Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa của di sản dân ca ví dặm xứ nghệ - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN THỊ LAN
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA
CỦA DI SẢN DÂN CA VÍ - GIẶM XỨ NGHỆ LUN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH


lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của tỉnh nhà, vì vậy tôi đã theo học
chương trình đào tạo Cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam khóa 20 của
trường Đại học Vinh (2012 - 2014).
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy giáo,
cô giáo khoa Lịch sử, khoa Sau đại học - Trường Đại học Vinh đã trang bị
kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến PGS. TS. Trần Văn Thức
- Trưởng khoa Lịch sử, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn tốt nghiệp này.
Xin gửi lời cảm ơn tới các nhạc sĩ, cô chú, anh chị, các bạn đang làm
việc tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch Nghệ An, Trung tâm Bảo tồn và
phát huy di sản dân ca xứ Nghệ đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập, tạo điều
kiện thuận lợi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình,
bạn bè đã luôn sát cánh, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời
gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả Trần Th Lan
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 6
4. Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 7

3.1. Thực trạng kho tàng di sản dân ca ví - giặm hiện nay 63
3.1.1. Thực trạng tư liệu di sản dân ca ví - giặm xứ Nghệ 63
3.1.2. Những nguy cơ đối với di sản dân ca ví - giặm xứ Nghệ 64
3.1.3. Nguyên nhân làm mai một dân ca ví - giặm xứ Nghệ 66
3.2. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy di sản dân ca ví - giặm 67
3.2.1. Hoạt động sưu tầm, nghiên cứu về dân ca ví - giặm 67
3.2.2. Hoạt động xây dựng câu lạc bộ đàn hát dân ca, phát huy sự
lan tỏa của dân ca trong đời sống nhân dân 68
3.2.3. Phát huy dân ca ví - giặm xứ Nghệ bằng hình thức sân khấu hóa 69
3.2.4. Hoạt động dạy và học hát dân ca trong nhà trường và phát
sóng trên Đài phát thanh - truyền hình Nghệ An 70
3.2.5. Các hoạt động tuyên truyền, quảng bá và lồng ghép đưa Dân
ca ví - giặm vào các chương trình Liên hoan, hội diễn văn
nghệ trong và ngoài tỉnh 71
3.3. Đánh giá công tác bảo tồn và phát huy dân ca ví - giặm xứ Nghệ 72
3.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy di sản dân ca ví -
giặm xứ Nghệ 75
3.4.1. Một số quan điểm, định hướng cho công tác bảo tồn và phát
huy di sản dân ca ví - giặm xứ Nghệ đối với 2 tỉnh Nghệ An
và Hà Tĩnh 75
3.4.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy di sản dân ca ví - giặm
xứ Nghệ 79
KẾT LUN 93
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC

2
- Cần có những đánh giá và nhận diện giá trị lịch sử - văn hóa của di
sản văn hóa phi vật thể ví - giặm trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân
dân xứ Nghệ, qua đó, làm sáng tỏ đặc điểm tình hình lịch sử, xã hội thời kỳ
mà di sản ví - giặm ra đời và phát triển.
- Khẳng định nét “độc đáo” riêng có của ví - giặm, hình dung được nét
đẹp văn hóa trong tư tưởng, tình cảm và tâm hồn người dân xứ Nghệ.
- Qua đó, xem xét các xu hướng vận động, các quan điểm thẩm mỹ
khác nhau, xác lập, định hướng có tính dự báo, kiến nghị các giải pháp để bảo
tồn và phát huy hiệu quả dân ca xứ Nghệ trước xu thế hội nhập là một việc
làm cấp bách và đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn khoa học “Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa của di sản dân
ca ví - giặm xứ Nghệ” được thực hiện sẽ phần nào giải quyết những vấn đề
đang đặt ra đối với di sản dân ca ví - giặm xứ Nghệ hiện nay.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nhận thức kho tàng di sản văn hóa dân gian Việt Nam là tài sản quý giá
của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có
vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ nhiều
năm nay, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến vấn đề sưu tầm, nghiên cứu,
đánh giá các giá trị của di sản văn hóa dân gian nhằm gìn giữ và phát huy văn
hóa truyền thống của đất nước. Ngày nay, không ai có thể phủ nhận tầm quan
trọng của giá trị văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội và con người Việt
Nam, nơi lưu giữ những nét độc đáo, những giá trị tinh hoa của bản sắc văn
hóa dân tộc.
Sau nhiều năm nỗ lực nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị của di
sản, Việt Nam đã có được những thành công đáng ghi nhận, 8 di sản văn hóa
phi vật thể lần lượt được tổ chức UNESCO công nhận là những di sản phi vật
thể đại diện cho nhân loại. Niềm vinh hạnh đó đã tiếp thêm sức mạnh, niềm
4
Hàm với “Dân ca Nghệ Tĩnh” (3 tập), Hát giặm Nghệ Tĩnh của Nguyễn Đổng
Chi, Dân ca Nghệ Tĩnh của Vi Phong, Hoàng Thọ và Lữ Minh Dân với “Dân
ca các dân tộc thiểu số” Trong đó phải kể đến công trình “Âm nhạc dân
gian xứ Nghệ”của 3 tác giả Hoàng Thọ - Lê Hàm - Thanh Lưu, được xem là
một tập đại thành về kho tàng dân ca của xứ Nghệ, là một tài liệu quý, góp
phần giúp các thế hệ hiện nay và mai sau có điều kiện tiếp cận và tiếp thu để
bảo tồn và phát huy vẻ đẹp của các làn điệu dân ca của quê hương.
Có thể thấy, các công trình trên đã lưu giữ các tác phẩm về dân ca với
nhiều thể loại, trong đó tập trung chủ yếu là ví và giặm thông qua công tác
điền dã, ghi chép của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, các nhạc sĩ. Một
số công trình đã tìm hiểu về các đặc điểm của ví và giặm từ nhiều góc cạnh
khác nhau chứ chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu, tìm hiểu thấu đáo về
giá trị lịch sử và văn hóa của hát ví - giặm, giúp cho người đọc có thể hiểu hết
thời đại xã hội mà ví - giặm đi qua cũng như nét duyên dáng trong văn hóa,
trong cốt cách tâm hồn con người xứ Nghệ mà chỉ có ví - giặm mới diễn tả
được hết.
Với định hướng làm cơ sở lý luận cho công tác bảo tồn và phát huy di
sản dân ca ví - giặm xứ Nghệ và cung cấp một số luận chứng khoa học cho
công tác lập hồ sơ đệ trình tổ chức UNSCO công nhân “Dân ca ví - giặm xứ
Nghệ” là di sản phi vật thể đại diện cho nhân loại, năm 2010, Nghệ An đã
triển khai đề tài khoa học cấp tỉnh “Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ
Nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay”. Lần đầu tiên, ví
và giặm được nghiên cứu một cách có hệ thống, thông qua các cuộc khảo sát,
điền dã tới 28 huyện, thị Nghệ An và Hà Tĩnh (các cơ quan văn hóa cấp
huyện, xã, tới nghệ nhân hát dân ca, tầng lớp học sinh, sinh viên, người dân )
tới các tỉnh bạn như TP Bắc Giang, TP Hồ Chí Minh, TP Đà Lạt , nhằm thu
thập các thông tin, dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá mức độ yêu
6
đậm bản sắc văn hóa xứ Nghệ (Đỗ Thị Kim Liên) Tuy vậy, các bài viết vẫn
chưa nêu một cách có hệ thống, chuyên sâu các giá trị của dân ca xứ Nghệ;
các ý kiến còn phân tán, theo những mục đích nghiên cứu và vận dụng riêng
của từng tác giả.
Nhìn chung, các công trình, các bài nghiên cứu luận bàn về di sản ví -
giặm từ trước đến nay đều là những kho tư liệu hết sức quý giá cho chúng tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Trên cơ sở hệ thống hóa các nguồn tư
liệu, đồng thời căn cứ vào kết quả điều tra, sưu tầm thực tế từ các địa phương
có thực hành ví - giặm sẽ bổ cứu và dần làm sáng tỏ cho vấn đề lịch sử và văn
hóa cần nghiên cứu. Hy vọng với luận văn khoa học “Tìm hiểu giá trị lịch sử
và văn hóa của di sản dân ca ví - giặm xứ Nghệ” sẽ góp phần giải quyết thỏa
đáng những vấn đề mà các công trình, đề tài nghiên cứu khác chưa hoặc ít đề
cập đến.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu về loại hình dân ca ví - giặm, làm sáng
tỏ giá trị lịch sử và giá trị văn hóa, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp mới
có tính khả thi nhằm bảo tồn và phát huy di sản dân ca ví - giặm xứ Nghệ.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu, tìm hiểu giá trị lịch sử và giá trị văn hóa của dân ca ví -
giặm xứ Nghệ, khẳng định giá trị độc đáo, riêng có của di sản qua chặng
đường phát triển của lịch sử cũng như tâm hồn, cốt cách, bản sắc văn hóa của
người dân xứ Nghệ.
- Thông qua tìm hiểu 2 giá trị lịch sử và văn hóa sẽ góp phần làm cơ sở
dữ liệu cho các cấp lãnh đạo, ngành văn hóa của tỉnh nhà trong quá trình lập
hồ sơ đề nghị tổ chức UNESCO vinh danh “Dân ca ví - giặm xứ Nghệ” là di
sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

- Phương pháp lôgic 8
Ngoài ra, có sử dụng một số phương pháp hỗ trợ khác như:
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp chuyên gia
6. Đóng góp của đề ti
- Luận văn cố gắng làm nổi bật nét đặc sắc của di sản ví - giặm trên
phương diện nghiên cứu hai giá trị lịch sử và văn hóa. Tính đến thời điểm
luận văn này được tiến hành thì chưa có một công trình nghiên cứu hoàn
chỉnh nào về đề tài này ra đời. Bởi vậy, qua công tác khảo sát, điền dã, phân
tích của luận văn thì lần đầu tiên, giá trị lịch sử và văn hóa của di sản dân ca
ví - giặm xứ Nghệ được tìm hiểu và nghiên cứu một cách có hệ thống, có tính
khoa học, góp phần khẳng định giá trị độc đáo, riêng có của dân ca xứ Nghệ,
không hề lẫn lộn với dân ca của địa phương nào khác.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần để các cấp các ngành quản
lý, văn hóa tham khảo nhằm định hướng cho công tác bảo tồn và phát huy di
sản dân ca trong thời gian tới.
7. B cục của đề ti
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của đề tài được trình bày trong 3 chương như sau:
Chương 1: Vài nét về dân ca ví - giặm xứ Nghệ
Chương 2: Di sản dân ca ví - giặm với hai giá trị đặc sắc: Giá trị lịch sử
và văn hóa
Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị
dân ca ví - giặm xứ Nghệ. 10
Theo tác giả Trần Quang Hải
(
1
)
: Dân ca là những bài ca không biết ai
là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống
hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc
vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.
Tóm lại, dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền
trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu tiên bài hát có
thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người, từ đời này qua
đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được
gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng và bền vững cùng với thời gian. Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao giá trị các sáng tác dân gian,
một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể. Năm 1958, tại Hội
nghị cán bộ văn hóa, Người khẳng định: “Những câu tục ngữ, những câu vè,
ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng. Các sáng tác ấy rất hay mà
lại ngắn, chứ không “trường thiên đại hải”, dây cà ra dây muống. Các cán
bộ văn hóa cần phải giúp sáng tác của quần chúng. Những sáng tác ấy là hòn
ngọc quý”.
Dân ca của mỗi vùng, mỗi miền đều có đặc điểm riêng về âm điệu và
phong cách riêng biệt. Sự khác nhau này tùy thuộc vào môi trường sống, hoàn
cảnh địa lý và đặc biệt là ngôn ngữ. Ví dụ: dân ca Quan họ khác với dân ca xứ
Nghệ, dân ca các dân tộc Tây Nguyên khác với dân ca Nam Bộ
Nhiều làn điệu dân ca đã đạt tới trình độ nghệ thuật cao và có sức hấp
dẫn, truyền cảm mạnh mẽ, được phổ biến sâu rộng như: Dân ca quan họ Bắc
Ninh, Hò Huế

sắc và độc đáo, tựa như:
Anh đến giàn hoa thì hoa kia đạ (đã) nở
Anh đến bến đò thì đò đạ (đã) sang sông
Anh đến tìm em thì em đạ (đã) lấy chồng
Em yêu anh như rứa, hỏi có mặn nồng lấy chi [28,72].
(trích bài Ví Ghẹo)
Hay da diết và gợi nhớ như:
Người ơi! Bốn mùa xuân hạ thu đông 12
Thiếp ngồi canh cửi chỉ trông bóng chàng
Cũng có khi bộc trực và thẳng thắn đến độ:
Đã thương thì thương cho chắc
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
Đừng như con thỏ đứng đầu truông
Khi vui giỡn bóng
Khi buồn bỏ đi. [19, 54].
Ðó là dân ca của Nghệ Tĩnh hay còn gọi là dân ca xứ Nghệ, chủ yếu là
hát ví và giặm. Dân ca xứ Nghệ như một làn điệu hội tụ "khí chất" của nhiều
làn điệu dân ca. Có một chút đa tình của Quan họ, chút bâng khuâng, vương
buồn của Ca Huế, chút sâu lắng của Ca trù và cái khoẻ khoắn, rắn rỏi, chất
phác của dân ca Nam bộ. Nhưng trên hết, ví - giặm mang "khí chất" của chính
người Nghệ, của những “mô, tê, răng, rứa” đậm hồn xứ sở và là "đặc sản"
tinh thần của nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
Có thể hiểu, dân ca xứ Nghệ là thể loại dân ca do chính những người
lao động Nghệ Tĩnh sáng tác nên, được lưu truyền từ đời này sang đời khác
bằng phương thức truyền miệng, ghi chép và mang đậm chất văn hóa địa
phương của Nghệ Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh)
1.2.1. Về tên gọi dân ca xứ Nghệ

Nghệ Tĩnh được xem là vùng đất cổ của non sông đất nước, kể từ khi
nước nhà có tên là Văn Lang. Trải qua bao thăng trầm với bao lần thay đổi tên
gọi hành chính về phủ - châu - trại - thừa tuyên… Nghệ Tĩnh vẫn là một dải
đất chạy từ khe Nước Lạnh đến tận đèo Ngang, để lại nhiều ấn tượng đặc biệt
so với các vùng miền trong cả nước. Lẽ dĩ nhiên, trong nét chung để làm nên
non sông gấm vóc Việt Nam thì nét riêng, sắc thái riêng của mỗi địa phương
vốn có cũng là chuyện bình thường. Xứ Nghệ là một trong những vùng đất
mang nhiều sắc thái riêng, độc đáo đó. 14
Về địa hình: Nghệ Tĩnh là vùng đồng bằng trung du rộng lớn, có núi
non trùng điệp mênh mông, sách Đại Nam nhất thống chí còn gọi là “đất tứ
tắc”, ý nói bốn bề hiểm trở. Đúng là một vùng đất choáng ngợp bởi chằng chịt
hệ thống núi non, sông biển… tạo nên những nét đẹp kỳ thú hệt như những
bức tranh thủy mặc nên thơ, khêu gợi những tâm hồn sinh thơ ca nhưng cũng
tạo nên vẻ gân guốc, rắn rỏi cho thiên nhiên và con người xứ Nghệ.
Về khí hậu: Có lẽ cũng không có địa phương nào có dạng thời tiết khắc
nghiệt như vùng đất xứ Nghệ “nắng rát mặt, rét cắt da”, hạn hán, lũ lụt luôn
thường trực trên mảnh đất này, để tồn tại, con người xứ Nghệ phải vượt qua
nhiều khó khăn, vất vả:
Gió mưa chi lắm hỡi trời
Lúa mùa toan gặt lại trôi đầy đồng
Con đau vợ đói nhìn chồng
Khóc thảm, khóc thiết đỏ tròng con ngươi [48,125].
Về mặt dân tộc và ngôn ngữ, xứ Nghệ cũng là một vùng đáng chú ý bởi
có nhiều tộc người sinh sống, ngôn ngữ - văn hóa nơi đây dù đã trải qua hàng
ngàn năm tiến hóa, biến chuyển vẫn còn lưu giữ khá nhiều dấu vết cổ.
Về tính cách của cư dân xứ Nghệ, dù không đến nỗi biệt lập song
cũng có những nét độc đáo riêng do sự chi phối của hoàn cảnh. Tác giả Bùi

điệu của những bài hát, mà thổ âm của mỗi nơi lại một khác, cho nên việc ra
đời những làn điệu dân ca phù hợp với chất giọng của mỗi vùng, miền là một
điều dễ hiểu. Từ đó mà làm nên một vùng dân ca xứ Nghệ đậm đà bản sắc.
Thơ - ca - nhạc dân gian xứ Nghệ có thể ví như một dòng sông bắt
nguồn từ những mạch sâu kín qua nhiều thời đại, mang theo tâm tư, tình cảm,
ước mơ của con người trên mảnh đất vốn đã khô cằn sỏi đá. Từ cuộc sống đầy
vất vả mưu sinh, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với những cơ cực
mà người xứ Nghệ đã bắt đầu bằng những lời ca, tiếng hát, trước là để cho 16
tinh thần sảng khoái, tươi vui, cho công việc trở nên nhẹ nhàng, sau thành
những cuộc hát đối đáp đầy ngẫu hứng, giao duyên được cả cộng đồng tham
gia, đến nỗi mà:
Hát cho đổ quán xiêu đình,
Cho long lanh nước, cho mình lấy ta
Hát cho ngày rạng đông ra,
Mai về quan bỏ nhà pha cũng đành [53, 65].
1.2.3. Vài nét về qúa trình hình thành và phát triển dân ca ví - giặm
xứ Nghệ
Ví - giặm là sản phẩm của cộng đồng người Việt ở xứ Nghệ, sáng tạo
nên trong quá trình sinh hoạt và lao động sản xuất, mang đậm bản sắc địa
phương, là thổ sản tinh thần phản ánh trung thành nhiều khía cạnh độc đáo
của người dân xứ Nghệ: chịu cực, chịu khổ, nhẫn nại, vừa giàu nghị lực, vừa
chan chứa tình người.
Cũng bởi xuất phát từ trong nhân dân lao động mà việc xác định dân ca
xứ Nghệ ra đời từ thế kỷ nào cũng khó chính xác. Theo nhiều nguồn tư liệu để
lại, căn cứ vào một ít bài hát giặm phản ánh tình hình thời Lê - Trịnh mà các
nhà nghiên cứu đã sưu tầm được ở Hà Tĩnh, từ thế kỷ XVII - XVIII, dân ca
xứ Nghệ đã phát triển và trở thành hình thức trình diễn dân gian phổ biến

Hiện nay, dù các hình thức sinh hoạt hát dân ca theo không gian diễn
xướng dân gian không còn, thay vào đó là không gian ở các câu lạc bộ, các
hội thi, hội diễn, trong trường học… song, dân ca xứ Nghệ đang thực sự hồi
sinh mạnh mẽ với một dung mạo mới, giàu giá trị nghệ thuật mà không làm
mất đi bản sắc và giá trị vốn có thủa nào.
1.2.4. Một số đặc điểm chủ yếu của dân ca Ví - Giặm xứ Nghệ
1.2.4.1. Làn điệu Ví
Hát Ví là một đặc sản trong gia tài văn hóa tinh thần của xứ Nghệ, gắn
liền với nghề nghiệp, có đủ các loại ví như ví phường vải, ví phường nón, ví 18
phường đan, ví phường củi, ví phường có bao nhiêu nghề nghiệp thủ công
thì có bấy nhiêu loại ví đó. Có rất nhiều cách hiểu về thể loại ví, có người cho
rằng ví là ví von, so sánh như:
Cổ tay em trắng như ngà
Mắt em sắc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
Theo GS Đinh Gia Khánh: “Nhân dân gọi là hát ví, có lẽ hát ví hay
dùng lối ví von để trao đổi tình cảm với nhau. Giọng ví von rất gần với giọng
thơ, âm giai và nhịp điệu. Nếu chỉ hiểu đơn thuần như thế thì đâu gọi là đặc
sản của riêng xứ Nghệ. Vì hát ví như thế thì dân ca Việt Nam ở mọi vùng
miền cũng đều có lối ví von và so sánh.
Từ ví còn có thể hiểu là tiếng địa phương có nghĩa là “với”. Trong bài
Nhớ của Hồng Nguyên, chúng ta bắt gặp từ này ở một câu thơ có nghĩa như
vậy: Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc (Độc lập nhớ rẽ về chơi với nhau). Từ
“ví” có nghĩa là “với” hoàn toàn phù hợp với hình thức hát đối đáp giữa nam
và nữ của loại dân ca này (hát với nhau).
Cũng có ý kiến cho rằng: “ví” là “vói” và hát ví là hát với, hát vói, tức

lục bát biến thể cũng thêm phần chải chuốt, điêu luyện, thể hiện tình cảm
phong phú, phức tạp, nhiều vẻ, nhiều câu mang tính trí tuệ, chơi chữ và có
chất “trạng”:
Đá có rêu bởi vì nước đứng
Núi bạc đầu bởi tại sương sa
Thấy anh em muốn giao ca
Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời
Thấy anh em muốn trao lời
Sợ chòm mây bạc giữa trời vội tan [48, 80].

Trích đoạn Nguyên nhân làm mai một dân ca ví giặm xứ Nghệ Hoạt động sưu tầm, nghiên cứu về dân ca ví giặm Hoạt động xây dựng câu lạc bộ đàn hát dân ca, phát huy sự Các hoạt động tuyên truyền, quảng bá và lồng ghép đưa Dân Đánh giá công tác bảo tồn và phát huy dân ca ví giặm xứ Nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status