xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân, là một mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển
giáo dục của nước ta” và “ Cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng
xã hội học tập trong từng địa phương, đơn vị. Trước mắt rà soát, bổ sung nội dung
kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong “ Đề án xây dựng xã hội học tập
giai đoạn 2005-2010” mà Chính phủ đã ban hành. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc,
kiểm tra, chỉ đạo giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
hiện”.
Xây dựng cả nước trở thành XHHT được dựa trên nền tảng phát triển đồng
thời, gắn kết, liên thông cả hai bộ phận cấu thành: giáo dục chính quy và giáo dục
không thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó GDTX thực hiện các
chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập
suốt đời, học liên tục của mọi công dân, sẽ là một bộ phận có chức năng quan trọng,
làm tiền đề để xây dựng XHHT. 25
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng XHHT chỉ mới đặt ra cách đây không lâu, tuy
nhiên XHHT đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ khi thành lập nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa. Mặc dù Bác không nói tới XHHT, nhưng tư tưởng
“giáo dục cho mọi người” và “mọi người cho giáo dục” đã được thể hiện rõ qua việc
làm, qua các bài phát biểu, các bài nói chuyện của Người.
Tư tưởng “giáo dục cho mọi người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Ngay trong phiên họp đầu tiên (ngày 3-9-1945) của Chính phủ, Chủ tịch Hồ