BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ LOAN
THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN
CÂY LẠC; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU CUỐN LÁ ĐẦU ĐEN
(Archips asiaticus Walsinhham) HẠI LẠC VỤ XUÂN
2014 Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP 1
NGHỆ AN, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN Đề tài “ Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học,
sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus
Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” được thực
hiện từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 09 năm 2014 là sản phẩm của quá trình lao
động khoa học không mệt mỏi của tôi. Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trương Xuân Lam. Những kết
quả đạt được đảm bảo tính chính xác và trung thực về khoa học.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Nghệ An, ngày 20 tháng 09 năm 2014
Học viên Phạm Thị Loan
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình nghiên cứu sâu hại và thiên địch của chúng trên sinh quần ruộng lạc
ở thế giới và Việt Nam 7
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc 7
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc 10
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc 12
1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc 19
1.2.2.3. Các nguyên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu
cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) 20
1.3. Những vấn đề tồn tại chưa được giải quyết 25
1.4. Những nội dung đề tài tập trung nghiên cứu 25
1.5. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An và huyện Nghi
Lộc 26
1.5.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 26
1.5.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nghi Lộc 27
số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên lạc trồng vụ Xuân năm 2014 tại
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 50
v
3.3.5.1. Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với bọ đuôi
kìm nâu đen (E. annulata) trên lạc trồng thuần giống L14 vụ xuân chính năm 2014
tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 51
3.3.5.2. Mối quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với
mật độ bọ 3 khoang (Ophionea ishii Habu) trên lạc giống L14 trồng đất thấp vụ
Xuân chính năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 53
3.3.5.3. Tỷ lệ Ong kén nâu đơn (Microplitis prodeniae) ký sinh sâu non sâu cuốn lá
đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc giống L26 vụ Xuân chính năm 2014 tại
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 55
3.4. Đặc điểm hình thái, sinh học của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus ) 58
3.4.1. Đặc điểm hình thái các pha phát dục 58
3.4.2. Tập tính hoạt động sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) 60
3.4.3. Vòng đời sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) 60
3.4.4. Thời gian sống của trưởng thành sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus) 63
3.4.5. Sức sinh sản của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) 63
3.5. Hiệu lực của một số loại thuốc sinh học trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips
asiaticus Walsinhham) 64
3.5.1. Khảo sát hiệu lực của thuốc sinh học đối với sâu cuốn lá đầu đen (Archips
asiaticus W.) trong phòng thí nghiệm 65
3.5.2. Hiệu lực của thuốc sinh học đối với sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus
W.) hại lạc trên đồng ruộng 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC ẢNH 76
Trang
Bảng 3.1. Thành phần và mức độ phổ biến các loài sâu hại lạc vụ Xuân 2014 tại
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 34
Bảng 3.2. Tỷ lệ các họ, loài sâu hại lạc vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh
Nghệ An 36
Bảng 3.3. Thành phần và mức độ phổ biến các loài thiên địch của sâu hại lạc vụ
Xuân 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 39
Bảng 3.4. Tỷ lệ các họ, các loài thiên địch của sâu hại lạc vụ Xuân 2014 tại huyện
Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 41
Bảng 3.5. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14
ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An 43
Bảng 3.6. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14
vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 45
Bảng 3.7. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên các
giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 48
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14
ở ruộng trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh
Nghệ An 49
Bảng 3.9. Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với bọ đuôi
kìm nâu đen (E. annulata Fabricius) trên lạc trồng thuần, giống L14 vụ Xuân chính
năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 52
Bảng 3.10. Mối quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với
mật độ bọ 3 khoang (Ophionea ishii Habu) trên lạc giống L14 trồng đất thấp vụ
Xuân chính năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 54
Bảng 3.11. Tỷ lệ Ong kén nâu đơn (Microplitis prodeniae) ký sinh sâu non sâu cuốn
lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc giống L26 vụ Xuân chính năm 2014 tại
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 56
Bảng 3.12. Kích thước các pha phát dục của sâu cuốn lá đầu đen 58
Bảng 3.13. Vòng đời sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) 61
đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc giống L26 vụ Xuân chính năm 2014 tại
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 57
Hình 3.8. Vòng đời sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) 62
Hình 3.9. Hiệu lực của thuốc sinh học đối với sâu cuốn lá đầu đen 65
trong phòng thí nghiệm 65
Hình 3.10. Hiệu lực của thuốc sinh học đối với sâu cuốn lá đầu đen (Archips
asiaticus Walsinhham) trên đồng ruộng 67
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có nguồn gốc từ
Nam Mỹ. Lạc là cây đứng thứ 2 trong tổng số các loại cây lấy dầu thực vật, nó chỉ
đứng sau cây đậu tương, là cây có giá trị kinh tế cao đã và đang được nhiều nước
trên thế giới quan tâm [30] .
Cây lạc có giá trị dinh dưỡng cao, là nguồn lipit và protein quan trọng đối với
con người. Thân lá lạc còn là nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc; tỷ lệ các chất
đường, đạm trong thân lá khá cao, đặc biệt trong khô dầu lạc có chứa tới 50%
protein có thể cung cấp đầy đủ thức ăn cho gia súc. Dầu lạc cũng được dùng trong
nhiều ngành công nghiệp. Trong số các cây trồng hằng năm thì lạc có khối lượng
xuất khẩu đứng thứ 2 sau cây lúa [33].
Tuy nhiên năng suất và sản lượng lạc ở nước ta nói chung còn chưa ổn định do
ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh, sâu bệnh, các biện pháp kỹ thuật, giống ,
trong đó sâu hại cũng là 1 trong những nguyên nhân rất quan trọng. Cho đến thời
điểm từ năm 2005 đến 2007 năng suất lạc của nước ta mới chỉ dừng lại ở mức trung
bình (1,77 tấn – 1,80 tấn/ha); trong khi đó năng suất lạc của Trung Quốc đạt từ 3,04
– 3,21 tấn ha, của Mỹ từ 3,21 – 3,51 tấn/ha, Ixrael 6,7 tấn/ha [32]. Bởi thế, việc đẩy
năng suất lạc ở nước ta lên ngang tầm với các nước nói trên đang là một thách thức
asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xác định được thành phần sâu hại lạc và thiên địch của chúng, một
số đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus
Walsinhham) từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá hại lạc một cách hợp lý
để tăng năng suất cây lạc, giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học trên cánh đồng ở
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Các loài sâu hại trên lạc và thiên địch của chúng.
- Sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) hại lạc. 3
* Phạm vi và nội dung nghiên cứu
- Thu thập và xác định thành phần sâu hại lạc và thiên địch của chúng (côn
trùng ký sinh sâu hại lạc và côn trùng bắt mồi).
- Xác định đặc điểm sinh học của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)
trong điều kiện phòng thí nghiệm
- Xác định diễn biến mật độ của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) và
mối quan hệ của nó với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên cây lạc
tại Nghi Lộc, Nghệ An.
- Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc sinh học trừ sâu cuốn lá lạc và
đề xuất biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá lạc một cách hợp lý.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Kết quả điều tra nghiên cứu góp phần bổ sung thành phần sâu hại lạc và
thiên địch của chúng ở vùng nghiên cứu, bổ sung những dẫn liệu về đặc điểm sinh
học, sinh thái học của sâu cuốn lá (Archips asiaticus W.). Đây là những tài liệu
khoa học để tập huấn, giúp người sản xuất lạc nhận biết về sâu hại lạc và thiên địch
mồi, giữa ký sinh với vật chủ và đó chính là cơ sở tạo nên sự cân bằng sinh thái.
Tuy nhiên, khả năng tự lập lại cân bằng của hệ sinh thái là cũng có giới hạn và chịu
sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường trong đó có sự tác động của con người.
Con người đôi khi vì muốn thu lợi nhuận kinh tế cao nên bằng nhiều hoạt động đã
làm cản trở khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái, dẫn tới mất cân bằng sinh thái,
gây suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Muốn quản lý tốt các hệ sinh thái
thì nguyên lý cơ bản cần tuân thủ đó là giữ cho các hệ sinh thái này không nằm
ngoài khả năng tự điều chỉnh của nó.
Nói về tác hại của một loài sinh vật nào đó, thực ra là xét dưới góc độ lợi ích
của nó đối với con người. Trong tự nhiên không có loài sinh vật gây hại cũng không
có loài sinh vật nào hoàn toàn có lợi. Thực ra, mỗi loài sinh vật đều có một vị trí
nhất định trong tự nhiên, chúng thực hiện những chức năng riêng trong chu trình
chu chuyển hóa vật chất của tự nhiên.
5
Ở vòng tuần hoàn vật chất các loài sinh vật tồn tại hài hòa với nhau khi hệ sinh
thái hoạt động bình thường. Do đó, đảm bảo cho hệ sinh thái tồn tại và phát triển.
Trên cơ thể cây trồng và xung quang các loài cây trồng có rất nhiều loài sinh vật
khác nhau cùng tồn tại. Trong số đó, có loài cần thiết cho hoạt động sống của cây
trồng, thiếu chúng cây không thể sống được một cách bình thường. Bên cạnh đó, có
loài sinh vật lấy cây trồng làm thức ăn (đây là các loài sinh vật gây hại - dịch hại
cây trồng). Thế nhưng không phải tất cả các sinh vật lấy cây trồng làm thức ăn đều
là dịch hại đối với con người: Côn trùng ăn cỏ dại trở thành có ích. Côn trùng bắt
mồi, ký sinh là yếu tố điều hòa quần thể dịch hại, tạo điều kiện cho dịch hại giữ
được số lượng thích hợp trong hệ sinh thái.
Như vậy “Sinh vật có lợi hay có hại không phải là thuộc tính của một sinh vật
nào đó mà là đặc tính của loài đó trong mối quan hệ nhất định của mỗi hệ sinh
thái”. Các loài sinh vật vừa là điều kiện tồn tại của nhau vừa là yếu tố hạn chế nhau
trong mỗi chuỗi dinh dưỡng của chu trình tuần hoàn vật chất (Hà Quang Hùng,
1998) [8].
đều là tạm thời và không bền vững như mọi mối quan hệ sinh học khác.
* Biến động số lượng côn trùng
Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến đổi số lượng và các dạng cơ
chế điều hòa số lượng, Viktorov (1967) đã tổng hợp khái quát thành sơ đồ chung
của biến động số lượng côn trùng. Một trong những đặc trưng của quần thể là mật
độ cá thể trong quần thể được xác định bởi sự tương quan giữa các quá trình bổ
sung thêm và giảm bớt số lượng cá thể. Tất cả là các yếu tố gây biến động đều tác
động đến quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ lệ tử vong của quần
thể và sự di cư của các cá thể. Các yếu tố vô sinh mà trước hết là điều kiện thời tiết,
khí hậu tác động đến côn trùng một cách trưc tiếp hoặc gián tiếp thông qua thức ăn,
thiên địch. Sự điều hòa thông qua các mối quan hệ tác động qua lại đó đã phản ánh
ảnh hưởng của mật độ lên sức sinh sản, tỷ lệ tử vong và di cư, trong đó tồn tại mối
quan hệ trong loài và bằng sự thay đổi tích cực của thiên địch và đặc điểm của thức
ăn. Sự tồn tại của các mối quan hệ này đảm bảo những thay đổi đền bù cho sự bổ
sung và giảm bớt số lượng cá thể của quần thể. Chính sự tác động thuận nghịch đó
7
đã san bằng những sai lệch ngẫu nhiên trong mật độ quần thể (Hà Quang Hùng,
1998) [8].
Số lượng của côn trùng đặc biệt là các loài sâu hại thường có sự dao động từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Số lượng lần sau gia tăng có khi đến hàng trăm lần và
kéo dài một thời gian rồi lại đột ngột giảm xuống đến mức thấp nhất, duy trì ở mức
độ đó trong một thời gian. Sự sinh sản hàng loạt của các loài sâu hại phần lớn không
tiếp diễn theo tiến trình tự nhiên. Qúa trình biến đổi xảy ra do tác động của các yếu
tố môi trường, chủ yếu là các yếu tố thời tiết, khí hậu và mối quan hệ vật ăn thịt -
vật mồi.
Ở côn trùng ăn thịt, sự điều chỉnh số lượng quần thể quan trọng là sự cạnh
tranh trong loài. Hiện tượng ăn thịt lẫn nhau thường xuất hiện trong quần thể chủ
yếu do thiếu thức ăn. Sự tác động đó dẫn đến sự ổn định không bền vững của số
lượng quần thể. Vai trò quan trọng của vật ăn thịt được coi là yếu tố điều hòa số
loài và các nước phương Đông có 26 loài. Theo Gazzoni (1994) [36] thì trên tất cả
các loại đậu đỗ vùng nhiệt đới có 81 loài sâu hại, trong đó 34 loài sâu hại mầm và
thân, 25 loài hại lá, 22 loài hại quả và hạt. Tùy theo vùng địa lý khac nhau mà các
loài sâu hại chính cũng khác nhau.
Theo Turnipseed and Kogan (1976) [49] thì sâu hại đã tấn công vào tất cả các
bộ phận trên cây đậu đỗ như rễ, nốt sần, mầm, thân, lá, hoa, quả và hạt. Nhóm hại
trong đất thường gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lạc như: mối, rệp sáp, kiến,
sùng trắng Nhóm sâu gây hại trên mặt đất cũng rất nghiêm trọng, bao gồm một số
loài thuộc bộ cảnh vảy như sâu xám cắn cây con, sâu xanh, sâu khoang, sâu cuốn lá,
rầy, rệp, bọ trĩ. Ngoài ra còn có nhện đỏ, sâu róm chỉ đỏ (Mohamed, 1981) [41].
Ghosh and Dray (1981) [37] khi nghiên cứu về sâu hại lạc đã kết luận rằng rệp
muội đen (Aphis craccivora Koch) là loài gây hại chủ yếu trên cây họ Đậu ở quanh
vùng Calcutta, làm giảm năng suất và chất lượng quả một cách nghiêm trọng.
Theo Smith and Barfield (1982) [48], có 360 loài sử dụng cây lạc làm thức ăn,
khoảng 6 % số loài gây hại quan trọng. Các loài này được phân thành các nhóm:
nhóm hại trong đất và nhóm hại trên mặt đất. Trong đó nhóm sâu chích hút khoảng
100 loài nhưng ảnh hưởng đến năng suất chủ yếu là các loài rệp muội đen (Aphis
9
craccivora Koch), rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.), bọ trĩ (Caliothrips
inducus Bagnall).
Hill and Waller (1985) [38] cho biết ở vùng nhiệt đới có 8 loài sâu hại lạc chủ
yếu và 40 loài gây hại thứ yếu, những loài gây hại đặc biệt nguy hiểm như: rệp
muội đen (Aphis craccivora Koch), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xám
(Agrotis ypsilon Rott), sâu xanh (Helicoverpa armigera Hubner), ban miêu
(Epicauta impressiconnis Pic), sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus
Walsinhham) và một số loài khác thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera). Các loài sâu hại
này được mô tả chi tiết về phổ ký chủ, phạm vi phân bố, triệu chứng, tác hại. Một số
đặc điểm hình thái, sinh học và các biện pháp phòng trừ ngoài đồng ruộng.
Nghiên cứu của Wallis and Byth (1986) [50] đã xác định trên cây lạc chỉ tính
độ sâu ≥ 2-3 con/hàng ở cả vùng đất khô và đất ẩm. Còn các loài chích hút lá di cư
vào ruộng lạc trong tháng 6 và tháng 7, chúng có thể tiếp tục tồn tại cho đến tận
tháng 9 và gây hại làm cho lá bị biến màu, cây còi cọc không phát triển được. Đối
với sâu xanh, sâu khoang và sâu cuốn lá thì nguy cơ bị giảm năng suất là rất lớn ở
giai đoạn sau trồng từ 60-90 ngày, bởi vì lúc này sâu ăn trụi lá ảnh hưởng lớn đến
khả năng quang hợp tích lũy chất khô. Cần phải theo dõi và kiểm tra thường xuyên
trên đồng ruộng trong suốt tháng 7 và tháng 8, nếu mật độ sâu vượt quá 3-5
con/hàng ở vùng đất khô và 6-8 con/hàng ở vùng đất ẩm thì cần thiết phải dùng
thuốc hoá học.
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc
Thiên địch cũng là một yếu tố quan trọng góp phần làm giảm mật độ sâu hại
trên đồng ruộng. Chúng điều hòa số lượng chủng quần dịch hại, giữ dịch hại ở
dưới ngưỡng và duy trì như những mắt xích trong mạng lưới dinh dưỡng. Sự thiếu
vắng kẻ thù tự nhiên là một trong những yếu tố làm cho sâu hại gia tăng nhanh về
mặt số lượng và dễ phát sinh thành dịch.
Ở Ấn Độ, loài sâu xanh (Helicoverpa armigera) bị 37 loài ký sinh,
trong đó 8 loài có vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng sâu xanh. Ở Châu
Phi, sâu xanh bị 23 loài ký sinh, trong đó có 20 loài thuộc bộ cánh màng, 3 loài
11
thuộc bộ hai cánh; sâu khoang bị 46 loài ký sinh, gồm 36 loài thuộc bộ cánh màng
và 10 loài thuộc bộ hai cánh (Waterhouse and Norris, 1987) [51].
Ranga Rao and Shanower (1988) [44] đã xác định được 67 loài thiên
địch của sâu hại lạc tại vùng Andhra Pradesh (Ấn Độ), trong đó có 44 loài côn trùng
và nhện lớn bắt mồi, 23 loài côn trùng ký sinh. Trên sâu khoang tìm thấy 6 loài ký
sinh, 7 loài ký sinh trên sâu xanh, 3 loài ký sinh sâu đo, 4 loài ký sinh sâu cuốn lá.
Trong giai đoạn 1984-1993, trung tâm ICRISAT đã nghiên cứu về ký sinh sâu
non của sâu vẽ bùa và sâu khoang hại lạc cho thấy tỷ lệ sâu bị ký sinh trung bình
trong mùa mưa là 34% và sau mùa mưa là 40%, nhờ đó đã làm giảm đáng kể mật
độ sâu vẽ bùa. Đối với sâu khoang, khi điều tra đã bắt gặp ong ký sinh trứng
trĩ, nhện thì nay chúng đã và đang trở thành những loài quan trọng.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc
Cây lạc được du nhập vào trồng ở nước ta từ lâu đời và được trồng phổ biến ở
mọi miền đất nước. Do có giá trị kinh tế cao nên diện tích trồng lạc ngày càng được
mở rộng, trình độ sản xuất và thâm canh ngày càng được nâng cao.
Cùng với việc đưa các giống lạc mới năng suất cao, áp dụng công nghệ phủ
nilon, trong nhiều năm qua các cơ quan khoa học nông nghiệp đầu ngành như Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trung tâm Khuyến nông - khuyến ngư Quốc gia,
Trung tâm Nghiên cứu và phát triển đậu đỗ và các Trung tâm khuyến nông, khuyến
lâm cấp tỉnh đã dày công nghiên cứu xây dựng nhiều quy trình sản xuất lạc khoa
học đồng thời đầu tư kinh phí, thời gian, công sức triển khai hàng trăm mô hình
trình diễn tại hầu khắp các tỉnh có diện tích lạc lớn để chuyển giao các tiến bộ kỹ
thuật cho bà con nông dân nên năng suất, sản lượng lạc của nhiều địa phương đã
được cải thiện đáng kể. Một số tỉnh như Nam Định đạt năng suất bình quân 37,7
tạ/ha, Nghệ An 29 tạ/ha, Hưng Yên 27,7 tạ/ha, TP Hồ Chí Minh 28,7 tạ/ha, Trà
Vinh 28,8 tạ/ha, Khánh Hoà 26 tạ/ha (Võ Thanh Mai, 2008) [31].
Bên cạnh đó cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về cây lạc nhằm nâng cao năng
suất, sản lượng và phẩm chất lạc. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã
tập trung vào các lĩnh vực như lai và chọn tạo giống lạc, ảnh hưởng của các biện
13
pháp canh tác đến năng suất và phẩm chất lạc, các nghiên cứu về sâu hại và các biện
pháp phòng chống sâu hại để tăng hiệu quả kinh tế, ít gây ô nhiễm môi trường. Tuy
nhiên vẫn còn không ít khó khăn gây trở ngại cho việc sản xuất lạc ở nước ta như
kiến thức canh tác của nông dân còn hạn chế, chưa xác định rõ được vị trí của cây
lạc trong cơ cấu cây trồng, giá thành trên thị trường còn thấp, chưa có hệ thống tiêu
thụ và chế biến ổn định. Đồng thời những khó khăn về điều kiện thời tiết, khí hậu
và sâu bệnh phá hại cũng là nguyên nhân chính cản trở sự phát triển sản xuất lạc ở
nước ta, làm cho diện tích trồng lạc của cả nước trong những năm qua tăng chậm;
Tại Nghệ An, Hà Bắc, Hà Tây đã ghi nhận được 46 loài sâu hại trên ruộng lạc
và 4 loài gây hại trong kho, bổ sung thêm 14 loài mới so với kết quả điều tra cơ bản
của Viện Bảo vệ Thực vật (1967-1968), đó là các loài sâu non bổ củi, bọ hung, bọ
trĩ (Caliothrips inducus Bagnall), ruồi đục lá (Lyriomyza sativae Blanchard),
mối (Odontotermes sp.). Trong đó 5 loài mới ghi nhận thuộc nhóm chích hút,
gồm 1 loài rầy xanh (Empoasca motti Pruthi), 3 loài bọ trĩ hại lá lạc (Scirtothrip
dorsalis Hood, Frankliniella schultizei Trybom, Thrips palmi Karny) và 1 loài bọ
trĩ hại hoa (Megalurothrips usitatus Bagrall). Các loài sâu ăn lá phổ biến nhất là
sâu khoang, sâu xanh, sâu đục quả đậu đỗ và sâu cuốn lá (Phạm Thị Vượng và
ctv, 1995) [25]. Kết quả điều tra theo dõi biến động và tác hại của chúng trong một
số năm cho thấy chúng thường phát sinh cao vào lúc lạc 4 lá tới ra hoa và vào chắc
(từ trung tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 5). Điều này cũng phù hợp với đặc điểm
của các loài sâu hại lá khác. Kết quả bẫy sâu khoang bằng pheromone tại 2 vùng Hà
Tây và Hà Nội cho thấy có 2 đỉnh cao vào đầu tháng 4 và đầu tháng 5.
Riêng tại huyện Diễn Châu (Nghệ An), trên nền luân canh lúa - lạc đã xác định
được 23 loài sâu hại lạc (Phạm Thị Vượng, 2000) [28]. Trong đó nổi bật lên một số
loài sâu hại chính như rệp muội đen, sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá đầu đen, bọ
trĩ, rầy xanh lá mạ, sâu róm chỉ đỏ. Đặc biệt là loài rệp muội đen đã trở thành mối
lo ngại lớn cho người nông dân trồng lạc tại Nghệ An.
Nguyễn Văn Cảm (1993) [4] đã ghi nhận được 43 loài côn trùng hại lạc ở một
số tỉnh trồng lạc của miền Nam. Nguyễn Thị Chắt (1996) [5] cũng cho biết, tại một
số vùng chuyên canh lạc như Tràng Bảng, Gò Dầu - Tây Ninh, Đức Hoài - Long
An, Củ Chi - TP Hồ Chí Minh, trong vụ xuân (1995-1996) diện tích lạc bị hại tới
81% và năng suất bị giảm 18% do sâu khoang gây nên. Nông dân ở đây thường