Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học ngữ văn ở các trường trung học phổ thông huyện cần giờ, thành phố hồ chí minh - Pdf 29

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do về mặt lý luận
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ đã thúc đẩy nền kinh
tế phát triển năng động hơn có điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế giới. Quá
trình toàn cầu hóa đã và đang rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các
nước. Giáo dục (GD) được xem là nền tảng của sự phát triển khoa học – công
nghệ, phát trỉển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại, đồng thời giữ
vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng
lực của các thế hệ hiện nay và mai sau.
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên qui mô toàn cầu. Bối cảnh trên đã tạo ra
những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây
dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Nhà
trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn
bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì
chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận
thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục
từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển.
Quán triệt Nghị quyết đại hội lần XI, Bộ Giáo dục và Đào tạo( BGD&ĐT)
với sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương đã xây dựng Chiến lược phát triển
giáo dục từ năm 2011 – 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn. Chiến lược
đã cụ thể hoá đường lối phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, xác định mục
tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp về giáo dục trong giai đọan 2011 đến 2020 với mục
tiêu tổng quát như sau:“Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản
và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo
dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại
ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức;

sinh.Việc tìm ra một phương pháp để tăng hiệu quả tiết dạy –học, tôi chọn và
3
nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học Ngữ văn ở các
trường THPT huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm mục đích vừa cung
cấp kiến thức, tri thức cho học sinh vừa thông qua các phương tiện trực quan tạo
nên sự sinh động, hấp dẫn cho tiết học, đồng thời rèn luyện kĩ năng sống và phát
triển nhân cách cho học sinh. Các em được tiếp xúc và cập nhật những cái mới
bằng các phương tiện hiện đại –công nghệ thông tin (CNTT), hình ảnh trực quan
giúp các em có thể hệ thống hóa kiến thức một cách dễ dàng nhất. Trên cơ sở
nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn về việc đổi mới phương pháp dạy và học
môn Ngữ văn ở các trường trung học phổ thông (THPT)trên địa bàn huyện. Và đề
xuất một số phương pháp khả thi nhằm từng bước đổi mới và đóng góp thêm
phương pháp dạy môn Ngữ văn ở các trường THPT của huyện Cần Giờ,TP.Hồ Chí
Minh ngày càng phong phú, hoàn thiện hơn nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng
giáo dục THPT
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử giáo dục, từ lâu, vấn đề dạy học trực quan đã được quan tâm
và nghiên cứu.
Nhà giáo dục người Séc J. A. Cômenxki (1592-1670) là người đầu tiên đưa
ra yêu cầu phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học. Ông kịch liệt phê phán lối
dạy học giáo điều trong nhà trường đương thời và đưa ra “quy tắc vàng ngọc” với
nội dung là: trong quá trình dạy học cần tận dụng mọi giác quan của học sinh để
trực tiếp sờ mó, ngửi, nhìn, nghe những thứ cần thiết trong phạm vi có thể. Theo
ông, cách dạy này sẽ giúp HS dễ dàng nắm tri thức. Quan điểm của Comenxki
đánh dấu bước phát triển quan trọng trong xây dựng lí luận học lúc bấy giờ. Tuy
nhiên, quy tắc này lại được xây dựng trên cơ sở cảm giác luận – một học thuyết
cường điệu vai trò của cảm giác. Đây cũng là hạn chế về cơ sở lí luận của tính trực
quan.
Trong lí luận giáo dục của mình, J.J.Rút Xô (1720-1778) đã chú trọng các
PPDH mang tính trực quan. Dạy học theo ông không chỉ mang đến tri thức cho trẻ

đề quý 3/1999), Quan niệm và xu thế phát triển phương pháp dạy trên thế giới
(Đặng Thành Hưng tổng luận, Viện KHGD, 1994); tác giả Nguyễn Văn Tứ với
5
Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt qua hoạt động đào tạo và nghiên cứu
khoa học (T/c Giáo dục, Số 4/2002) và Sáng kiến kinh nghiệm trong dạy học Ngữ
Văn và đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông (T/c Giáo dục, 2007),
nhóm tác giả Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàn – Cao Đức Tiến với Đổi mới
phương pháp dạy Văn - Tiếng Việt trong trường sư phạm: nhận diện và cách thức
(Giáo viên và Nhà trường, Số 12/2000), tác giả Nguyễn Gia Cẩu với Nhận thức về
đổi mới phương pháp dạy học (T/c Giáo dục, số 253/2011),
Hầu hết các tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về PPDH, PPDH tích
cực, cơ sở thực tiễn và cơ sở lí luận của việc đổi mới PPDH, phân loại các PPDH
một cách logic và có hệ thống; đồng thời đề xuất một số biện pháp đổi mới PPDH ,
cũng như một số quan điểm, phương pháp, kĩ thuật dạy học mới để vận dụng vào
việc dạy học các môn học. Tuy nhiên, các tác giả chưa nghiên cứu chi tiết về
PPTQ và việc sử dụng vào dạy học Ngữ Văn ở trường THPT.
Cùng với nhóm nghiên cứu về PPDH, đổi mới PPDH còn có nhóm nghiên
cứu về PPTQ, phương tiện trực quan của các tác giả sau: Nguyễn Hữu Châu (chủ
biên), Phương pháp, phương tiện, kĩ thuật và hình thức dạy học trong nhà trường,
Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2005; Lê Tràng Định (2003), Phân loại và sử dụng
phương tiện trực quan trong dạy học, T/c Giáo dục, số 54/2003; Tô Xuân Giáp,
Phương tiện dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
Trong nhóm này, các tác giả cũng thể hiện khá chi tiết về khái niệm, phân
loại phương tiện trực quan; tầm quan trọng của việc vận dụng phương tiện trực
quan cũng như các giải pháp sử dụng phương tiện trực quan một cách khoa học
của HS trong giờ học. Ở một số môn học đã nghiên cứu và sử dụng thành công
PPTQ trong giảng dạy như lịch sử, sinh học, hóa học, kĩ thuật. Thế nhưng việc sử
dụng PPTQ trong một giờ học môn Ngữ Văn ở trường THPT thì chưa được đề cập
đến.
Các trường THPT ở huyện Cần Giờ, giáo viên cũng đã từng bước tìm hiểu,

3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết dạy học bằng phương pháp trực quan, ứng dụng để
thiết kế dạy học các phân môn của môn Ngữ văn.
7
- Chương trình và sách giáo khoa dùng để nghiên cứu giảng dạy là sách ban
cơ bản, THPT. Địa bàn thực nghiệm sư phạm là các trường THPT ở huyện Cần
Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu, tìm tòi, tổng hợp các tư liệu làm cơ sở lý luận cho đề tài
nghiên cứu.
- Nghiên cứu các lí thuyết về sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học
môn Ngữ văn.
- Nghiên cứu tài liệu về tổ chức các hoạt động dạy và học sử dụng phương
pháp trực quan trong dạy học ngữ văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát thu thập trực tiếp thông tin về quá trình dạy và học
đang diễn ra ở trường THPT huyện Cần Giờ, TP.HCM và ghi chép trung thực
những nhân tố có liên quan đến đối tượng và mục đích nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra: thu thập, nghiên cứu, phân tích tổng hợp các tài liệu
đã có ở các trường THPT huyện Cần Giờ, TP.HCM, để làm tư liệu cho bài luận
văn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm dạy học: qua nhiều năm bản thân đã
trực tiếp đứng lớp giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường THPT An Nghĩa, làm
công tác quản lí tổ chuyên môn, tổng kết rút kinh nghiệm trong công tác; nay được
tham gia lớp cao học về lí luận và phương pháp giảng dạy Ngữ văn ở các trường
phổ thông, từ những kiến thức lí thuyết đã tiếp thu và những bài học thực tiễn đúc
kết lại thành những ý kiến tham gia xây dựng vào bài luận văn.
5.3. Phương pháp thống kê
Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, xử lý
9
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CẦN GIỜ

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Môn Ngữ Văn
Môn Ngữ văn trước hết là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, là một
trong những môn học chính và quan trọng trong trường phổ thông. Cùng với các
môn học khác, môn Ngữ văn góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông như
Luật Giáo dục (năm 2005, sửa đổi năm 2009) đã quy định: Mục tiêu giáo dục là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,
thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều 27 Luật Giáo dục
2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) cũng đã quy định mục tiêu của giáo dục phổ
thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ
và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Điều đó nói lên tầm quan trọng của bộ môn này trong việc giáo dục quan
điểm, tư tưởng, tình cảm cho HS. Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm công cụ.
Vị trí đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác. Học tốt môn Ngữ
văn sẽ tác động tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng

cảm thụ thẩm mĩ và khả năng phân tích đánh giá văn học ở một mức độ cần cho
ddời sống của con người có văn hoá, khả năng diễn tả những tình cảm và suy nghĩ
của mình bằng tiếng mẹ đẻ một cách trong sáng, trôi chảy, mạch lạc.
Thứ ba, qua các giờ Ngữ văn, xây dựng và bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu
quý văn học, yêu quý tiếng Việt, biết xúc động trước những lời hay ý đẹp, trước
những tâm hồn cao cả, nhân hậu. Môn Ngữ Văn có thể giúp HS hiểu được bản thân
mình cũng như hiểu được người khác một cách tinh tế và sâu sắc.
11
1.1.2. Nhà trưng, trưng THPT, học sinh THPT
Nhà trường: Theo “Từ điển giáo dục học”, nhà trường được hiểu là “tổ chức
giáo dục được coi là một đơn vị có tư cách pháp nhân, đặt dưới quyền một Hiệu
trưởng, nhằm bảo đảm việc giáo dục học sinh, sinh viên (nói chung là người học)
và những hoạt động của học sinh, sinh viên, giáo viên và những thành viên
khác”[16,301].
Trường THPT nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông, là một tổ chức sư
phạm – xã hội. Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ
lớp mười đến lớp mười hai [ 20 tr 17].
Trường THPT được coi là trung tâm giáo dục, văn hóa, góp phần tích cực
vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng. Là một cấp học chịu áp lực
về nhu cầu học tiếp của THCS đang phổ cập cho trên 80% học sinh ở độ tuổi 11 –
15, hoàn thành phổ cập THCS vào năm 2010 của cả nước, chuẩn bị tham gia hoàn
thành phổ cập THPT vào năm 2020.
Sơ đồ: Vị trí, tính chất của trường THPT trong hệ thống giáo dục phổ thông.

Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và
phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có
những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu
biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá

TIỂU HỌC

nhân, để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học
nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn: tổ chức giảng dạy, học
tập và các hoạt động giáo dục khác của chương trình giáo dục phổ thông; quản lý
giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ,
nhân viên; tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý
học sinh theo quy định của Bộ GD-ĐT; thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong
phạm vi cộng đồng; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo
dục, phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục;
quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà
nước; tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội; tự
đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ
quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục; thực hiện các nhiệm vụ, quyền
hạn khác theo quy định của pháp luật.
Học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến 18, là những học sinh đã tốt nghiệp
trung học cơ sở, được tiếp tục học 3 năm ở trường THPT để tiếp nhận thêm tri
thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển nhân cách, chuẩn bị cho việc học lên học tham
gia lao động sản xuất.
1.1.3. Hoạt động dạy học trong nhà trưng phổ thông
Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động quan trọng của nhà trường
phổ thông. Thông qua công tác quản lý của nhà trường, hoạt động dạy học bao
gồm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động dạy của học sinh với sự hỗ trợ của
các lực lượng khác trong và ngoài nhà trường. Bằng cơ sở vật chất và thiết bị dạy
học, hoạt động dạy của giáo viên nhằm cung cấp những tri thức, học vấn cơ bản
cho học sinh, rèn luyện và phát triển các kỹ năng và năng lực của con người, hình
thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Hoạt động dạy và hoạt động học có
mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó phương pháp, hình thức dạy học có tác
dụng tạo nên mối quan hệ giữa hai hoạt động đó. Chính việc sử dụng phương tiện
trực quan trong dạy học môn Ngữ văn là một phương tiện để nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động dạy học.

thông qua sự tri giác trực tiếp bằng giác quan.
14
Phương pháp trình bày trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh hoạ ,trình
bày và thực tiễn cụ thể
Minh hoạ thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh hoạ
như bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với việc hỗ trợ của những thiết bị kỹ thuật( công
nghệ thông tin): chiếu phim, đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video, sơ đồ tư duy.
Trình bày thực tiễn: học sinh tái hiện những hoạt cảnh, biểu diễn: kịch, hát,
hò, ngâm …
1.1.5. Phương pháp trực quan trong hoạt động dạy học
1.1.5.1. Phương pháp
Thuật ngữ phương pháp (PP) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có
nghĩa là con đường, cách thức, phương tiện để đạt mục đích, vì vậy trong mọi hoạt
động thực tiễn, nếu con người có phương pháp đúng, biết sử dụng đúng phương
pháp sẽ dẫn đến kết quả theo mong muốn; nếu ngược lại sẽ không đạt được mục
đích đề ra.
1.1.5.2.Phương pháp dạy học (PPDH)
Có thể nói PPDH là một khái niệm cơ bản trong lý luận dạy học, là công cụ
quan trọng hàng đầu của công nghệ dạy học. Tuy nhiên cho đến nay vẫn có nhiều
cách định nghĩa khác nhau về PPDH.
Trong quyển sách Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nhà xuất
bản Giáo dục, tác giả Thái Duy Tuyên đã trích dẫn từ một số từ liệu nước ngoài về
khái niệm về PPDH:
PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ
giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (Iu.K.Babanxki,1983).
PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo nhằm tổ chức
hoạt động nhận thức và thực hành của HS, đảm bảo HS lĩnh hội nội dung học vấn
(I.Ia.Lecne.1981).
Còn theo Nguyễn Ngọc Quang trong Phương pháp dạy đại học, năm 1978,

, nhưng tựu chung lại: PPTQ có thể được hiểu là một PPDH; trong đó GV sử dụng
các đồ dùng dạy học, các phương tiện dạy học giúp HS tri giác trực tiếp sự vật,
16
hiện tượng một cách sinh động và gây hứng thú HS, trên cơ sở đó mà hình thành
khái niệm
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRỰC QUAN TRONG
DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
1.2.1. Trực quan và quá trình nhận thức
Phương pháp trực quan được xây dựng trên cơ sở con đường nhận thức của
triết học Mác – Lênin. Lênin viết:“ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là quá trình của sự nhận thức chân lý khách
quan”.
Theo Lênin, quá trình nhận thức chia thành 2 giai đoạn: trực quan sinh động
(giai đoạn nhận cảm tính) và tư duy trừu tượng (giai đoạn nhận thức lý tính).
Giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu của nhận thức. Thông qua
các giác quan, con người nhận thức hình ảnh của các sự vật, hiện tượng một cách
trực tiếp từ thực tiễn. Chính vì vậy mà giai đoạn nhận cảm tính rất sinh động và
mang lại những tài liệu đáng tin cậy trong quá trình nhận thức.
Giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn sau của quá trình nhận thức. Nó
không nhận thức trực tiếp sự vật, hiện tượng mà là nhận thức gián tiếp. Tuy nhiên,
nhận thức này xa hơn sự vật nhưng lại sâu sắc hơn vì nó nhận thức đi sâu vào bản
chất của sự vật.
Giai đoạn nhận cảm tính gồm 3 hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác: trong quá trình nhận thức, hình ảnh của sự vật, hiện - tượng được
ghi lại một cách trực tiếp thông qua các giác quan và nó chỉ phản ánh những thuộc
tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng. Cảm giác có vai trò là “ nguồn gốc của mọi sự
hiểu biết”. Lênin đã viết:“ Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan”.
Tri giác: là một hình thức của nhận thức được nâng cao hơn so với cảm giác,
nó phản ánh nhiều mặt, nhiều thuộc tính của sự vật, hiện tượng, mang lại cho nhận

tiện ngôn ngữ không nhiều do các em ít đọc sách, báo, các tác phẩm văn học …,
khả năng vận dụng chưa linh hoạt. Các em có ý tưởng nhưng chưa biết cách triển
18
khai và vận dụng ngôn ngữ để diễn đạt, lúng túng trong cách lựa chọn từ ngữ cho
phù hợp với nghĩa, vừa đúng vừa hay. Đặc biệt các em lại không có thói quen ghi
nhận những cách diễn đạt hay mà em đã được biết.
Phương tiện trực quan sẽ giúp các em tiếp xúc nhiều hơn với vốn ngôn ngữ,
với cách diễn đạt văn chương. Thông qua những tình huống giúp các em vận dụng
vốn ngôn ngữ trình bày những suy nghĩ, ý tưởng của mình và có thể nhận xét cách
trình bày, diễn đạt của người khác.Từ đó rèn luyện khả năng vận dụng ngôn ngữ và
làm giàu thêm cho vốn từ ngữ của chính mình.
1.2.3. Cơ sở tâm lý học và vấn đề tạo hứng thú nhận thức cho học sinh
qua việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn Ngữ văn
Nhà văn M.Gorki cho rằng :"Văn học là nhân học" vậy mà một thực trạng
đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn. Thực trạng này lâu nay
đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của
những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí
và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong những năm
gần đây mới thấy những sai sót quá cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, suy diễn
theo cảm tính, viết mà không hiểu những gì mình đã viết, và cần thiết phải có
những thay đổi về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay. Qua công tác giảng
dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, GV nhận thấy có rất nhiều những
biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh, cụ thể là:
Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến
công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với
việc học văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy
văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển
Văn. Các em còn phải dành thời gian học các môn khác. Phần lớn phụ huynh khi
đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán,
Lý, Hóa. Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã chọn hướng cho

phương pháp dạy học bằng phương tiện trực quan, Các GV đã nhận thấy:
PPTQ giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn
luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất
20
chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phần
sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết
vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh
khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông
tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo các PPTQ
trong dạy học sẽ giúp học sinh có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ
động, sáng tạo và phát triển tư duy.
1.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CẦN GIỜ
1.3.1. Khái quát về các trưng THPT huyện Cần Gi và hoạt động dạy
học môn Ngữ văn
1.3.1.1 Một số nét khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của
huyện Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh.
Huyện Cần Giờ là huyện ven biển duy nhất của Thành phố Hồ Chí Minh, là
một trong năm huyện ngoại thành, là một trong hai mươi bốn quận huyện thuộc
Thành phố Hồ Chí Minh.
Huyện Cần Giờ nằm phía Đông Nam thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm
huyện Cần Giờ cách trung tâm thành phố HCM 50 km, chiều dài từ Bắc xuống
nam là 35 km, từ Đông sang Tây là 30 km. Huyện Cần giờ nằm giữa 02 cửa sông
chính là Lòng Tàu và Soài Rạp; có bờ biển dài trên 20 km, huyện Cần Giờ có hệ
thống sông ngòi chằng chịt phủ khắp các mảng rừng phòng hộ rộng, được bao bọc
bởi các sông lớn, cũng là ranh giới tự nhiên. Bắc giáp huyện Nhà Bè (cửa ngõ vào
TP. Hồ Chí Minh) và huyện Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) ranh giới là sông Lòng
Tàu và sông Đồng Tranh. Nam giáp biển Đông. Đông giáp Bà Rịa -Vũng Tàu,

hò vè dân gian khá phong phú.
Tuy nhiên, trước năm 1975, Cần Giờ chỉ là một căn cứ quân sự với những
lõm dân cư nghèo nàn, lạc hậu; là vùng đất chết vì thuốc độc khai quang (những
năm 1964, 1970) và bom đạn; là vùng đất mới còn lại của đất nước ngang với các
huyện miền núi, hải đảo hẻo lánh; là một vùng dân cư luôn bị sức ép bởi các chính
sách đàn áp của nhà cầm quyền từ thời phong kiến thực dân cũ, mới. Người dân
22
ở đây có cá tính hết sức đặc sắc, đầy khí phách song trình độ văn hóa, khoa học, kỹ
thuật còn rất hạn chế.
Cần Giờ do môi trường sinh thái vốn khu biệt với nội ô Sài Gòn, các xã
và ấp cũng khu biệt với nhau trong địa bàn huyện, chỉ có sông nước phủ đầy là nét
chung nhất. Đặc trưng này tiếp tục chi phối sự phát triển xã hội Cần Giờ. Nhìn
chung, các xã ngư nghiệp như Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An có một nét khác
biệt khá rõ rệt: Thạnh An là xã biệt lập hoàn toàn với các nơi khác, nằm ngay cửa
biển Cần Giờ rộng lớn. Tại đây người dân sống bằng nghề đánh bắt cá, nói chung
là bám biển, với hàng trăm ghe cào, te, nổi tiếng với nghề đánh cá cơm hàng năm.
Cần Thạnh và Long Hòa có nhiều nét tương đồng, song thế mạnh của mỗi xã khác
nhau. Nghề đáy song cầu Long Hòa phát triển mạnh hơn Cần Thạnh, Cần Thạnh
có nghề lưới phát triển hơn Long Hòa. Các xã phía Bắc như Bình Khánh, An Thới
Đông, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp thì có ưu thế về phát triển nông nghiệp. Xã Bình
Khánh là xã thuần nông trồng lúa quy mô lớn nhất huyện (chiếm 40% đất đai trồng
trọt toàn huyện, khoảng 2000 ha). Xã An Thới Đông hướng về xã nông ngư với
việc làm ngư nghiệp (đăng, đáy) trên sông rạch. Xã Lý Nhơn làm nông nghiệp
trồng lúa lâu đời. Xã giáp cửa biển - sông Soài Rạp - phát triển nghề muối, nghề cá
phong phú, đa dạng. Xã Tam Thôn Hiệp trồng cói, làm nghề rừng, khai thác hải
sản dưới tán rừng.
Đặc trưng của từng xã do điều kiện môi sinh, nghề nghiệp quy định, do
sông rạch cắt và bách bức, do đó tiềm năng và hiện thực phát triển không đồng đều
nhau, có sự khu biệt không những giữa Huyện và Thành phố mà khu biệt khá rõ
ràng giữa các xã trong huyện. Xã Lý Nhơn có truyền thống kháng chiến chống

1980, ngày càng phát triển đến nay [21;123 -136]. Trong những năm qua sự nghiệp
giáo dục và đào tạo của huyện Cần Giờ phát triển khá nhanh, học sinh đến trường
học ngày càng tăng, mạng lưới trường lớp tích cực điều chỉnh mở rộng, số lượng
trường tăng.
Hiện nay toàn huyện có 11 trường Mẫu giáo và Mầm non, 15 trường Tiểu
học và 01 trường chuyên biệt, 08 trường THCS, 03 trường THPT. Nhìn chung
mạng lưới trường lớp của huyện Cần Giờ trong những năm qua được bố trí tương
24
đối phù hợp, rãi khắp trên các địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến
trường.
Trong nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền
địa phương, sự cố gắng nổ lực của ngành giáo dục, sự nghiệp giáo dục & đào tạo
của huyện đã có nhiều chuyển biến về quy mô phát triển, mạng lưới trường lớp
được phát triển ngày một tốt hơn, đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể về mặt số lượng thì thực tế cho thấy ở những vùng khó
khăn vùng ven biển do điều kiện sống, điều kiện học tập còn hạn chế nên số trẻ đi
học không nhiều, tỷ lệ bỏ học cao. Hơn nữa, ở các địa phương luôn có nhu cầu mở
trường, lớp để con em được đi học gần hơn và thu nhận học sinh đông hơn, điều đó
đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo và địa phương trăn trở vì nguồn kinh phí, đội
ngũ giáo viên đào tạo không kịp với yêu cầu phát triển. Đó chính là sự bất cập giữa
yêu cầu phát triển và điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay.
1.3.1.3.Hoạt động dạy học môn Ngữ Văn ở các trường trung học phổ thông
tại huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh
a. Về quy mô trường – lớp
Năm học 2013 -2014 toàn huyện có 03 trường công gồm 62 lớp, có 2325
học sinh. Tỷ lệ học sinh đúng độ tuổi đạt 85.69%.
Đặc điểm giáo dục của 3 trường.
Ba trường được nghiên cứu: Trường THPT Bình khánh là trường nằm khu
vực phía bắc, cửa ngõ của huyện Cần giờ tính đến năm học này trường 12 tuổi.
Trường THPT Cần Thạnh là trường thuộc trung tâm huyện tính đến năm học này

(2012-2014)
Stt
Năm học
Số lớp
Số học sinh
1
2011 - 2012
22
952
2
2012 - 2013
20
738
3
2013-2014
18
540

Trích đoạn Sử dụng phương tiện trực quantrong dạy học môn Ngữ văn đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Sử dụng phương tiện trực quantrong dạy học môn Ngữ văn phù hợp với điều kiện của giáo viên và nhà trường hiện nay Đa dạng hóa các phương tiện trực quan Phù hợp với điều kiện của giáo viên, học sinh và các trường THPT huyện Cần Giờ Sử dụng phương pháp trực quantrong việc cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status