Tư tưởng hồ chí minh về lãnh đạo công tác tư tưởng giá trị lý luận và thực tiễn - Pdf 29

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có biết
bao vĩ nhân, anh hùng mà cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và nhân cách của họ tiêu
biểu cho lý tưởng, ý chí, khát vọng của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy. “Hồ Chí Minh” - những
chữ ấy đã trở thành một biểu tượng, một niềm tự hào của dân tộc ta và của nhân loại
tiến bộ trên toàn thế giới.
Dân tộc ta sinh ra Hồ Chủ tịch, và chính Người - Anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hoá thế giới - người mà tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa
Liên Hợp quốc (UNESCO) đánh giá là đã “để lại dấu ấn trong quá trình phát triển
của nhân loại” - đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Cuộc
đời và sự nghiệp, tư tưởng và lý luận cách mạng mà Người để lại cho dân tộc ta và
nhân loại là một di sản vô cùng quý giá. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là
kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho
1
cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng
và dân tộc ta”.
Chính vì vậy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam.
Tư tưởng của Người bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn, phong phú, trong đó
vấn đề “Lãnh đạo công tác tư tưởng” chiếm một vị trí quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhiều lần khẳng định: Tư tưởng dẫn đầu; Đảng phải quan tâm đến giáo dục
tư tưởng và lãnh đạo quá trình tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Người nhấn
mạnh: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi
cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư

lên chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt
Nam, Cuba… Sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta 28
năm qua do Đảng lãnh đạo đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, toàn diện.
Nhờ đó cũng cố được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, định hướng của Đảng
ta trên con đường đi tới CNXH. Điều này đặc biệt quan trọng về mặt tư tưởng và lý
luận đối với toàn Đảng và toàn dân ta. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được,
quá trình xây dựng và phát triển đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề gay gắt và thách
thức. Những yếu kém, hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý và điều hành của bộ
máy nhà nước các cấp. Từ đó gây bức xúc và giảm lòng tin của nhân dân đối với
khả năng cầm quyền và lãnh đạo của Đảng. Trong khi đó căn bệnh tham nhũng,
lãng phí, quan liêu của cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi, gây bức xúc cho quần
chúng nhân dân: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan
liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục
diễn biến phức tạp” [16, tr.173]. Những hiện tượng đó là tiếng chuông cảnh báo để
chúng ta phải làm tốt hơn nữa lãnh đạo công tác tư tưởng.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về Lãnh đạo công tác tư tưởng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
nhằm để đấu tranh thắng lợi các âm mưu, diễn biến và thủ đoạn của các thế lực thù
địch; xây dựng, bảo vệ và phát triển thành công nền chủ nghĩa xã hội ở nước ta; xây
3
dựng Đảng ta vững mạnh về tư tưởng chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin, sự
kiên định trong tư tưởng và hành động của quần chúng nhân dân hiện nay.
Lãnh đạo công tác tư tưởng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng,
là một đặc trưng chủ yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo công tác tư
tưởng không chỉ là định hướng, chỉ đạo, giáo dục, vận động nhân dân thực hiện các
chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, mà còn là phương thức thu hút nhân
dân vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đó.
Trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, một nội dung quan trọng là xây
dựng về tư tưởng chính trị, trình độ trí tuệ, nâng cao năng lực, phương thức cầm

gia, Hà Nội, 2012); “Góp phần nghiên cứu một số vấn đề phát triển của Việt Nam”
của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Tuyển tập Đào
Duy Tùng”, Tập 1 (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Sơ khảo lược sử công
tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung
ương (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “70 năm công tác tư tưởng – văn
hóa của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn” của Ban Tư tưởng - Văn
hóa Trung ương (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Một số văn kiện của
Đảng về công tác tư tưởng – văn hóa” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương ,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000).
Các công trình của các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy về công tác tư tưởng
và lãnh đạo tư tưởng, như: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận”
của Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (kỷ yếu hội thảo khoa học) (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng văn hóa”
của Hữu Thọ (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Hồ Chí Minh văn hóa và
đổi mới” của GS. Đinh Xuân Lâm, PTS Bùi Đình Phong (Nxb Lao động, Hà Nội,
1998); “Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam” của
Đào Duy Quát (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Nguyên lý công tác tư
tưởng” của Lương Khắc Hiếu (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, Tập 1);
“Nguyên lý công tác tư tưởng” của Đào Duy Quát, Lương Khắc Hiếu (Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002, Tập 2); “Giáo trình công tác tư tưởng của Đảng” của
Đỗ Ngọc Ninh, (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,2003); “Công tác tư tưởng” của
Hoàng Tùng (Nxb. Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1986); “Văn hóa chính trị
và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay” của Phạm Ngọc
5
Quang (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Công tác tư tưởng và vấn đề đào
tạo cán bộ làm công tác tư tưởng” của PGS.TS Trần Thị Anh Đào (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2010); “Những vấn đề lý luận về công tác tư tưởng của Đảng
hiện nay” của TS Ngô Huy Tiếp (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011); “Góp
phần đổi mới công tác lý luận - tư tưởng” của Trần Trọng Tân (Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996); “Về công tác tư tưởng - văn hóa” của Trần Trọng Tân (Nxb.

của công tác tư tưởng – văn hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”
(Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 5, 2005); Nguyễn Viết Thông với bài “Công tác tư
tưởng với phát triển bền vững” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 12, 2004); Tô Huy
Rứa với bài viết “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong giai đoạn
phát triển mới” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 6, 2006).
Các công trình, sách, báo, bài viết nói trên đã góp phần làm rõ hơn tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng cũng như những hoạt động của Người trên mặt
trận tư tưởng, sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo và định
hướng về lĩnh vực tư tưởng trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay. Tuy
nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu, phân tích tư tưởng của Hồ Chí
Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng và giá trị của tư tưởng này trong giai đoạn hiện
nay. Chính vì vậy, trên tinh thần cầu thị và tiếp thu những kết quả của những nhà
nghiên cứu đi trước và mong muốn tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề
tài này để đi vào tìm hiểu tư tưởng của Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng;
giá trị lý luận và thực tiễn mà tư tưởng đó mang lại, góp phần vào việc vận dụng tư
tưởng đó của Người trong việc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận của Hồ Chí
Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng.
- Nghiên cứu, phân tích, hệ thống về thực hành lãnh đạo công tác tư tưởng
của Hồ Chí Minh.
- Phân tích và đánh giá những giá trị mà tư tưởng này mang lại trong tình
hình mới.
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích, làm rõ, tổng hợp những quan điểm, nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng.
7
- Hệ thống và phân tích những thực hành lãnh đạo công tác tư tưởng của Hồ
Chí Minh.

- Luận văn chủ yếu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử đề làm rõ vấn đề.
- Ngoài ra luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội -
nhân văn:
Phương pháp tổng hợp: sử dụng phương pháp tổng hợp trong quá trình tìm
kiếm thông tin, tài liệu có liên quan; sắp xếp, phân loại chúng theo các luận điểm
liên quan đến nội dung chính của luận văn.
Phương pháp phân tích: trên cơ sở các thông tin và tài liệu liên quan đã được
tổng hợp, tiến hành nghiên cứu các vấn đề nhằm nêu bật được nội dung chính của
luận văn. Từ đó rút ra nhận định, đánh giá cho luận văn.
Phương pháp logic - lịch sử: được sử dụng trong luận văn khi viện dẫn
những thực hành và quan điểm của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực lãnh đạo tư tưởng.
Qua đó đánh giá những giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng đó đối với công
cuộc đổi mới hiện nay.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu góp phần làm rõ, tổng hợp, hệ thống và luận giải những
nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng, những thực
hành lãnh đạo công tác tư tưởng của Người, đồng thời góp phần tổng kết, đánh giá
những giá trị đặc sắc về lý luận và thực tiễn của tư tưởng này đối với việc xây dựng
Đảng trên mặt trận tư tưởng ở nước ta hiện nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy chuyên
ngành Hồ Chí Minh học và Chính trị học về lãnh đạo công tác tư tưởng; bên cạnh
đó luận văn đưa ra một số vấn đề tham chiếu cho Đảng ta trong lĩnh vực tư tưởng
mà đặc biệt là vấn đề lãnh đạo công tác tư tưởng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái luận chung về lãnh đạo công tác tư tưởng
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng

chất có tổ chức cao, dưới “hai sức kích thích chủ yếu” là lao động và ngôn ngữ. Sau
đó, do nhu cầu không ngừng nhận thức để cải biến thế giới, phục vụ con người và
giao tiếp xã hội, sản xuất tinh thần ra đời và ngày càng phát triển. Quá trình sản
xuất tinh thần này sinh ra ý thức bảo vệ lợi ích con người. Ở xã hội nguyên thủy
chưa xuất hiện giai cấp, đời sống tinh thần còn nghèo nàn, song lúc đó đã có một
dạng tâm lý xã hội - như tình cảm, tâm trạng mong muốn… của con người - hình
thành tự phát dưới dạng ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống.
Có quan điểm cho rằng, xã hội nguyên thủy đã có tư tưởng. Điều đó chỉ
đúng, nếu hiểu khái niệm tư tưởng theo nghĩa ban đầu của nó. Thực ra, xã hội
nguyên thủy mới chỉ có “mầm mống tư tưởng”. Khi xã hội phát triển, phân chia
thành giai cấp, có sự tách rời giữa lao động trí óc và lao động chân tay, tầng lớp trí
thức xuất hiện thì mới có các nhà tư tưởng bảo vệ lợi ích cho những người mà mình
đại diện một cách có ý thức. Có thể thấy rõ sự xuất hiện tư tưởng trong xã hội Hy
Lạp cổ đại - quốc gia có chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình - từ những “mầm mống
tư tưởng” như thế nào. Trong cuốn Lược khảo Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa, giáo sư Đỗ Tư cho rằng: “Trên quan điểm khoa học, vào thế kỷ
XI - IX trước công nguyên, hình thái kinh tế - xã hội Hy Lạp về cơ bản vẫn còn là
hình thái kinh tế cộng đồng nguyên thủy và sự xuất hiện của các nhân tố giai cấp,
nhà nước cũng chỉ mới là bắt đầu. Tình hình kinh tế - xã hội Hy Lạp trong thời kỳ
này được phản ánh trong hai tập sử thi Iliát và Ôđixê mà theo truyền thuyết thì tác
giả là Hôme” [51, tr.11]. Dù tác giả đó là có thật hay không, thì một điều chắc chắn
phải có một hoặc một số ít người có trình độ tri thức nhất định mới có thể sáng tác
ra các bản trường ca đó, thể hiện rõ ý muốn bênh vực lợi ích của nô lệ, đầy tớ -
11
những người phải lao động dưới sự cai quản khắc nghiệt và dã man của chủ nô. Vào
thế kỷ VIII - VI trước công nguyên, trong xã hội Hy Lạp, giai cấp và nhà nước mới
chính thức ra đời thì các tập sử thi nói trên đã từ truyền miệng được ghi lại bằng chữ
Hy Lạp cổ ở thế kỷ VI trước công nguyên. Việc ghi chép đó chỉ có các nhà trí thức
mới làm được, trên cơ sở kế thừa và phát triển những mầm mống tư tưởng xã hội
trước đó.

số tầng lớp nhân dân.
Lẽ dĩ nhiên, trong xã hội có giai cấp thì tư tưởng bao giờ cũng mang tính giai
cấp. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen viết: “Lịch sử
tư tưởng chứng minh cái gì, nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần
cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao
giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị” [10, tr. 625]. Trong xã hội có
giai cấp luôn có sự đấu tranh để truyền bá, thu phục lòng người, lôi kéo quần chúng
nhân dân theo quan điểm tư tưởng của giai cấp thống trị, nhằm biến tư tưởng thành
sức mạnh để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp. Thực chất đấu tranh tư
tưởng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp. Ph. Ăngghen viết: tất cả mọi cuộc đấu
tranh trong lịch sử, không kể nó diễn ra trên địa hạt chính trị, tôn giáo, triết học, hay
trên bất kỳ một địa hạt tư tưởng nào khác - thực ra chỉ là biểu hiện ít nhiều rõ rệt
của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội…” [11, tr. 373-374]. Trong cuộc
đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh tư tưởng đã góp phần quan trọng
giúp giai cấp vô sản giành chính quyền. Sau khi có chính quyền, đấu tranh tư tưởng
vẫn tiếp tục để chống các tàn dư tư tưởng của xã hội cũ, những khuynh hướng tư
tưởng lệch lạc và các tư tưởng thù địch, phản động để làm cho ý thức xã hội chủ
nghĩa chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tính thần của xã hội.
Qua đó, có thể hiểu khái niệm tư tưởng như sau: Tư tưởng là sự phản ánh
của hiện thực trong ý thức, biểu thị những lợi ích ít nhiều có tính phổ biến của con
người, của xã hội.
Như vậy, tư tưởng là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, trừu
tượng; phản ánh lợi ích của tập đoàn, giai cấp, dân tộc, thời đại nhất định (lợi ích có
tính phổ biến) và trong xã hội có giai cấp, luôn có sự đấu tranh tư tưởng giữa các
giai cấp. Trong lịch sử, các giai cấp thống trị xã hội đã phát triển tư tưởng (hệ thống
hóa, khái quát hóa tư tưởng của giai cấp mình thành lý luận, thành các học thuyết
13
chính trị - xã hội) làm vũ khí lý luận trong đấu tranh giai cấp. Hệ tư tưởng cũng là
sản phẩm của nhà tư tưởng trên cơ sở hệ thống hóa, bảo vệ và phát triển các quan
điểm tư tưởng phản ánh lợi ích giai cấp của họ. Ăngghen viết: “Hệ tư tưởng là một

- Cách tiếp cận theo quá trình hình thành, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng
của giai cấp vô sản: “Công tác tư tưởng là hoạt động đa dạng và quan trọng vào bậc
nhất của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng, xác lập,
phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, hình thành niềm tin, định hướng giá trị
đúng đắn, góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho con người hành động tích
cực và sáng tạo để thực hiện thắng lợi lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”
[41, tr. 23]
- Gắn liền với công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam có một số
cách trình bày như sau:
“Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của giai cấp công nhân - thông
qua Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị nhằm bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước, xây dựng ý thức xã hội chủ nghĩa, hình thành niềm tin khoa học, thúc
đẩy quần chúng tham gia vào sự nghiệp đổi mới đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã
hội” [22, tr. 12].
“Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam chúng ta nhằm xây dựng
cho con người có tư tưởng đúng để hành động đúng” [46. tr. 35]; “Công tác tư
tưởng là một bố phận cấu thành rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động cách mạng
của Đảng… Nó có nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính sách
của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhằm nâng cao tính tự giác, chủ
động, sáng tạo của họ trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng
đề ra; góp phần vào việc hình thành đường lối, chính sách của Đảng; góp phần quan
trọng vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, vào việc hình thành
thượng tầng kiến trúc mới về mặt hình thái ý thức” [50, tr. 5-6].
“Công tác tư tưởng ở Việt Nam hiện nay là hoạt động tư tưởng có mục đích
của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thông qua
Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, công tác tư tưởng có nhiệm vụ
bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thông tin theo định hướng của Đảng
15

16
nâng cao tính tích cực, sáng tạo của quần chúng trong cuộc đấu tranh xây dựng xã
hội mới.
Công tác cổ động nhằm tác động trực tiếp vào tâm lý và tình cảm quần
chúng bằng việc thông tin, giải thích cho quần chúng hiểu biết kịp thời những sự
kiện đang diễn ra trong đời sống, có liên quan đến đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước; động viên, cổ vũ họ tham gia hành động cách mạng cụ thể.
Lênin đã xác định ba hình thái này của công tác tư tưởng. Ba hình thái này
có cùng một nội dung, chung một mục đích tác động đến ý thức, tính tích cực hành
động của quần chúng, nhưng hình thức và phương pháp tác động khác nhau. Mỗi
hình thái đó có vị trí, vai trò nhất định trong công tác tư tưởng nói riêng và sự
nghiệp cách mạng nói chung.
Đối tượng của công tác tư tưởng bao gồm giai cấp, các tầng lớp nhân dân,
các cộng đồng dân tộc, các tập thể và cá nhân trong toàn xã hội tiếp nhận tác động
của công tác tư tưởng. Trong xã hội ta, đó là toàn thể cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân, trong đó có lực lượng nòng cốt xây dựng xã hội mới là liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Đối tượng của công
tác tư tưởng không những tiếp nhận tác động của công tác tư tưởng một cách thụ
động mà còn chủ động hướng tới công tác tư tưởng, và còn có tác động trở lại to lớn
thậm chí chi phối chủ thể công tác tư tưởng ở một số mặt nào đó. Chẳng hạn, với
trình độ dân trí ngày càng cao, môi trường thông tin ngày càng đa dạng và nhiều
chiều, trên mỗi vấn đề tư tưởng xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau. Không ít ý kiến
sắc sảo, nhiều góc cạnh, nhiều lập luận đòi hỏi chủ thể công tác tư tưởng phải nâng
cao trình độ, cải tiến phương pháp và hình thức để thuyết phục được ý kiến đi đến
thống nhất. Thậm chí, đôi khi có những vấn đề đối tượng đưa ra mà chủ thể công
tác tư tưởng chưa từng biết đến hoặc biết chưa đầy đủ buộc chủ thể sau đó phải tìm
hiểu kỹ hơn, qua đó mà kiến thức chủ thể được nâng lên.
Trình độ nhận thức các vấn đề tư tưởng - lý luận của đối tượng là không
đồng đều. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng:
“Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác

ba” nào cả; vả chăng, trong một xã hội bị những sự đối kháng giai cấp chia sẽ thì
không bao giờ có hệ tư tưởng ở ngoài hoặc trên các giai cấp). Vì vậy, mọi sự coi
nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có
nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản” [55, tr.49-50].
18
Tính đảng là biểu hiện tập trung của tính giai cấp. Tính đảng trong công tác
tư tưởng của Đảng là biểu hiện tập trung của tính giai cấp công nhân. Chủ nghĩa
Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, phản ánh lợi ích của giai cấp công
nhân và bảo vệ lợi ích của giai cấp đó. Đặc điểm của giai cấp công nhân là sự phát
triển của nó phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, lợi ích của nó nhất trí với lợi
ích của những người lao động. Cho nên, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân cũng
bảo vệ lợi ích của những người lao động.
Nguyên tắc tính đảng trong công tác tư tưởng đòi hỏi chúng ta phải đứng
vững trên lập trường của giai cấp công nhân, luôn luôn xuất phát từ thế giới quan
Mác - Lênin, từ quan điểm của Đảng để giải thích cho quần chúng hiểu biết đúng
đắn những sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội. Vì vậy, tính đảng trong công
tác tư tưởng cũng thống nhất với tính khoa học. Tính đảng đòi hỏi người làm công
tác tư tưởng phải có tính trung thực. Xa rời lập trường giai cấp công nhân, xa rời
quan điểm của Đảng trong công tác tư tưởng là biểu hiện nghiêm trọng của sự xa
rời tính đảng trong công tác tư tưởng. Nếu xa rời tính đảng, thì người làm công tác
tư tưởng sẽ lý giải sai lầm những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, dễ dàng tiếp thu
quan điểm của giai cấp tư sản. Đứng trước khó khăn của cách mạng, họ dễ dao
động, không chịu đựng nổi khó khăn; không cắt nghĩa đúng nguyên nhân của khó
khăn; thậm chí cắt nghĩa, giải thích những khó khăn trái với cách nhìn, quan điểm
của Đảng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hạt nhân của thế giới quan khoa học và cách mạng
của Đảng Cộng sản. Đường lối của Đảng ta là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Vì vậy, nguyên tắc tính đảng đòi
hỏi công tác tư tưởng phải tuyên truyền không mệt mỏi cho tư tưởng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, cho đường lối, quan điểm của Đảng. Mỗi bài viết, bài nói đều phải có

cứ khoa học những vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra, để từ đó họ hành động
một cách tự giác và có hiệu quả. Sở dĩ chủ nghĩa Mác - Lênin có thể làm được như
vậy là vì nó đã kết hợp được trong bản thân nó hai đặc tính cơ bản: tính khoa học
chặt chẽ và cao độ… với tinh thần cách mạng, như V.I. Lênin đã nêu ra.
Tính khoa học trong công tác tư tưởng đòi hỏi phải quán triệt quan điểm lịch
sử cụ thể, quan điểm biện chứng, trong khi đề cập, lý giải hoặc phân tích các sự
kiện và hiện tượng của đời sống xã hội. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta phân tích
một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong những điều kiện không gian, thời gian
20
nhất định, phải vạch rõ quá trình phát triển, biến đổi của nó, chỉ rõ bản chất của nó
và phải giải quyết như thế nào cho khoa học và đạt kết quả cao.
Tính khoa học trong công tác tư tưởng đòi hỏi nội dung công tác tư tưởng
phải phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan. Vì thế, giai cấp công nhân và chính
đảng của nó đặc biệt coi trọng việc phát hiện, nắm vững những quy luật vận động,
biến đổi, phát triển của thế giới khách quan, quan tâm sâu sắc đến việc vận dụng các
quy luật ấy. Bảo đảm tính khoa học trong việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin cho quần chúng là làm cho quần chúng hiểu được các quy luật vận động và
phát triển của xã hội, thấy rõ được vị trí và vai trò lịch sử của mình, do đó mà nâng
cao tính tự giác trong hoạt động cách mạng, trong việc sáng tạo lịch sử. Tính khoa
học trong công tác tư tưởng càng cao bao nhiêu thì tính tự giác của quần chúng
càng sâu sắc bấy nhiêu, do đó công tác tư tưởng càng phục vụ tốt cho sự nghiệp giải
phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Tính khoa học trong công tác tư tưởng còn thể hiện ở tính chân thật. Tính
chân thật là một tiêu chuẩn quan trọng của công tác tuyên tuyền, giáo dục quần
chúng. Đối với quần chúng, Đảng ta luôn luôn nói lên sự thật. Tính chân thật làm
cho quần chúng ngày càng tin tưởng sâu sắc vào sự đúng đắn của các quan điểm,
chủ trương, đường lối của Đảng.
Hoạt động vì lợi ích của nhân dân, người cộng sản không thể che giấu sự thật
với nhân dân. V.I. Lênin đã chỉ ra rằng: “…giai cấp vô sản cần biết sự thật, và
chẳng có gì tai hại hơn cho sự nghiệp của họ bằng những lời dối trá có vẻ đẹp đẽ và

triết học không phải chỉ để nhận thức thế giới, mà quan trọng hơn là để cải tạo thế
giới. Điều đó nói lên sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn; lý luận soi
đường cho thực tiễn; thực tiễn kiểm nghiệm lý luận. Toàn bộ cuộc đời và hoạt động
của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I Lênin là tấm gương sáng về sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Xuất phát từ những luận điểm nói trên, những người làm công tác
tư tưởng phải có ý thức sâu sắc rằng, truyền bá cho quần chúng lý luận chủ nghĩa
Mác - Lênin và đường lối, chủ trương của Đảng không phải chỉ là trang bị cho họ lý
luận, những nhận thức mới mà điều quan trọng là phải làm cho họ nắm được lý
luận, biết dùng nó để cải tạo xã hội, cải tạo thiên nhiên, cải tạo bản thân mình, nhằm
đưa đất nước và xã hội ta tiến nhanh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chính sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đòi hỏi công tác tư tưởng phải gắn
liền với thực tiễn cuộc sống.
22
Công tác tư tưởng gắn với thực tiễn cuộc sống thể hiện trước hết ở chỗ, nó
phải bám chắc và thực tiễn cách mạng, vào quá trình đấu tranh của quần chúng cải
tạo xã hội, cải tạo thiên nhiên, phải luôn luôn tính đến đặc điểm và tâm tư, nguyện
vọng của các tầng lớp nhân dân. Nói cách khác, mục tiêu, nội dung, hình thức,
phương pháp công tác tư tưởng phải xuất phát từ yêu cầu của đời sống. Công tác tư
tưởng phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, phải gắn với nhiệm vụ chính trị, có nghĩa là
phải gắn với cuộc sống. Bởi vì, đường lối chính trị, nhiệm vụ chính trị không có gì
khác là những giải pháp cụ thể do Đảng đề ra nhằm giải quyết những nhiệm vụ của
cách mạng. V.I Lênin luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác tư tưởng
không được xa rời cuộc sống. Người nói: “Hãy bớt làm rùm beng về chính trị đi.
Hãy bớt những nghị luận kiểu trí thức đi. Hãy gần gũi đời sống hơn nữa. Hãy chú ý
nhiều hơn nữa xem trong công việc thường ngày của họ, quần chúng công nông
đang thực tế sáng tạo cái mới như thế nào. Hãy kiểm nghiệm kỹ hơn xem cái mới đó
có tính chất cộng sản đến mức độ nào”. [57, tr.109].
Công tác tư tưởng không chỉ gắn với cuộc sống mà còn góp phần thúc đẩy
cuộc sống tiến lên. Nó phải trang bị cho quần chúng nhưng tư tưởng mới, tình cảm
mới, những kiến thức khoa học để quần chúng có thể lý giải được những vấn đề

tư tưởng được sinh động, phong phú và có sáng tạo”.
Các nguyên tắc của công tác tư tưởng nêu trên có quan hệ hữu cơ, chặt chẽ
với nhau, tác động và bổ sung lẫn nhau, đó là một thể hoàn chỉnh, không thể tách
rời nguyên tắc nọ với nguyên tắc kia một cách máy móc. Đó là những nguyên tắc
chung, song khi vận dụng cần chú ý điều kiện và hoàn cảnh từng nơi và chức năng,
nhiệm vụ của từng binh chủng của công tác tư tưởng thì mới đem lại hiệu quả cao.
1.2 Lãnh đạo và lãnh đạo công tác tư tưởng
1.2.1 Khái niệm lãnh đạo
Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lãnh đạo.
Theo H. Koontz và các tác giả: Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người
sao cho họ sẽ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ
chức. Lãnh đạo là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh, và đi trước. [20, tr. 499]
Theo P. Hersey và Ken Blanchard: Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng
đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được tình huống nhất
định [20, tr. 120].
Từ những quan niệm về lãnh đạo, xuất phát từ thực tiễn lãnh đạo và quản lý
có thể đưa ra một định nghĩa về lãnh đạo (theo nghĩa rộng) như sau:
24
Lãnh đạo là tác động gây ảnh hưởng tích cực tới con người để phát huy và
phối hợp tiềm năng và năng lực của họ nhằm hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ
chức. Khi đề cập đến lãnh đạo như là một hoạt động thực tiễn đặc biệt, trước hết
chúng ta nói đến hoạt động đặc biệt của các nhà lãnh đạo, các thủ lĩnh, người đứng
đầu tổ chức và có thầm quyền đặc biệt trong tổ chức (khái niệm tổ chức ở đây được
hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm các loại tổ chức khác nhau, các phạm vi và quy
mô khác nhau).
Bất kể một dạng lao động nào của nhiều người nhằm mục đích chung đều
cần lãnh đạo. Nhà tâm lý học Xôviết A.G.Kôvaliốp đã viết “Việc thực hiện các mục
tiêu đòi hỏi phải có một hoạt động có kế hoạch, một mối liên hệ hữu cơ giữa thành
viên này với thành viên khác trong tập thể. Do đó, nảy sinh sự cần thiết phải phối
hợp hoạt động của mọi người với nhau và điều đó sẽ do một người được cử ra lãnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status