SKKN Một số giải pháp quản lý nhằm giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém về học lực tại trường THCS Giang Sơn, Nghệ An - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM GIẢM DẦN TỶ LỆ HỌC
SINH YẾU KÉM VỀ HỌC LỰC TẠI TRƯỜNG THCS GIANG SƠN,
NGHỆ AN”
A. MỞ ĐẦU
Mục tiêu giáo dục bậc THCS nêu rõ : “ Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng
cố và phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ
sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT,THCN,
học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” (Luật Giáo dục).
Nội dung của giáo dục THCS là “ Phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở
Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán,
lịch sử dân tộc, kiến thức về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại
ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp” (Luật Giáo dục).
Phương pháp giáo dục phổ thông là “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ” (Luật Giáo dục)
Đối chiếu với những yêu cầu về mục tiêu, nội dung và phương pháp của giáo dục
bậc THCS nêu trên, không phải bao giờ chúng ta cũng đạt được như mong muốn. Trên
thực tế, hầu khắp các trường THCS luôn tồn tại một tỷ lệ đáng kể và rất đáng quan tâm
về số học sinh không đạt được những yêu cầu nói trên, điều đó đã trở thành vấn đề bức
bách luôn đòi hỏi những người làm công tác giáo dục không thể không tìm cách tháo gỡ,
giảm thiểu số đối tượng này. Đó là những học sinh yếu kém. Số học sinh yếu kém ở mỗi
trường, mỗi lớp cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý chỉ đạo và mức độ
nhiệt tình của đội ngũ giáo viên có chịu khó tìm tòi nguyên nhân và tìm ra những biện
pháp hữu hiệu để khắc phục những hạn chế đó.
Đặc biệt, đối với một địa bàn vùng núi khó khăn của huyện như đơn vị chúng tôi,
chỉ tiêu chất lượng học lực luôn thấp kém hơn nhiều so với mặt bằng chung của huyện.
Nhà trường đã đề ra khá nhiều biện pháp nhằm hạn chế tỉ lệ học sinh yếu kém này nhưng
hiệu quả vẫn rất thấp, xu hướng tiến triển chậm chạp. Tình trạng này đã kéo dài nhiều

Giỏi Khá TB Yếu Kém Dưới.TB
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
2010-
2011 821 22 2.68 293 35.7 418 50.9 86 10.5 2 0.24 88 10.7
2011-
2012 810 30 3.7 304 37.5 386 47.7 89 11 1 0.12 90 11.1
Qua bảng số liệu trên, chúng ta thấy rằng: số học sinh giỏi ở đây thấp hơn rất
nhiều so với số học sinh yếu kém. Điều đó đặt ra yêu cầu là cần phái sớm đề xuất các giải
pháp khắc phục để giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém.
Trường THCS Giang Sơn là một đơn vị thuộc vùng miền núi của huyện Đô Lương
tỉnh Nghệ An, gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế cũng như văn hóa xã hội. Học
sinh nhiều em chưa đủ ăn no, mặc ấm. Nhất là những tháng mùa đông giá rét, nhìn các
em nhếch nhác đẩy chiếc xe đạp cà tàng trên những đoạn đường lầy lội trơn trượt với
khuôn mặt gầy đen, môi bầm tím vì lạnh mà đáng thương làm sao! Có những em nhà xa
trường 5-7 km, phải dậy đi học lúc tờ mờ sáng. Những hôm học cả ngày vẫn còn cơm
đùm, cơm nắm như trong chuyện ngày xưa! Nhiều em suốt nhiều năm đi học không có
một cuốn sách giáo khoa mới. Nhiều em bố mẹ lăn lộn trăm bề mà vẫn thường xuyên bị
nhà trường nhắc nhở về chậm trễ trong việc nộp tiền đóng góp các khoản. Nhiều em
không được đi học thêm vì thiếu tiền. Có nhiều trường hợp, nhà trường miễn tiền học
thêm cho các em nhưng bố mẹ lại bắt ở nhà để đỡ đần công việc đồng áng, phụ giúp thêm
kinh tế gia đình… Giáo viên nhìn thấy điều đó không? Các nhà giáo tâm huyết ở đây
nhìn thấy rất rõ điều đó. Vấn đề là làm sao để giúp đỡ cho các em? Trong khi đó, nhiều
nhà giáo ở đơn vị chúng tôi là giáo viên hợp đồng. Giáo viên hợp đồng với mức lương
trên 1 triệu đồng, chưa đủ chi phí ăn ở, còn phải nhận sự giúp đỡ tài chính của gia đình và
một phần nhỏ nhoi hỗ trợ từ quỹ phúc lợi của nhà trường. Những nhà giáo hết sức thương
yêu học sinh nhưng phần lớn cũng chỉ bằng tình thương tội nghiệp mà thôi! Chỉ có thể
trao cho các em bằng những con chữ nếu vận động được các em đến lớp chuyên cần.
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những giáo viên đi nghĩa vụ tăng cường do sự điều động
của huyện. Một số trong đó không thể vô tư tâm huyết được nhiều cho sự nghiệp giáo
dục vùng khó. Ngoài ra, chất lượng đội ngũ giáo viên vùng khó, vì nhiều lí do nên không

4.55
27
13.6
49
24.7
51
25.8
62
31.31 113 57.1
2012-
2013 139 9 6.47 12 8.63 39 28.1 42 30.2 37 26.62 79 56.8
Đề thi khảo sát có yêu cầu tương đương đề thi hoàn thành chương trình Tiểu học
mà các em vừa thi xong cách đó mấy tháng. Qua đây cho thấy một số học sinh yếu kém
là do đã bị “ hổng ” kiến thức ngay từ bậc Tiểu học
1.2.2. Có nhiều học sinh yếu kém do lơi là, buông trôi, lười học tập:
Số học sinh này thể hiện rõ khi ta kiểm tra bài cũ, kiểm tra vở bài tập, vở học tập
của các em. Không thể chấp nhận được khi có những học sinh trả lời: “ Em chưa học bài
” hoặc “ Em chưa làm bài tập ” hoặc mới chỉ đọc qua loa… Những đối tượng này nếu
không tác động kịp thời, càng về sau càng trở nên buông trôi, lơi là và lười nhác.
Vậy, tại sao lại có những em lơi là, buông trôi, lười học tập? Đó lại là câu hỏi yêu
cầu chúng ta phải trả lời. Thực tế cho thấy, đa số các học sinh lơi là trong việc học tập là
những em thiếu ý thức tự giác, mải chơi, không tập trung chăm lo bài vở. Đa số những
em buông trôi việc học hành là vốn dĩ do học yếu nhưng không có chí hướng phấn đấu
vượt khó vươn lên, để đến đâu thì đến. Còn những em lười học, đa số là thiếu tính kỷ
luật học tập, có thể có những em học lực trước đó là khá nhưng sự lười nhác đã dẫn đến
hậu quả yếu kém.
1.2.3. Một số học sinh yếu kém do tác động mặt trái của việc thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học mà một số giáo viên chưa chú ý khắc phục mặt trái này:
Những mặt trái đó thể hiện ví dụ như : trong các hoạt động nhóm, chỉ có một số
em là thực sự hoạt động mà thôi. Thực tế, tôi đã có nhiều lần đi dự giờ thăm lớp, nhiều

lợi ích thiết thực của việc không phải lưu ban là gì ? Có phải đó là vấn đề chạy đua để
đạt tỷ lệ đẹp về vấn đề phổ cập giáo dục hay không ? ! Có người cho rằng, sự chạy đua
về số lượng của công tác phổ cập là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến có
nhiều học sinh yếu kém.
1.2.5. Các nguyên nhân khác:
Ngoài các nguyên nhân cơ bản nói trên , còn có những nguyên nhân khác như :
Có những học sinh học yếu là do ảnh hưởng xấu của các hiện tượng tiêu cực từ
môi trường xã hội tác động đến như lối ăn chơi đua đòi, các trò chơi tiêu khiển các trò
chơi điện tử …
Có những em học yếu do năng lực của các em bị hạn chế.
Có những học sinh học yếu là do hoàn cảnh gia đình có khó khăn, hoặc do sự
thiếu quan tâm của các bậc phụ huynh đối với việc học tập của con em. Có thể nói đây
là một nhóm nguyên nhân từ phía gia đình. Có những em là con của hộ nghèo, không đủ
kinh phí đầu tư cho con cái học hành. Có những gia đình thì ngược lại, bố mẹ lo chạy đua
kinh tế, lo làm ăn theo cơ chế thị trường, thiếu sự quan tâm, chăm lo, quản lý dẫn đến
con cái ăn chơi, đua đòi lêu lổng… Lại có những em học yếu hoặc bỏ học do gặp phải
những hoàn cảnh khác …
Ngoài ra, còn có những học sinh học yếu có ý thức phấn đấu nhưng chưa có
phương pháp, chưa nhận được sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường… dẫn đến các em vẫn không tiến bộ được.
Một điều đáng quan tâm, đó là Ban Giám hiệu nhà trường, các đoàn thể, tập thể
giáo viên đã chú trọng đến công tác này hay chưa? Có nhiều trường hợp, Ban Giám hiệu
và giáo viên đều nhìn thấy tình trạng học sinh học yếu là đáng báo động, song thấy là chỉ
để thấy, nói là chỉ để nói nhưng động thì không động, làm thì không làm hay nói đúng
hơn là chưa thực sự làm, hoặc làm sơ sài, hoặc thiếu phương pháp, thiếu kế hoạch, biện
pháp cụ thể và hiệu quả, hoặc có khi bi quan cho rằng không thể cải thiện được tình hình
, đổ lỗi với nhiều lý do khác…
Tóm lại, kết quả sự học yếu của học sinh có thể là do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Vấn đề mấu chốt của các nhà sư phạm là phải chỉ ra đúng nguyên nhân của từng
trường hợp, đối tượng cụ thể để có biện pháp khắc phục đúng đắn, phù hợp và hiệu quả.

2. Chưa đi sâu tìm hiểu các nguyên nhân học sinh yếu kém để đề ra các giải pháp
phù hợp, sát đối tượng.
3.Việc tổ chức dạy học phụ đạo còn tiến hành một cách chung chung, nhiều lúc
mang tính hình thức, kém hiệu quả. Không phân luồng kỹ đối tượng theo từng môn học,
từng nhóm nguyên nhân Không tổ chức xây dựng và chỉ đạo thực hiện theo một khung
chương trình dạy học phù hợp.
4.Các giải pháp đưa ra nhiều lúc mang tính đối phó cục bộ, hành chính, thiếu tính
hệ thống, thiếu chiều sâu, không thể giải quyết được tình hình.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM GIẢM DẦN TỈ LỆ HỌC SINH YẾU
KÉM VỀ HỌC LỰC
I. Giải pháp:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém, chúng tôi
đã đề xuất và thể nghiệm một số giải pháp mang lại hiệu quả khả quan như sau :
1. Thu thập thông tin, tìm hiểu thấu đáo nguyên nhân học sinh học yếu đối với từng
trường hợp cụ thể để từ đó có biện pháp khắc phục phù hợp.
Điều này đòi hỏi giáo viên phải thực sự tâm huyết, nhiệt tình mới có thể đạt được
thành công. Muốn tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu, cần thường xuyên sát sao với
từng em cụ thể. Ngoài việc tìm hiểu thu thập thông tin tại lớp, tại trường, giáo viên phải
biết thêm tình hình từng đối tượng học sinh lúc ở nhà và ngoài xã hội, từ đó, đề ra các
giải pháp tương ứng, phù hợp.
Biện pháp này có thể tiến hành theo nhiều cách, nhiều hình thức, trong đó có những
hình thức đã áp dụng hiệu quả như sau :
- Đưa vào nội dung sinh hoạt chuyên đề trong tổ chuyên môn của nhà trường, yêu
cầu cơ bản là thu thập thông tin về : nguyên nhân tại sao học sinh học yếu? đồng chí đã
đề xuất những giải pháp gì (nêu cụ thể )? thực hiện như thế nào ? kết quả ra sao ? v. v…
Sau đó cho thảo luận, tổng hợp ý kiến.
- Phát phiếu thăm dò trong học sinh. Nội dung cơ bản của phiếu là: mức độ học lực
thực tế của em ( học sinh ) như thế nào ? em học yếu môn nào ? nguyên nhân học yếu ?
sách vở đồ dùng học tập của em thiếu cái gì ? các bậc phụ huynh quan tâm đến việc học
của em như thế nào ? kế hoạch và thời gian biểu tự học của em ra sao ? sở thích của em là

khóa, giáo viên dạy phụ đạo và kết quả chất lượng trên sổ điểm, chính thức rà soát lập lớp
phụ đạo cho cả năm học.
Trong năm học lớp 6, do nhiều nguyên nhân, có thể chưa hoàn thiện được việc lấp
đầy “ lỗ hổng” kiến thức từ Tiểu học. Chúng ta tiếp tục kiên trì tổ chức phụ đạo cho các
em ở các lớp trên.
- Trường hợp đối với những học sinh lười học, lơi là, buông trôi việc học tập .
Đối tượng này phải tăng cường các biện pháp mềm dẻo liên quan đến nội quy, kỷ
luật kết hợp với thuyết phục, động viên, tạo hứng thú thu hút học sinh quay trở lại với
việc học tập. Giáo viên phải biết được nguyên nhân tại sao các em lười học? tại sao lơi
là ? tại sao buông trôi? Lười thì phải tìm cách rèn cho siêng. Siêng rồi thì tìm cách học
cho tốt. Lơi là thì tăng cường kỷ luật cho nghiêm. Kỷ luật nghiêm nhưng đừng có cứng
nhắc. Buông trôi thì phải níu lại. Đừng thấy thả trôi mà để trôi đi mất. Như thế thì vô
trách nhiệm lắm. Số đối tượng này, nhìn chung, nếu có phương pháp tốt thì hiệu quả tiến
triển nhanh hơn, thường mất ít thời gian công sức hơn.
- Trường hợp đối với các đối tượng chịu ảnh hưởng xấu của các hiện tượng tiêu
cực ngoài xã hội. Trong trường hợp này, phải phối hợp với các lực lượng ngoài xã hội
tìm cách ngăn chặn, giảm thiểu những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến học sinh,tìm cách
giúp các em học tập tiến bộ. Tuy nhiên trước khi phối hợp thì nhà trường phải tự lo phần
mình trước đã. Nghĩa là chăm lo giáo dục cho các em tính tự giác trong học tập, phân
biệt được những cái ngưỡng cần dừng của sự đam mê. Phân biệt được cái gì là có lợi, cái
gì là có hại và hại như thế nào mà phòng mà tránh. Nhà trường tìm cách thu hút giáo
dục học sinh thông qua nhiều hình thức như: tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp ( trong giờ chủ nhiệm, giờ chào cờ, giờ ngoại khoá …), phối hợp trong các hoạt động
Đoàn Đội, các hoạt động xã hội khác … Biểu dương khen ngợi những gương chăm
ngoan học giỏi, những em chấp hành tốt kỷ luật nhà trường, phê phán những em chưa
ngoan và yêu cầu các em tu dưỡng, rèn luyện với những biện pháp giáo dục tương ứng.
- Trường hợp học sinh yếu kém do tác động mặt trái của việc đổi mới phương
pháp dạy học. Trường hợp này, giáo viên phải chú ý điều chỉnh cho phù hợp. Giáo viên
cần tăng cường quan tâm hơn đối với những học sinh năng lực còn hạn chế. Ví dụ như:
trong hoạt động nhóm, khi giao nhiệm vụ cho học sinh, giáo viên bắt buộc tất cả các cá

giảm dần học sinh yếu kém”, triển khai cho các nhóm tìm hiểu thực trạng tình hình,
chuẩn bị viết báo cáo tham luận, định hướng xây dựng báo cáo lý thuyết chuyên đề của
nhóm. Nội dung cơ bản trong tham luận của các giáo viên là phải đánh giá được thực
trạng tình hình học sinh yếu kém của bộ môn mình phụ trách. Tìm hiểu nguyên nhân. Đề
xuất giải pháp thực hiện.
- Bước 2: Buổi sinh hoạt thứ hai: Báo cáo tham luận của giáo viên; tổng hợp
thống nhất báo cáo lý thuyết của nhóm; tiến hành xây dựng, thiết kế bài dạy thể
nghiệm.
Các nhóm cho các thành viên của nhóm báo cáo tham luận đã được chuẩn bị trước
về chuyên đề “Giải pháp giảm dần học sinh yếu kém”. Mỗi giáo viên phải có trách nhiệm
thực hiện tốt tham luận, trình bày rõ ràng trước nhóm, không được đối phó, qua loa, chiếu
lệ. Cá nhân trình bày xong, tập thể nhóm đóng góp ý kiến, tổng hợp thành báo cáo của
nhóm. Trên cơ sở thống nhất báo cáo lý thuyết, nhóm tiến hành xây dựng, thiết kế bài
dạy thể nghiệm.
- Bước 3: Buổi sinh hoạt thứ ba: Dạy thể nghiệm chuyên đề.
Nhóm cử ra một người dạy thể nghiệm, cả nhóm tham gia dự giờ, tiếp tục đánh giá,
rút kinh nghiệm, bổ sung ý kiến. Sau khi cân nhắc ưu nhược điểm của chuyên đề, nếu
thấy có hiệu quả rõ rệt thì đề xuất cho phép nhân rộng, áp dụng đại trà.
- Bước 4 : Nhân rộng đại trà với các phương án hiệu quả đã chọn.
Khi thấy chuyên đề có giá trị thiết thực, được nhà trường cho phép thì các tổ triển
khai nhân rộng theo các phương án đã lựa chọn. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng, phải
thường xuyên chú ý bổ sung hoặc điều chỉnh để chuyên đề tiếp tục được hoàn thiện hơn.
Hồ sơ chuyên đề gồm có :
1. Báo cáo lí thuyết chuyên đề của nhóm bộ môn kèm biên bản thảo luận phần báo
cáo lí thuyết của chuyên đề ( để biết ý kiến từng giáo viên trong nhóm). Nếu kèm thêm
tham luận của giáo viên càng tốt.
2. Giáo án tiết dạy thể nghiệm.
3. Phiếu đánh giá tiết dạy thể nghiệm.
4. Biên bản đánh giá, rút kinh nghiệm tiết dạy thể nghiệm.
Trên cơ sở kết quả của chuyên đề, nhà trường tiến hành tổ chức dạy học.

nhà trường dôi dư giáo viên thì tính toán cân đối số tiết dạy để đảm bảo quyền lợi cho
họ.
Đối với học sinh tham gia học tập, không thu tiền của các em. Ngược lại, cần cố
gắng vận động để hỗ trợ thêm sách vở, đồ dùng học tập cho các em. Đặc biệt quan tâm
các em có hoàn cảnh khó khăn hoặc những em có nguy cơ bỏ học.
3. Xây dựng lòng tin ở giáo viên và học sinh, tận tình giúp đỡ học sinh :
Trước hết là xây dựng lòng tin ở giáo viên:
Giáo viên phải tin tưởng rằng : “ Với tất cả niềm tin, nhất định học sinh sẽ tiến bộ
”. Làm việc có niềm tin thì mới có hy vọng đạt được thành công. Tuyệt đối không được
có tư tưởng bỏ mặc, buông trôi, đến đâu thì đến. Vì vậy, Ban Giám hiệu phải có biện
pháp về công tác tư tưởng, xây dựng niềm tin, động viên khuyến khích đối với giáo viên
trong việc bồi dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém. Giáo viên tin tưởng làm được thì nhẩt
định sẽ có kết quả làm được.
Đối với học sinh, xây dựng niềm tin ở các em cũng có vai trò hết sức quan trọng,
góp phần quyết định sự thành công, sự tiến bộ của các em. Giáo viên phải hết sức chú ý
đến yếu tố tâm lý mà tác động đến tư tưởng tình cảm, và động viên khuyến khích kịp
thời. Công việc này đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, không nóng vội. Giáo viên phải hiểu
được học sinh, căn cứ vào trình độ năng lực thực tế của các em để đề ra những bài tập
hợp lý, vừa sức, đi từ dễ đến khó. Phải cho các em thực hiện nhiều lần đến khi thành
thạo. Phải gây sự hứng thú và niềm tin ở các em, làm sao để các em thấy được: “ Mình
ngày càng tiến bộ, ngày càng làm được nhiều bài tập khó”… thậm chí, “còn có khả năng
học giỏi nữa là khác ”…
Việc xây dựng lòng tin phải kết hợp với sự tận tình, quan tâm chăm sóc giúp đỡ. Sự
giúp đỡ bắt đầu từ những cử chỉ thân thiện, gần gũi, thấu hiểu, từ cách biết gây hứng thú
đến động viên khuyến khích Việc giúp đỡ kết hợp giữa tình cảm với động viên vật chất
như sách, vở, bút, giấy… Làm được như vậy thì hiệu quả nhất định sẽ đến sớm hơn. Thực
tế, việc vận dụng của chúng tôi đã chứng minh điều đó.
4. Thường xuyên chú ý động viên, biểu dương, khen thưởng:
Biện pháp này áp dụng cho cả giáo viên và học sinh dựa trên cơ sở kết quả đánh giá
tổng kết công tác một cách trung thực và đúng đắn.

từng em. Sau đó, tiến hành kiểm tra khảo sát, đánh giá hàng tháng hàng kỳ để nắm vững
diễn biến tiến bộ hay không tiến bộ của học sinh, từ đó có cơ sở đề ra những biện pháp
kịp thời tiếp theo tương ứng và phù hợp. Đồng thời, qua kết quả kiểm tra, khảo sát để
đánh giá hiệu quả của giáo viên trong công tác phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém. Đánh
giá chất lượng học sinh qua báo cáo của giáo viên kết hợp với việc khảo sát thực tế của
nhà trường để đảm bảo tính khách quan, trung thực.
Đối với Chi đoàn giáo viên, nhà trường cũng triển khai Chi đoàn giao nhiệm vụ cụ
thể như Công đoàn và phối hợp với Công đoàn để làm tốt công tác bồi dưỡng phụ đạo
học sinh yếu kém. Có thể phân ra các nhóm phụ trách các khối lớp. Trong mỗi nhóm, đều
có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng .
Ví dụ : Một số đồng chí chuyên trách giảng dạy trên lớp, số khác cung cấp thông
tin ( như tìm hiểu tận các gia đình học sinh v.v…) hỗ trợ sách vở, tài liệu và những vấn
đề liên quan để đảm bảo cho công tác có hiệu quả cao.
Nếu những đơn vị mà số lượng đoàn viên là giáo viên quá ít thì chuyển công việc
này cho Công đoàn.
Đối với công tác Đoàn - Đội trong trường học : cần đưa công tác này thành một
mặt của phong trào thi đua toàn diện trong trường học. Thường xuyên cập nhật thông tin
từ bộ phận chuyên môn để có hình thức biểu dương, khen – chê - thưởng – phạt kịp thời.
Muốn vậy, nhà trường và Đoàn - Đội cần phối hợp với nhau để thống nhất chương trình
hành động, để triển khai trong kế hoạch chung của Liên đội và từng Chi đội. Ưu thế đặc
biệt của Đội là công tác thi đua, công tác động viên khuyến khích bằng hình thức biểu
dương, khen thưởng,giúp đỡ lẫn nhau trong các “ Nhóm bạn cùng tiến”… Phối hợp giữa
chuyên môn và Đoàn Đội duy trì tốt việc hỏi bài cũ dưới cờ trong các buổi chào cờ đầu
tuần.
Đối với các đoàn thể ngoài nhà trường :
Cần bám sát chương trình kế hoạch xã hội hoá giáo dục của địa phương để phối
hợp hành động tuỳ theo đặc trưng từng đoàn thể mà linh hoạt thực hiện cho hợp lý, chú ý
thông tin hai chiều từ nhà trường đến gia đình nơi cư trú để có sự điều chỉnh các giải
pháp một cách phù hợp, kịp thời và hiệu quả.
Đặc biệt chú ý tới các đoàn thể ở cấp khối xóm. Chúng tôi đã đề xuất, mỗi khối

chu đáo, có sức thuyết phục để tiếp xúc với phụ huynh. Đây là việc làm đem lại hiệu quả
nhiều mặt, thuận lợi cho công tác giáo dục nhưng đòi hỏi người thực hiện phải thực sự
tâm huyết, nhiệt tình và có khả năng công tác tốt.
6. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, đôn đốc.
Công tác quản lí ở lĩnh vực này bao gồm nội dung như: kế hoạch chỉ đạo, quản lí tổ
chức thời gian, điều hành nhân sự, quản lí chương trình, hồ sơ, chất lượng…
Để thực hiện tốt “ Giảỉ pháp giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém ” phải có kế hoạch
khả thi. Kế hoạch phải đánh giá đúng thực trạng, phải đưa ra được các giải pháp phù hợp,
hiệu quả. Sau khi có kế hoạch, nhà trường cần tổ chức quán triệt thực hiện tốt. Hàng
tháng, hàng tuần, cần cập nhật tình hình kịp thời. Vào các buổi sinh hoạt chuyên môn và
họp Hội đồng sư phạm, cần bổ sung mục : “ Báo cáo về tình hình học sinh yếu kém ” để
từ đó có cơ sở xử lý các tình huống xẩy ra và đề ra kế hoạch tiếp nối phù hợp. Lúc đầu,
đề xuất mục này có thể hơi gượng ép, nhưng qua một quá trình sẽ trở thành quen và đem
lại hiệu quả công tác tốt hơn.
Công tác bố trí thời gian dạy học phải hợp lí, tránh chồng chéo. Đã tổ chức dạy học
phụ đạo, không thể tổ chức dạy học thêm đại trà. Bởi vì, danh sách học sinh yếu kém
phải tập hợp từ tất cả các lớp gộp lại. Mỗi khối thường tổ chức thành một lớp. Một lớp
có khoảng 20 em. Lịch học phụ đạo của trường chúng tôi là vào thứ 2 hàng tuần, theo sự
thỏa thuận giữa nhà trường và phụ huynh học sinh. Làm như vậy để cha mẹ học sinh biết
được ngày đó là con em mình đi học phụ đạo, để thuận tiện trong việc theo dõi, quản lí.
Điều hành phân công nhân sự phải trên cơ sở công bằng lao động, thực hiện đúng
quy chế. Ở trường chúng tôi, giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém được cộng thêm một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status