Một số giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện hưng nguyên tỉnh nghệ an - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
***
TRƯƠNG LÊ THUỲ LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN
HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
***
TRƯƠNG LÊ THUỲ LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN
HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Nguyễn Bá Minh
NGHỆ AN – 2014
LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu và công tác của bản
thân cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, chu đáo của các thầy cô giáo, các
cơ quan, ban ngành có liên quan. Bằng tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu
sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới:
- Hội đồng khoa học chuyên ngành Quản lý giáo dục, phòng đào tạo sau đại
học Trường đại học Vinh, các thầy cô giáo đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện động
viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

8. Cấu trúc của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức 8
1.2.2. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 13
1.2.3. Quản lý giáo dục đạo đức 16
1.2.4. Giải pháp quản lý giáo dục đạo đức 16
1.2.5. Chất lượng và chất lượng giáo dục đạo đức
17
1.3. Giáo dục đạo đức học sinh THPT 20
1.3.1. Đặc điểm của học sinh trong trường THPT 20
1.3.2. Vai trò giáo dục đạo đức trong trường THPT 22
1.3.3. Mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đạo đức trong trường THPT 23
1.3.4. Nội dung giáo dục đạo đức trong trường THPT 25
1.3.5. Phương pháp giáo dục đạo đức trong trường THPT 26
1.4. Công tác quản lý giáo dục đạo đức trong trường THPT 27
1.4.1. Mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ trong trường THPT 27
1.4.2. Nội dung và phương pháp quản lý công tác GDĐĐ 27
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GDĐĐ 30
1.5. Cơ sở pháp lý của công tác quản lý hoạt động GDĐĐ
32
1.5.1. Định hướng về giáo dục thế hệ trẻ và giáo dục đạo đức học sinh 32
1.5.2. Các chủ trương, chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo 34
1.5.3. Kế hoạch phát triển GD tỉnh Nghệ An và huyện Hưng Nguyên 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN.
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, giáo dục đạo đức cho học sinh

3.2.4. Xây dựng tập thể học sinh tự quản tốt 79
3.2.5. Đa dạng hoá các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 82
3.2.6. Cụ thể hoá công tác thi đua của các tập thể và chuẩn hoá
84
3.2.7. Tổ chức, phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường-Gia đình-Xã hội
88
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp 91
3.4. Khảo nghiệm về sự cần thiết và khả thi của các giải pháp đã đề xuất 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận 97
2. Kiến nghị, đề xuất 98
2.1. Với Bộ giáo dục và Đào tạo 98
2.2. Với Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An 98
2.3. Với các trường THPT 99
2.4. Đối với gia đình học sinh 99
2.5. Đối với Xã hội 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ATGT An toàn giao thông
BCH Ban chấp hành
BGH Ban giám hiệu
CB Cán bộ
CBQL Cán bộ quản lý
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTT Công nghệ thông tin
CSVC Cơ sở vật chất
GDCD Giáo dục công dân
GDĐĐ Giáo dục đạo đức
GD-ĐT Giáo dục đào tạo
GV Giáo viên

Bảng 2.17: Các biện pháp GDĐĐ học sinh
Bảng 2.18: Nhận thức về quản lý công tác GDĐĐ
Bảng 2.19: Các kế hoạch GDĐĐ
Bảng 2.20: Các hình thức quản lý GDĐĐ
Bảng 2.21: Hoạt động kiểm tra của cán bộ quản lý
Bảng 2.22: Đánh giá của CBQL về công tác GDĐĐ của GVCN
Bảng 2.23: Sự phối hợp giữa cán bộ quản lý với lực lượng giáo dục
Bảng 3.1: Các đối tượng khảo sát
Bảng 3.2: Tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các nhóm xã hội thì học sinh, sinh viên là lực lượng xã hội quan trọng
có tính quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Học sinh, sinh viên là những thanh
niên ưu tú, là những tri thức trẻ của đất nước. Họ là tài nguyên, là tiềm lực, là niềm hi
vọng của cả dân tộc.
Hơn 20 năm kể từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất
nước đã đem lại những thành tựu to lớn, mở rộng quan hệ quốc tế cả về chính trị lẫn
kinh tế, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng
thời, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX (04/2001) tiếp tục nhấn mạnh 4 nguy cơ, trong đó có nguy cơ: “Tình trạng
tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, gây bất bình và giảm niềm tin trong nhân dân” [14, 15]. Thực tế cho
thấy, nền kinh tế thị trường vẫn đang có ảnh hưởng sâu sắc cả theo hướng tích cực lẫn
tiêu cực đến mọi mặt của đời sống xã hội nói chung và hệ thống các giá trị, quy phạm
đạo đức nói riêng, trong đó có vấn đề giáo dục đạo đức. Điều đáng lo ngại là các tệ
nạn xã hội đã xâm nhập vào trường học làm cho một bộ phận học sinh chậm tiến bộ,
khó giáo dục, thậm chí hư hỏng, phạm pháp Trước tình hình đó, việc tăng cường
giáo dục đạo đức cho học sinh càng trở nên cấp thiết.
Từ nhận thức giáo dục đạo đức là nhân tố nâng cao giáo dục toàn diện, Chỉ thị

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh các trường THPT trên
địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về điều kiện nên chúng tôi chỉ tổ chức khảo sát thực trạng và đánh
giá các giải pháp ở các trường THPT huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp quản lý có cơ sở khoa học, phù
hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác giáo dục đạo đức học
sinh THPT
5.2. Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh ở các trường THPT huyện Hưng nguyên, tỉnh Nghệ An
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
cho học sinh các trường THPT huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu, văn bản, chỉ thị,
nghị quyết, sách báo có nội dung liên quan đến đề tài
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, điều tra bằng
phiếu câu hỏi,…
6.3. Phương pháp thống kê toán học
7. Đóng góp của đề tài
Hệ thống được cơ sở lý luận về công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh của các
trường THPT
Đánh giá được thực trạng quản lý công tác GDĐĐ ở các trường THPT huyện
Hưng nguyên, tỉnh Nghệ An
Đề xuất được một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ cho
học sinh các trường THPT huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An

Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, học thuyết của đạo Phật do Thích Ca Mâu Ni sáng
lập đã đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức. Cái cốt lõi trong đạo đức của Phật giáo là
khuyên con người sống thiện, biết yêu thương nhau, tránh điều ác.
Trong xã hội Hy Lạp La Mã cổ đại, đặc trưng cơ bản nhất về giáo dục con
người được thông qua những truyền thuyết, sử thi, các di sản văn hoá nhằm đề cao
những giá trị đạo đức con người. Đó là nữ thần Atina đẹp như mặt trăng, đầy tình
nhân ái đối với con người. Hình tượng thần Dớt (chúa tể) có tài - đức vẹn toàn. Iliát-
Ôđixê là bản trường ca bất hủ, một biểu tượng cao đẹp về tính trung thực, lòng dũng
cảm, sự trong sáng và cao thượng trong tình bạn, tình yêu. Tất cả những hình tượng
đó đều là những phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con người (26, tr 16]).
Ở Phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất
hiện sớm, được biểu hiện trong quan niệm về đạo và đức của họ. Đạo đức là một
trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. “Đạo” là con
đường, đường đi, về sau khái niệm “Đạo” được vận dụng trong triết học để chỉ con
đường của tự nhiên. “Đạo” còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội.
Khái niệm “Đức” lần đầu xuất hiện trong “Kim văn” đời nhà Chu. “Đức” dùng để nói
đến nhân đức, đức tính và nhìn chung, “Đức” là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là
nguyên tắc luân lý.
Khi bàn đến con người, C.Mác có một luận điểm khoa học rất tuyệt vời: Ông
coi con người là một hệ thống những năng lực thể chất và năng lực tinh thần. Theo
cách hiểu của Mác, đạo đức của con người thuộc về những năng lực tinh thần và nhờ
chúng mà những năng lực thể chất có định hướng phát triển đúng đắn. Mác đã khẳng
định rằng: "Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người có sự tồn tại quy luật đạo
đức. Vì đạo đức được nảy sinh, tồn tại, phát triển như là một tất yếu" [dẫn theo mục
26, trang 17]. Đồng thời, chủ nghĩa Mác cũng khẳng định: "Cội nguồn của đạo đốc là
từ lao động, từ những hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội, sáng tạo ra những
giá trị có ích cho con người, vì con người. Đó là quy luật sinh thành và phát triển của
những quan hệ đạo đức xã hội"
Về nguồn gốc của đạo đức, chủ nghĩa Mác- LêNin đã chỉ ra rằng, đạo đức không
thể tách rời cuộc sống con người. Chính con người bằng hành động thực tế và quan

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mois - lề thói, một phương thức
điều chỉnh hành vi con người. Đức đạo đòi hỏi các cá nhân phải chuyển hoá những
đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú
hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hoá này là hành vi cá nhân tuân theo
những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với đòi hỏi của xã
hội Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện và xét về bản chất, đạo đức
là sự lựa chọn của con người.
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các mối
quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo
đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức
có tính giai cấp. Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định, phản ánh “Những
luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kỳ cộng đồng nào” (Lê Nin). Đó là những yêu cầu
đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người và người.
Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội và ca ngợi
cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn “Không ai nghi ngờ được
rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri
thức của nhân loại” (Enghen). Vì vậy, quan hệ giữa người với người ngày càng mang
tính nhân đạo cao hơn.
Có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức:
+ Tác giả Nguyễn Kim Bôi dẫn quan điểm học thuyết Mác - Lê Nin: “Đạo đức
là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng
đồng xã hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của
tồn tại xã hội. Vì vậy, tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi
theo. Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”
(5,[tr 13]).
+ Giáo trình “Đạo đức học” chỉ rõ: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là
tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá
cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được
thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” (16,
[tr 8]).

của xã hội, phù hợp với lợi ích chung và lợi ích riêng của mọi người. Đồng thời, con
người dựa vào đó để tự điều chỉnh mình. Vì vậy, chức năng giáo dục đóng vai trò
quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách con người.
Chức năng điều chỉnh hành vi
Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức có tác dụng làm cho hoạt động của con
người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng. Thực tế đời sống đa dạng, phức
tạp nên chức năng giáo dục và chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức có vị trí rất quan
trọng và cần thiết trong đời sống xã hội.
Xã hội muốn ổn định và phát triển, đòi hỏi tính tự nguyện, tự giác của mỗi con
người. Xã hội càng văn minh thì tính tự giác của con người phải càng cao. Những
chuẩn mực đạo đức giúp con người điều chỉnh ý chí và hành vi của mình nhằm đáp
ứng yêu cầu chung của nền đạo đức xã hội.
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thể hiện bằng hai hình thức chủ
yếu:
- Xã hội và tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích chủ thể có đạo
đức, có những hành vi tốt đẹp. Đồng thời, cần phê phán nghiêm khắc và lên án những
biểu hiện không lành mạnh, gây tác hại cho con người.
- Bản thân chủ thể đạo đức phải tự giác, tự nguyện điều chỉnh hành vi của mình
trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Chức năng nhận thức
Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức xã hội về mặt đạo đức. Các quan
điểm, tư tưởng, những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức vừa là kết quả phản ánh tồn
tại xã hội của con người vừa tác động trở lại đời sống con người.
Các chuẩn mực đạo đức là những tiêu chuẩn giá trị đạo đức phù hợp yêu cầu
phát triển của xã hội, tạo nên tính cách tốt đẹp của mỗi con người. Nó được con người
đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu về mặt đạo đức để con
người căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, điều chỉnh bản thân.
Chức năng nhận thức có vai trò định hướng cho mọi hành vi của chủ thể đạo
đức. Chức năng nhận thức đã trang bị cho con người những tri thức lý luận và thực
tiễn đạo đức để con người nhận thức được lẽ phải, tránh những cái xấu. Để thực

và đưa ra các biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục một cách có hiệu quả nhằm
đạt được mục tiêu giáo dục.
1.2.2. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1.Quản lý
Theo nghĩa chung, quản lý là sự tác động có mục đích, tổ chức, định hướng của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động trong các
quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích đã đặt ra.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối
tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế… bằng một hệ thống
các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể,
nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [11, 97].
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý lột tả được bản chất của vấn đề chính
đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp cho cộng đồng theo sự phân
công, hợp tác lao động được ổn định và phát triển” [3, 5].
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu
nhất định” [28, 439].
Như vậy, quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản:
- Chức năng kế hoạch
- Chức năng tổ chức
- Chức năng chỉ đạo
- Chức năng kiểm tra
1.2.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có ý thức, có mục đích nhằm
chuẩn bị cho con người tham gia các hoạt động xã hội, tham gia lao động bằng cách
tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người.
Tham gia quá trình giáo dục có người dạy và có người học và những người khác có
liên quan đến việc dạy và học. Để hoạt động và phát triển không ngừng, quá trình
giáo dục cũng đòi hỏi được trang bị những phương tiện giáo dục nhất định. Tất cả
những yếu tố trên hợp thành hệ thống giáo dục. Nó là một bộ phận của hệ thống xã

1. Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng và Nhà nước đối với
các hoạt động giáo dục trong nhà trường: Chuyên môn, chính trị, tư tưởng, đạo đức,
lao động…
2. Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo các công việc của nhà
trường. Động viên và phối hợp các tổ chức, đoàn thể, tập thể cán bộ giáo viên cùng
tham gia vào công tác quản lý nhà trường. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực
lượng giáo dục đối với sự nghiệp giáo dục.
3. Mỗi trường học phải có tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu phấn đấu trong
từng năm học và từng giai đoạn.
4. Đảm bảo tính khoa học trong quản lý gồm: kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện,
kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động.
* Bộ máy quản lý trường THPT bao gồm:
Ban Giám hiệu: Gồm từ 1 đến 4 người. Hiệu trưởng là người phụ trách cao nhất
trong nhà trường, chịu trách nhiệm trực tiếp về mọi mặt hoạt động giáo dục của nhà
trường. Các phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về công tác được phân công và chịu
trách nhiệm chung về mọi mặt công tác của nhà trường.
Các bộ phận chức năng: Các Tổ chuyên môn, hành chính, văn phòng, kế toán, thủ
quỹ, hội đồng sư phạm, hội đồng thi đua khen thưởng, kỷ luật, ban đại diện cha mẹ
học sinh…
Các tổ chức, đoàn thể nhà trường: Chi bộ Đảng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh, Công đoàn, Chi đoàn giáo viên
Công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng, gồm có quản
lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường
với xã hội trên các nội dung sau:
+ Quản lý hoạt động dạy và học
+ Quản lý hoạt động GDĐĐ
+ Quản lý hoạt động lao động sản xuất
+ Quản lý hoạt động giáo dục thể chất.
+ Quản lý các hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề
+ Quản lý các hoạt động xã hội, đoàn thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status