PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÔ LƯƠNG
TRƯỜNG THCS GIANG SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ
NHẰM GIẢM DẦN TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM
VỀ HỌC LỰC TẠI TRƯỜNG THCS GIANG SƠN,
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN Người viết: HOÀNG ĐÌNH NGỌC
Chức vụ: PHÓ HIỆU TRƯỞNG
Điện thoại: 0972949074
NĂM HỌC 2013 - 2014
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ NHẰM GIẢM DẦN TỈ LỆ HỌC SINH
YẾU KÉM VỀ HỌC LỰC TẠI TRƯỜNG THCS GIANG SƠN,
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
A. MỞ ĐẦU
Mục tiêu giáo dục bậc THCS nêu rõ : “ Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh
củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học, có trình độ học vấn phổ
thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học
THPT,THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” (Luật Giáo dục).
Nội dung của giáo dục THCS là “ Phải củng cố, phát triển những nội dung đã
học ở Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng
Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật,
tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp”
(Luật Giáo dục ).
Phương pháp giáo dục phổ thông là “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác
Hiện nay, hơn bao giờ hết vấn đề chất lượng đào tạo là vấn đề luôn được sự
quan tâm đặc biệt trong các trường học. Đó là tín hiệu đáng mừng đối với những
người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Trước đòi hỏi rất cao của thực tiễn cuộc
sống, diễn biến thay đổi một cách nhanh chóng theo sự phát triển của thời đại, đặt ra
yêu cầu chất lượng giáo dục phải đáp ứng tương xứng. Vì vậy, các nhà trường không
thể không chăm lo cho “ sản phẩm ” của mình. Kết quả cho thấy, chất lượng trong
những năm qua ở các nhà trường nhìn chung đã có những bước chuyển biến mới. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đối với chất lượng đào tạo, luôn tồn tại một
vấn đề bức xúc đòi hỏi phải giải quyết, đó là vấn đề học sinh yếu kém.
Có thể nói, vấn đề học sinh yếu kém luôn là vấn đề được đề cập rất nhiều
trong các bản kế hoạch của các đơn vị trường học. Nhưng tiếc thay, đề cập nhiều chắc
gì đã thu được kết quả tốt. Thực tế đã chứng minh điều đó. Ở trường chúng tôi là
một dẫn chứng cụ thể, kết quả xếp loại học lực một số năm gần đây như sau:
Cuối năm
học
Tổng
số
Giỏi Khá TB Yếu Kém Dưới.TB
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
2010-2011 821
22 2.68 293 35.7 418 50.9 86 10.5 2 0.24 88 10.7
2011-2012 810
30 3.7 304 37.5 386 47.7 89 11 1 0.12 90 11.1
Qua bảng số liệu trên, chúng ta thấy rằng: số học sinh giỏi ở đây thấp hơn rất
nhiều so với số học sinh yếu kém. Điều đó đặt ra yêu cầu là cần phái sớm đề xuất các
giải pháp khắc phục để giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém.
Trường THCS Giang Sơn là một đơn vị thuộc vùng miền núi của huyện Đô
Lương tỉnh Nghệ An, gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế cũng như văn hóa
xã hội. Học sinh nhiều em chưa đủ ăn no, mặc ấm. Nhất là những tháng mùa đông giá
rét, nhìn các em nhếch nhác đẩy chiếc xe đạp cà tàng trên những đoạn đường lầy lội
ngay cả những kỹ năng đọc viết thông thường, tính toán giản đơn, các em cũng chưa
đạt yêu cầu. Có nhiều học sinh học đến lớp 7, lớp 8 còn chưa đọc thông viết thạo,
chưa làm được những bài toán số học đơn giản của chương trình lớp 3, lớp 4. Như
vậy thì làm sao các em tiếp thu được những khối lượng kiến thức lớn của các môn học
ở bậc THCS.
Chúng ta hãy tham khảo một vài số liệu về thực trạng chất lượng đầu vào bậc
THCS. Có đến nhiều lần, nhà trường chúng tôi đã tổ chức khảo sát lại số học sinh
trúng tuyển vào lớp 6 trước khi bước vào năm học mới. Xin đơn cử kết quả một vài
năm gần đây :
Đầu năm
học
Tổng
số
Giỏi Khá TB Yếu Kém Dưới.TB
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
2010-2011 204 28 13.7 32 15.7 39 19.1 63 30.9 42 20.59 105 51.5
2011-2012 198
9
4.55
27
13.6
49
24.7
51
25.8
62
31.31
11
3 57.1
5
mới đáng kể làm gia tăng tỷ lệ học sinh yếu kém.
Ngoài ra, nội dung chương trình giáo dục phổ thông của chúng ta hiện nay còn
có những vấn đề nặng về tính hàn lâm, ôm đồm, không sát thực tế nhu cầu hướng tới
phát triển cá nhân học sinh. Tuy vậy, vẫn buộc học sinh phải học, mặc dù việc học tập
đó các em không hứng thú và không mang lại lợi ích thiết thực nào. Học sinh phải
gồng mình lên đối phó với yêu cầu của giáo viên. Việc học này không có chiều sâu.
6
Vì vậy, càng học nhiều, càng quên nhiều. Mặc dù nhiều em học sinh, ngoài việc học
chính khóa, học thêm ở trường, bố mẹ còn bắt đi học thêm ở ngoài. Vậy mà yếu kém
vẫn hoàn yếu kém. Càng học nhiều lại càng yếu kém về nhiều mặt.
1.2.4. Nhằm chạy đua thành tích đạt tỷ lệ cao và đúng độ tuổi của công tác phổ
cập giáo dục, đã dẫn đến tình trạng có nhiều học sinh “ ngồi ghế nhầm lớp”:
Yêu cầu của công tác phổ cập giáo dục là huy động, duy trì sỹ số và đảm bảo
chất lượng. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta mới chỉ quan tâm đến mặt số lượng, đến tỷ
lệ, đến thành tích một cách hình thức mà chưa thực sự quan tâm đến chất lượng phổ
cập như thế nào. Chưa mạnh tay trong công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra chất lượng
dẫn đến có nhiều học sinh đi học là tính thời gian, tính năm, tính tháng, tính tuổi để
được lên lớp mà đáng lẽ có nhiều em chưa đạt được điều đó, đúng ra là phải lưu ban,
phải học lại. Thực tế, có rất nhiều học sinh yếu kém thì mặc yếu kém, hầu như không
bao giờ phải lo chuyện ở lại lớp ! Nếu em nào có thiếu điểm một số môn nào đó, các
em sẽ được thi lại trong hè và được xét là đủ điều kiện để được lên lớp. Việc thi lại ở
đây gần giống như là một thao tác để “ hợp pháp hoá ” cho các em được lên lớp, mà
đáng lẽ ra là các em phải lưu ban. Vậy, lợi ích thiết thực của việc không phải lưu ban
là gì ? Có phải đó là vấn đề chạy đua để đạt tỷ lệ đẹp về vấn đề phổ cập giáo dục hay
không ? ! Có người cho rằng, sự chạy đua về số lượng của công tác phổ cập là một
trong những nguyên nhân chính dẫn đến có nhiều học sinh yếu kém.
1.2.5. Các nguyên nhân khác:
Ngoài các nguyên nhân cơ bản nói trên , còn có những nguyên nhân khác như :
Có những học sinh học yếu là do ảnh hưởng xấu của các hiện tượng tiêu cực
từ môi trường xã hội tác động đến như lối ăn chơi đua đòi, các trò chơi tiêu khiển
giải pháp nhất định để thực hiện điều này. Trước thực trạng về tình hình học sinh yếu
kém về học lực như đã nêu trên, ở trường chúng tôi đã tiến hành một số biện pháp
nhằm giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém này. Cụ thể, đó là một số biện pháp như sau:
1. Chỉ đạo tiến hành phân luồng, tổ chức dạy học phụ đạo đại trà cho học sinh
yếu kém.
2. Tăng cường kiểm tra bài cũ, bài làm ở nhà của học sinh.
3. Tiến hành hỏi bài cũ dưới cờ.
4. Tiến hành họp phụ huynh của những em yếu kém nhằm phối hợp với phụ
huynh để đôn đốc việc học tập của học sinh.
5. Ghi tên những học sinh không thuộc bài, phê bình dưới cờ, trừ điểm thi đua
của lớp.
6. Bắt học sinh không thuộc bài trong buổi học chính khoá đi học lại bài vào
một buổi khác.
V.v …
Với những biện pháp trên, tình hình có được cải thiện chút ít nhưng mức độ tiến
triển vẫn chậm chạp và chưa vững chắc, thậm chí có khi còn không thay đổi được tình
hình. Vì vậy, một số cán bộ và giáo viên đã có lúc nản lòng.
8
2.2. Nguyên nhân không thành công của những giải pháp chỉ đạo, quản lí nhằm
giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém trong những năm qua.
Là một cán bộ quản lí phụ trách công tác chuyên môn, tôi đã cố gắng tìm hiểu và
thấy được một số nguyên nhân không thành công của các giải pháp chỉ đạo, quản lí
nêu trên như sau.
1.Đa số các giải pháp không đạt hiệu quả là do đánh giá chưa đầy đủ, đúng mức
về thực trạng học sinh yếu kém.
2. Chưa đi sâu tìm hiểu các nguyên nhân học sinh yếu kém để đề ra các giải
pháp phù hợp, sát đối tượng.
3.Việc tổ chức dạy học phụ đạo còn tiến hành một cách chung chung, nhiều lúc
mang tính hình thức, kém hiệu quả. Không phân luồng kỹ đối tượng theo từng môn
học, từng nhóm nguyên nhân Không tổ chức xây dựng và chỉ đạo thực hiện theo
Sau phiếu thăm dò có ý kiến và chữ ký của phụ huynh ( chúng tôi có mẫu kèm
theo ở phần phụ lục ).
Công tác phát phiếu thăm dò cần quán triệt rõ mục đích cuối cùng là nhằm đảm
bảo hiểu đúng đối tượng, làm sao cho công tác dạy tốt hơn, học tốt hơn, hiệu quả giáo
dục ngày càng tốt hơn. Thăm dò là để xây dựng. Sử dụng biện pháp này cần linh hoạt
mềm dẻo tránh những mặt tiêu cực có thể xẩy ra.
Sau khi thu thập, tìm hiểu được nguyên nhân của học sinh học yếu, chúng ta
tiến hành thực hiện các biện pháp tác động. Mỗi một nguyên nhân thường có một số
biện pháp cụ thể để khắc phục. Một số ví dụ cụ thể như:
- Trường hợp đối với các đối tượng bị “hổng“ kiến thức từ Tiểu học.
Đối tượng này, phải phụ đạo lại cho các em những kiến thức sơ đẳng nhất,
thông thường nhất như những kỹ năng về đọc viết, tính toán cơ bản… để từ đó làm
cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức mới. Thực tế cho thấy, nhiều học sinh THCS chưa
đọc thông viết thạo. Nếu chúng ta không quan tâm đến các đối tượng này thì chắc
chắn rằng, các em đến lớp là chỉ đi cho có, không thể thu nhận được gì, lời giáo viên
chỉ là nước đổ lá môn! Vì vậy, với đối tượng này, đòi hỏi giáo viên phải kiên trì,
phải chịu khó hướng dẫn các em. Điều tất nhiên, không thể quan tâm chỉ trong 45
phút chính khoá là có thể được mà chắc chắn là phải bố trí thêm thời gian ngoài cho
các em học tập.
Cụ thể:
Đối với lớp 6, vào đầu năm học, chúng tôi tiến hành khảo sát chất lượng để
tiến hành phân loại học sinh đầu vào. Lập danh sách học sinh yếu kém lần 1 bắt đầu
tiến hành phân công giáo viên phụ đạo.
Giữa học kỳ I: sau một thời gian giáo viên trực tiếp giảng dạy, giáo viên có
thêm cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn về học sinh, cho phép rà soát điều chỉnh danh sách
học sinh yếu kém của lần 1. Bởi vì, ở lần 1, chúng ta mới chỉ có kết quả qua một bài
kiểm tra ( Ngữ văn và Toán ), chưa thể khẳng định đúng năng lực, trình độ của các
em.
10
Cuối học kỳ I: kết hợp thông tin từ phía giáo viên giảng dạy các bộ môn chính
dụ như: trong hoạt động nhóm, khi giao nhiệm vụ cho học sinh, giáo viên bắt buộc tất
cả các cá nhân phải làm việc, học sinh khá hơn giúp đỡ học sinh yếu hơn. Khi báo cáo
kết quả làm việc của nhóm, giáo viên chú ý giành cơ hội cho học sinh yếu trình bày,
coi kết quả trình bày này là kết quả của cả nhóm (có thể giáo viên cho điểm- đó là
điểm chung của cả nhóm). Làm như vậy, tính đồng đội, tính tập thể trong nhóm sẽ
tăng lên, buộc các em học khá phải có trách nhiệm giúp đỡ các em học yếu ( nếu
11
không, tất cả sẽ cùng chịu điểm thấp). Hiệu quả của việc “ Học thày không tày học
bạn ” được phát huy.
- Trường hợp học sinh “ngồi ghế nhầm lớp” do việc “đẩy” học sinh yếu lên
lớp để đảm bảo công tác phổ cập giáo dục đạt tỷ lệ cao và đúng độ tuổi. Đối với
trường hợp này, yêu cầu nhà quản lý giáo dục phải quan tâm hơn đối với thước đo
chất lượng thật của công tác phổ cập giáo dục. Phải có những biện pháp chống chạy
đua thành tích, chạy đua về số lượng ( huy động, duy trì sỹ số, tỷ lệ đẹp với yêu cầu
tiêu chuẩn phổ cập …) mà ảnh hưởng đến chất lượng học sinh, ảnh hưởng đến cả uy
tín của sự nghiệp giáo dục. Nếu thực sự học sinh lên lớp mà kiến thức trỗng rỗng thì
đừng lừa dối mình, lừa dối các em và cả xã hội mà trở thành có tội. Hãy thẳng thắn
chỉ rõ cho các em và phụ huynh các em nhìn đúng thực tế. Cái gì cũng có cái giá của
nó. Hãy để các em học lại. Học lại thì phải cố gắng vươn lên, đừng mặc cảm, hãy
biến hành vi mặc cảm thành hành vi tích cực phấn đấu. Tuy nhiên, biện pháp khắc
phục hiện tượng “ngồi ghế nhầm lớp” này, phải tiến hành dần dần từng bước theo lộ
trình.
- Trường hợp học học yếu do thiếu sự quan tâm của gia đình hoặc gia đình có
khó khăn. Trường hợp này yêu cầu giáo viên phải nắm vững hoàn cảnh gia đình của
các em với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để có biện pháp giúp đỡ phù hợp.
Tóm lại, mỗi một nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu, phải có những giải
pháp nhất định phù hợp, đúng đắn, thì mới có thể đem lại hiệu quả cao.
2. Tiến hành tổ chức dạy học trên cơ sở giải quyết chuyên đề “ giải pháp giảm
dần học sinh yếu kém ”.
Nhà trường đưa vào kế hoạch chuyên môn của năm học, triển khai cho các tổ
báo cáo lí thuyết của chuyên đề ( để biết ý kiến từng giáo viên trong nhóm). Nếu kèm
thêm tham luận của giáo viên càng tốt.
2. Giáo án tiết dạy thể nghiệm.
3. Phiếu đánh giá tiết dạy thể nghiệm.
4. Biên bản đánh giá, rút kinh nghiệm tiết dạy thể nghiệm.
Trên cơ sở kết quả của chuyên đề, nhà trường tiến hành tổ chức dạy học.
Hiện nay, tại các nhà trường, để có thể tổ chức mở lớp phụ đạo cho tất cả các
môn của bậc THCS là rất khó thực hiện do khó bố trí về thời gian, nhân sự. Ở trường
chúng tôi, thành lập lớp phụ đạo cơ bản tập trung vào các môn Toán, Ngữ văn, Ngoại
ngữ. Lịch cố định thời gian là vào chiều thứ 2 hàng tuần. Mỗi tuần chỉ học một môn
luân phiên nhau cho tất cả các khối. Vì có những học sinh phải đi học phụ đạo nhiều
môn, xếp như vậy để các em được tham gia nhiều môn và nhà trường dễ theo dõi
quản lí. Mỗi học kỳ tổ chức được 15 buổi tập trung cho mỗi khối ( Mỗi môn 5 buổi ).
Sau khi thống nhất số buổi, căn cứ năng lực, chất lượng, trình độ của học sinh,
nhóm chuyên môn xây dựng khung chương trình phụ đạo phù hợp, sát đối tượng.
Trên cơ sở đó, định hướng giáo viên thiết kế bài lên lớp đảm bảo hiệu quả nhất.
Các môn không thành lập được lớp thì triến khai cho giáo viên bộ môn nắm
vững đối tượng học sinh yếu kém của môn mình để có biện pháp tác động thích hợp.
13
Ở lớp, trên các tiết dạy chính khóa, yêu cầu giáo viên thiết kế bài giảng phải có phần
dành cho học sinh yếu kém. Giáo viên phải kiên trì quan tâm kiểm tra, động viên nhắc
nhở. Thường xuyên động viên khích lệ, tạo cơ hội cho các em được mạnh dạn phát
biểu, trình bày ý kiến. Phần bài tập về nhà có thể bổ sung thêm các phiếu học tập dành
riêng phát cho các em, thường xuyên kiểm tra việc làm bài qua các phiếu. Đây là biện
pháp đã đem lại hiệu quả tiến bộ rõ rệt.
Việc bố trí giáo viên giảng dạy cũng phải chọn những người có năng lực, nhiệt
tình có ý thức trách nhiệm cao. Những giáo viên này có khi còn yêu cầu cao hơn đối
với giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi. Giáo viên dạy phụ đạo phải nắm vững đến tận
từng em học sinh về nguyên nhân học yếu để có phương pháp dạy học thích hợp.
Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra theo dõi về mức độ tiến bộ của học sinh. Nếu
Việc xây dựng lòng tin phải kết hợp với sự tận tình, quan tâm chăm sóc giúp
đỡ. Sự giúp đỡ bắt đầu từ những cử chỉ thân thiện, gần gũi, thấu hiểu, từ cách biết gây
hứng thú đến động viên khuyến khích Việc giúp đỡ kết hợp giữa tình cảm với động
viên vật chất như sách, vở, bút, giấy… Làm được như vậy thì hiệu quả nhất định sẽ
đến sớm hơn. Thực tế, việc vận dụng của chúng tôi đã chứng minh điều đó.
4. Thường xuyên chú ý động viên, biểu dương, khen thưởng:
Biện pháp này áp dụng cho cả giáo viên và học sinh dựa trên cơ sở kết quả
đánh giá tổng kết công tác một cách trung thực và đúng đắn.
Đối với giáo viên, nếu hoàn thành tốt với những kết quả cụ thể trong công tác
bồi dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém thì phải động viên khen thưởng ngay. Vì trên
thực tế, nhiều khi việc chọn giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém còn khó hơn cả việc
chọn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi. Công sức giáo viên đổ ra thì nhiều nhưng
hiệu quả thu được rất khó khăn so với bồi dưỡng học sinh giỏi. Vậy mà, nhiều khi
những người góp phần làm nên chất lượng đại trà, song song với chất lượng mũi nhọn
(có khi còn là nền tảng cho chất lượng mũi nhọn ) lại hay bị lãng quên về thành tích
đóng góp của họ. Mức biểu dương khen thưởng tùy thuộc vào so sánh chất lượng,
mức tăng tiến của học sinh trước và sau khi giáo viên nhận phân công nhiệm vụ công
tác phụ đạo. Việc này cần cụ thể trên cơ sở số lượng, tỷ lệ tăng tiến của từng học sinh.
Đối với học sinh, để thu hút, tạo hứng thú cho các em về việc học tập, khích lệ
niềm tin phấn đấu, nên tăng cường các biện pháp động viên khuyến khích kịp thời với
các hình thức phù hợp. Cụ thể, chúng tôi đã áp dụng như sau : đối với những học sinh
từ yếu kém lên trung bình: biểu dương; đối với những học sinh từ yếu kém lên khá là
khen thưởng, với mức thưởng như đối với học sinh giỏi toàn diện. Các biện pháp
biểu dương dưới cờ hàng tuần, kết hợp trong các đợt thi đua, cũng như biểu dương
khen thưởng cuối kỳ, cuối năm học đã tỏ ra có tác động tích cực giúp học sinh yếu
kém vươn lên. Ngoài ra, có thể mua sắm để hỗ trợ cho các em một số sách vở đồ
dùng học tập v.v…
5. Phối hợp với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường:
Đối với các đoàn thể trong nhà trường:
Hoạt động trọng tâm trong nhà trường là hoạt động dạy học. Vì vậy, phải quán
nhất chương trình hành động, để triển khai trong kế hoạch chung của Liên đội và từng
Chi đội. Ưu thế đặc biệt của Đội là công tác thi đua, công tác động viên khuyến khích
bằng hình thức biểu dương, khen thưởng,giúp đỡ lẫn nhau trong các “ Nhóm bạn cùng
tiến”… Phối hợp giữa chuyên môn và Đoàn Đội duy trì tốt việc hỏi bài cũ dưới cờ
trong các buổi chào cờ đầu tuần.
Đối với các đoàn thể ngoài nhà trường :
Cần bám sát chương trình kế hoạch xã hội hoá giáo dục của địa phương để phối
hợp hành động tuỳ theo đặc trưng từng đoàn thể mà linh hoạt thực hiện cho hợp lý,
chú ý thông tin hai chiều từ nhà trường đến gia đình nơi cư trú để có sự điều chỉnh các
giải pháp một cách phù hợp, kịp thời và hiệu quả.
16
Đặc biệt chú ý tới các đoàn thể ở cấp khối xóm. Chúng tôi đã đề xuất, mỗi khối
xóm cần có một Ban chuyên trách giáo dục. Trưởng ban chuyên trách phải là xóm
trưởng. Xóm trưởng - trong chừng mực nhất định, phải được coi như là một ông Hiệu
trưởng ở xóm. Xóm trưởng cùng với Ban chuyên trách phải có chương trình, kế hoạch
công tác giáo dục của xóm ( không cầu kỳ, rườm rà, chỉ yêu cầu súc tích và hiệu
quả ). Phải nắm được tình hình thực trạng số lượng cụ thể học sinh đang học các cấp
từ Mầm non đến các nghành học, bậc học khác. Phải biết được trong xóm có bao
nhiêu học sinh khá giỏi để động viên khuyến khích, tạo hạt nhân thúc đẩy phong trào.
Phải nắm vững số học sinh yếu kém để có biện pháp giúp đỡ thích hợp.
Xóm trưởng cần chú ý đưa thêm một cách phù hợp nội dung công tác giáo dục
vào trong các buổi họp xóm. Triển khai chương trình, kế hoạch công tác xã hội hoá
giáo dục của xóm. Thường xuyên nhắc nhở các bậc phụ huynh trong xóm đôn đốc
con em học tập. Nhắc nhở : “Mỗi gia đình một góc học tập”, “ Mỗi đêm 5 phút xem
con học bài ” Làm sao để mỗi phụ huynh đều biết được số sách vở cơ bản của
con em mình có bao nhiêu quyển, con em mình học bao nhiêu bộ môn, học ở lớp nào,
bao nhiêu thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy v.v… Bên cạnh việc biểu dương khen
thưởng con em học giỏi nên chăng bổ sung khen thưởng “ phụ huynh giỏi, phụ huynh
tiêu biểu”.
Ban chuyên trách giáo dục ở xóm cần quán triệt chương trình hành động, phân
học phụ đạo, không thể tổ chức dạy học thêm đại trà. Bởi vì, danh sách học sinh yếu
kém phải tập hợp từ tất cả các lớp gộp lại. Mỗi khối thường tổ chức thành một lớp.
Một lớp có khoảng 20 em. Lịch học phụ đạo của trường chúng tôi là vào thứ 2 hàng
tuần, theo sự thỏa thuận giữa nhà trường và phụ huynh học sinh. Làm như vậy để cha
mẹ học sinh biết được ngày đó là con em mình đi học phụ đạo, để thuận tiện trong
việc theo dõi, quản lí.
Điều hành phân công nhân sự phải trên cơ sở công bằng lao động, thực hiện
đúng quy chế. Ở trường chúng tôi, giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém được cộng
thêm một tiết trên tuần. Cứ 3 tuần thì dạy 1 buổi theo vòng ( Toán - Ngữ văn - Tiếng
Anh). Riêng với giáo viên chủ nhiệm lớp yếu kém được cộng thêm 1 tiết nữa để làm
công tác tổ chức, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc … Nhân sự dạy phụ đạo phải là những
người có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, tâm huyết.
Chương trình dạy học là do nhóm chuyên môn xây dựng trên cơ sở thảo luận
thống nhất và được nhà trường phê duyệt cho từng bộ môn, từng khối lớp, phù hợp
với đối tượng. Đó là kết quả của nội dung sinh hoạt chuyên đề “ Giải pháp giảm dần tỉ
lệ học sinh yếu kém” mà nhà trường đã triển khai.
Hồ sơ quản lí bao gồm: kế hoạch của nhà trường và của giáo viên, sổ theo
dõi, sổ đầu bài, sổ gọi tên ghi điểm, sổ chủ nhiệm đối với lớp phụ đạo học sinh yếu
kém. Đặc biệt lưu ý kiểm tra sổ điểm, sổ đầu bài, vở ghi và tập bài kiểm tra của học
sinh để thường xuyên cập nhật tình hình học tập của học sinh. Hồ sơ quản lí dạy học
phụ đạo là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác nâng cao chất lượng cho
học sinh yếu kém. Cuối mỗi kỳ học có bổ sung thêm biên bản xét vượt hạng cho các
em. Vì sau mỗi kỳ, phải tiến hành ra soát, đối chiếu kết quả học tập theo sổ điểm lớp
chính khóa và kết quả học tập lớp phụ đạo để cho ra khỏi lớp với những em vượt hạng
và bổ sung thêm những em khác vào lớp nếu có.
18
Ban Giám hiệu tăng cường kiểm tra đôn đốc sẽ có ảnh hưởng lớn đến chất
lượng của lớp phụ đạo. Kinh nghiệm cho thấy, dù giáo viên và học sinh có tự giác
đến đâu thì cũng không thể không có sự kiểm tra, giám sát. Trong công tác kiểm tra
cần chịu khó cập nhật thường xuyên diễn biến chất lượng của học sinh, yêu cầu giáo
Sau khi áp
dụng, năm
học 2012-
2013
701 29
4,1
4
247 35,2 364 51,92 61 8.7 0 61 8.7
Mặt bằng
huyện
11499 904 7,8
6
4762 41,4 4844 42,12 915 7,95 10 0,09
925 8.04
19
năm học
2012-2013
( Kết quả thống kê trên đây có lưu ở trường chúng tôi và ở Phòng Giáo dục Đô
Lương theo Báo cáo chất lượng hàng năm ).
Qua bảng trên, chúng ta thấy rằng, kết quả sau khi thể nghiệm đã có sự tiến bộ
rõ rệt. Số học sinh trung bình đã tăng lên. Số học sinh yếu kém đã giảm một cách
đáng kể. Đặc biệt, chênh lệch so với mặt bằng của huyện trong năm học vừa qua của
trường đã tiến lại gần hơn so với mặt bằng chung của huyện. Tuy vẫn còn một khoảng
cách nhất định so với nhiều đơn vị bạn, nhưng đối với chúng tôi, một trường vùng núi
khó khăn của huyện, kết quả trên vẫn là một thành tích đáng khích lệ của cả một sự
phấn đấu rất lớn của tập thể cán bộ, giáo viên dưới sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu để
thực hiện những giải pháp của đề tài .
Đối với chất lượng đầu ra của trường, sau khi áp dụng đề tài đã góp phần tích
cực trong việc cải thiện thứ hạng chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ
thông. Cụ thể, xếp thứ tuyển sinh vào lớp 10 so với toàn tỉnh năm học 2010 – 2011,
coi là hết sức quan trọng nhằm đạt mục tiêu yêu cầu giáo dục đề ra. Nhất là đối với
vùng trũng về chất lượng như đơn vị chúng tôi. Qua kết quả thể nghiệm đã khẳng
định giá trị thực tế, tính hiệu quả của đề tài.
Chất lượng là sản phẩm, là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi đơn vị trường học. Mọi
kế hoạch, mọi hoạt động của nhà trường, đích cuối cùng hướng tới đều là chất lượng.
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu luôn được đặt lên hàng đầu. Các
nhà trường không có cách nào tốt hơn là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh; phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; luôn
luôn chú ý bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng sống, tác động tích cực
đến tình cảm, hứng thú học tập cho học sinh. Đặc biệt quan tâm đến những học sinh
có năng lực còn hạn chế. Phải làm sao để các em vượt qua mặc cảm, hòa đồng với
bạn bè, tự giác phấn đấu vươn lên. Đó là điều tốt nhất để làm nên chất lượng bền
vững trong mỗi nhà trường. Có như vậy, chúng ta mới giải quyết được bài toán hóc
búa về học sinh yếu kém.
Tóm lại, đề tài trên đây của chúng tôi đã đem lại những giá trị nhất định. Tuy
nhiên, do nhiều lý do, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lí nhằm giảm
dần tỉ lệ học sinh yếu kém ở trên có thể còn nhiều hạn chế. Tôi mong nhận được sự
đóng góp ý kiến chân thành của đồng nghiệp để bổ sung, khắc phục, đưa vào áp dụng
hiệu quả hơn.
2. Kiến nghị :
Qua việc nghiên cứu và thể nghiệm đề tài, tôi đề xuất với đồng nghiệp :
- Đưa vấn đề : “ Giải pháp quản lí nhằm giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém ”
thành diễn đàn trao đổi giữa các đơn vị trường học.
21
- Tiếp tục nghiên cứu và thể nghiệm để hoàn thiện đề tài hơn nữa, nhằm mục
đích giảm bớt một cách thực chất tỷ lệ học sinh yếu kém trong các trường học.
- Đề tài có thể áp dụng rộng rãi trong nhiều đơn vị trường học có những điểm
tương đồng như đơn vị chúng tôi.
Đô Lương, ngày 8 tháng 3 năm 2014
Người thực hiện.
+ Sau khi thi lại là : dưới 0.2 %.
- Học sinh xếp loại yếu kém theo từng bộ môn : dưới 3 %.
3.Tình hình học sinh yếu kém:
Kết quả chất lượng năm học 2012-2013
Tổng
số HS
Tốt (Giỏi) Khá TB Yếu Kém
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL
%
S
L
TL
%
Hạnh kiểm
701 554
78,8
1
137 19,49 10 1,42
Học lực
(trước thi lại)
701 29 4,14 247 35.2 364 51,92 61 8.7
Học lực
(sau thi lại)
701 29 4,14 247 35,2 423 60,33 2 0.3
Mặt bằng
huyện
11499 904 7,86 4762 41,4
484
4
học sinh yếu kém ”.
Nhà trường đưa vào kế hoạch chuyên môn của năm học, triển khai cho các tổ
chuyên môn xây dựng thể nghiệm chuyên đề “ Giải pháp giảm dần học sinh yếu
kém”. Sau đó đưa vào vận dụng.
4.4. Xây dựng lòng tin ở giáo viên và học sinh, tận tình giúp đỡ học sinh .
Phải thực hiện được việc xây dựng lòng tin ở giáo viên và học sinh, phải tận
tình giúp đỡ học sinh thì mới có thể thành công được.
4.5. Thường xuyên chú ý động viên, biểu dương, khen thưởng.
Để thu hút, tạo hứng thú cho các em về học tập, khích lệ niềm tin phấn đấu, nên
tăng cường các biện pháp động viên khuyến khích kịp thời với các hình thức phù hợp.
Cụ thể, đối với những học sinh từ yếu kém lên trung bình: biểu dương; đối với những
học sinh từ yếu kém lên khá là khen thưởng, với mức thưởng như đối với học sinh
khá, giỏi. Chú ý các biện pháp biểu dương dưới cờ hàng tuần, kết hợp trong các đợt
thi đua, cũng như biểu dương khen thưởng cuối kỳ, cuối năm học.
4.6. Phối hợp với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường.
Thực hiện tốt công tác phối hợp trong nhà trường để cùng chia sẻ nhiệm vụ
chung. Đồng thời, cần bám sát chương trình kế hoạch xã hội hoá giáo dục của địa
phương để phối hợp hành động tuỳ theo đặc trưng từng đoàn thể mà linh hoạt thực
hiện cho hợp lý, chú ý thông tin hai chiều từ nhà trường đến gia đình nơi cư trú để có
sự điều chỉnh các giải pháp một cách phù hợp, kịp thời và hiệu quả. L\u ý phối hợp
tốt với gia đình và Hội đồng giáo dục địa phương.
Với gia đình:
25