TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG – GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN KIM HOÀNG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC TƢ TƢỞNG – GIÁ TRỊ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học

Hà Nội-2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN KIM HOÀNG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC TƢ TƢỞNG – GIÁ TRỊ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60.31.02.04

Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS PHÙNG HỮU PHÚ


1. Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................. 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................... 8
6. Đóng góp của luận văn................................................................................ 9
7. Kết cấu luận văn .......................................................................................... 9
CHƢƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƢ
TƢỞNG .......................................................................................................... 10
1.1. Công tác tƣ tƣởng và những nguyên tắc của công tác tƣ tƣởng........ 10
1.1.1. Khái niệm tư tưởng .............................................................................. 10
1.1.2. Khái niệm công tác tư tưởng .............................................................. 14
1.1.3.Các nguyên tắc trong công tác tư tưởng .............................................. 18
1.1.3.1. Nguyên tắc tính đảng trong công tác tư tưởng .................................. 18
1.1.3.2 Nguyên tắc tính khoa học trong công tác tư tưởng............................. 20
1.1.3.3 Nguyên tắc công tác tư tưởng gắn với thực tiễn cuộc sống ................ 22
1.2 Lãnh đạo và lãnh đạo công tác tƣ tƣởng .............................................. 24
1.2.1. Khái niệm lãnh đạo ............................................................................. 24
1.2.2. Khái niệm lãnh đạo công tác tư tưởng............................................... 27
CHƢƠNG 2:TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
TƢ TƢỞNG ................................................................................................... 29
2.1 Nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tƣ tƣởng ....... 29
2.1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò lãnh đạo công tác tư
tưởng ............................................................................................................... 29
2.1.1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng ............ 29


2.1.1.2 Vị trí, vai trò của lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm Hồ Chí
Minh ................................................................................................................. 32
2.1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam - chủ thể lãnh đạo công tác tư tưởng theo

3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện những nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo công tác tư
tưởng ............................................................................................................... 96
KẾT LUẬN .................................................................................................. 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 105


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có biết
bao vĩ nhân, anh hùng mà cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và nhân cách của họ tiêu
biểu cho lý tưởng, ý chí, khát vọng của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy. “Hồ Chí Minh” - những
chữ ấy đã trở thành một biểu tượng, một niềm tự hào của dân tộc ta và của nhân loại
tiến bộ trên toàn thế giới.
Dân tộc ta sinh ra Hồ Chủ tịch, và chính Người - Anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hoá thế giới - người mà tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa
Liên Hợp quốc (UNESCO) đánh giá là đã “để lại dấu ấn trong quá trình phát triển
của nhân loại” - đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Cuộc
đời và sự nghiệp, tư tưởng và lý luận cách mạng mà Người để lại cho dân tộc ta và
nhân loại là một di sản vô cùng quý giá. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là
kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho
cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng
và dân tộc ta”.
Chính vì vậy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam.
Tư tưởng của Người bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn, phong phú, trong đó

và cách mạng. Vấn đề tưởng như đơn giản, dễ làm nhưng thực tế đến nay nhiều lúc,
nhiều nơi vẫn làm chưa tốt.
Tình hình tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng của Đảng ta chịu nhiều tác động sâu
sắc của đời sống chính trị - kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ công
nghệ thông tin và sức ảnh hưởng của thời đại toàn cầu hóa. Các thế lực cơ hội chính
trị ngoài nước đã, đang và sẽ cấu kết, ra sức chống phá cách mạng Việt Nam bằng
chiến lược “Diễn biến hòa bình”, trong mọi lĩnh vực và dưới mọi hình thức; phản
bác quyết liệt chủ nghĩa Mác - Lênin, phản bác mục tiêu, lý tưởng và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt
Nam, Cuba… Sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta 28
năm qua do Đảng lãnh đạo đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, toàn diện.
2


Nhờ đó cũng cố được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, định hướng của Đảng
ta trên con đường đi tới CNXH. Điều này đặc biệt quan trọng về mặt tư tưởng và lý
luận đối với toàn Đảng và toàn dân ta. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được,
quá trình xây dựng và phát triển đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề gay gắt và thách
thức. Những yếu kém, hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý và điều hành của bộ
máy nhà nước các cấp. Từ đó gây bức xúc và giảm lòng tin của nhân dân đối với
khả năng cầm quyền và lãnh đạo của Đảng. Trong khi đó căn bệnh tham nhũng,
lãng phí, quan liêu của cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi, gây bức xúc cho quần
chúng nhân dân: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan
liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục
diễn biến phức tạp” [16, tr.173]. Những hiện tượng đó là tiếng chuông cảnh báo để
chúng ta phải làm tốt hơn nữa lãnh đạo công tác tư tưởng.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về Lãnh đạo công tác tư tưởng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
nhằm để đấu tranh thắng lợi các âm mưu, diễn biến và thủ đoạn của các thế lực thù

nói riêng là mảng đề tài được nghiên cứu, vận dụng và phát triển một cách linh hoạt
và sáng tạo, mạnh mẽ và rộng khắp trong Đảng và nhân dân, giới học thuật và các
nhà nghiên cứu. Đến nay, có nhiều công trình với nhiều nhà lãnh đạo, nhà khoa học,
nhiều sách chuyên đề, bài viết liên quan đến đề tài này. Mỗi tác giả có cách tiếp cận,
nhìn nhận vấn đề khác nhau và rất riêng, cụ thể:
Một số tác phẩm và công trình khoa học của các nhà lãnh đạo tư tưởng, các
các cơ quan của Đảng về lĩnh vực tư tưởng, như: “Hồ Chí Minh về công tác tư
tưởng” của Ban Tuyên huấn Trung ương (Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1985); “Tạo một
chuyển biến mạnh mẽ về công tác tư tưởng” của Lê Duẩn (Nxb. Sự Thật, Hà Nội,
1962); “Công tác tư tưởng của Đảng” của Trường Chinh (Nxb. Sự Thật, Hà Nội,
1962); “Một số vấn đề về công tác tư tưởng” của Đào Duy Tùng (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1999); “Một số vấn đề về công tác lý luận, tư tưởng và tổ chức
của Đảng trong thời kỳ đổi mới” của PGS.TS Tô Huy Rứa (Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2012); “Góp phần nghiên cứu một số vấn đề phát triển của Việt Nam”
của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Tuyển tập Đào
Duy Tùng”, Tập 1 (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Sơ khảo lược sử công
tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung
ương (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “70 năm công tác tư tưởng – văn
4


hóa của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn” của Ban Tư tưởng - Văn
hóa Trung ương (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Một số văn kiện của
Đảng về công tác tư tưởng – văn hóa” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương ,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000).
Các công trình của các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy về công tác tư tưởng
và lãnh đạo tư tưởng, như: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận”
của Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (kỷ yếu hội thảo khoa học) (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng văn hóa”
của Hữu Thọ (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Hồ Chí Minh văn hóa và

Chí Minh và những nguyên lý công tác tư tưởng - lý luận” (Tạp chí Tư tưởng Văn
hóa, số 9, 2005); Lý Thị Bích Hồng với bài viết “Quán triệt quan điểm Hồ Chí
Minh về công tác tư tưởng, lý luận trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay” (Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 3, 2005); Hữu Thọ với bài viết “Một vài điều thu hoạch về
phong cách Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 7,
2005) Trần Bạch Đằng (2004); “Suy nghĩ về thực trạng văn hóa và công tác lãnh
đạo, quản lý của chúng ta” (Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, số 9, 2004); NguyễnVân
với bài viết “Tuyên truyền chính trị trước những đòi hỏi và thách thức mới” (Tạp
chí Tư tưởng - Văn hóa số 10, 1993); Trần Quang Nhiếp với bài viết “Mấy vấn đề
về bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên hiện nay” (Thông tin Công tác
tư tưởng lý luận số 9, 2004); Hà Đăng với bài viết “Đổi mới, tăng cường hoạt động
báo cáo viên, góp phần nâng cao hiệu quả tư tưởng” (Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa,
số 10, 1994); Hoàng Chí Bảo với bài viết “Về chất lượng nghiên cứu lý luận chính
trị” (Tạp chí Lý luận chính trị số 4, 2005); Hữu Thọ với bài viết “Từ thực tiễn, cần
suy nghĩ sâu hơn về công tác tư tưởng” (Thông tin Công tác tư tưởng số 3, 2001);
Nguyễn Khoa Điềm với bài viết “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung
ương V về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”
(Thông tin Công tác tư tưởng lý luận số 1, 2005); Hồng Vinh với bài viết “Vai trò
của công tác tư tưởng – văn hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”
(Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 5, 2005); Nguyễn Viết Thông với bài “Công tác tư
tưởng với phát triển bền vững” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 12, 2004); Tô Huy
Rứa với bài viết “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong giai đoạn
phát triển mới” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 6, 2006).
Các công trình, sách, báo, bài viết nói trên đã góp phần làm rõ hơn tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng cũng như những hoạt động của Người trên mặt
trận tư tưởng, sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo và định
hướng về lĩnh vực tư tưởng trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay. Tuy

6


công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay.
7


4.2 Phạm vi nghiên cứu
Lãnh đạo công tác tư tưởng là một lĩnh vực rộng lớn, đặc thù và phức tạp của
giới lý luận, của Đảng. Trên cơ sở các nguồn tài liệu, luận văn chỉ tập trung làm rõ,
khái quát, phân tích về những khái luận chung về lãnh đạo công tác tư tưởng: Công
tác tư tưởng và những nguyên tắc của công tác tư tưởng; lãnh đạo và lãnh đạo công
tác tư tưởng. Đồng thời, tập trung nghiên cứu, phân tích, khái quát một cách có hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng và hoạt động thực tiễn
lãnh đạo công tác tư tưởng của Người: Quan điểm về vị trí và vai trò của lãnh đạo
công tác tư tưởng; chủ thể, nội dung và phương thức của lãnh đạo công tác tư
tưởng; cán bộ lãnh đạo công tác tư tưởng; Hồ Chí Minh – tấm gương mẫu mực về
thực hành lãnh đạo công tác tư tưởng; giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ
Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn được thực hiện lập trường, quan điểm, nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin về hệ tư tưởng và hoạt động tư tưởng; tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng; trên quan điểm, đường lối, nghị
quyết, chỉ thị của Đảng về công tác tư tưởng; kế thừa những luận điểm và tư tưởng
các bài viết, bài nói của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí lãnh
đạo ngành tư tưởng, các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, học giả
trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử đề làm rõ vấn đề.
- Ngoài ra luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn:

lãnh đạo công tác tƣ tƣởng

9


CHƢƠNG 1
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƢ TƢỞNG
1.1 Công tác tƣ tƣởng và những nguyên tắc của công tác tƣ tƣởng
1.1.1 Khái niệm tư tưởng
Thuật ngữ “tư tưởng” (idea) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là hình
thức. Cho đến ngày nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “tư tưởng”: tư tưởng
là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người đối với
thế giới chung quanh [52, tr. 43]; tư tưởng là những quan điểm, ý nghĩ phản ánh thế
giới vật chất trong nhận thức của con người và thể hiện mặt này hay mặt khác của
thế giới khách quan [42, tr. 57]; v.v…
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, đời sống xã hội có hai loại nhu cầu cơ
bản: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; do đó có hai lĩnh vực sản xuất là sản
xuất vật chất và sản xuất tinh thần để đáp ứng hai nhu cầu đó. Lĩnh vực vật chất
quyết định lĩnh vực tinh thần, nhưng mặt khác, lĩnh vực tinh thần có tính độc lập
tương đối và tác động trở lại lĩnh vực vật chất. Ph. Ăngghen viết: “nhân tố lịch sử
một khi được những nhân tố khác, xét tới cùng là nguyên nhân kinh tế, làm nảy sinh
ra thì nhân tố lịch sử đó cũng có thể tác động trở lại đến môi trường của nó, và thậm
chí đến những nguyên nhân đã tạo ra nó” [2, tr. 90]
Vì vậy, tinh thần, tư tưởng - một bộ phận của lĩnh vực tinh thần, có vai trò rất
quan trọng trong đời sống con người.
Trong lịch sử xã hội loài người, lúc đầu con người tiến hành các hoạt động
sản xuất vật chất để đảm bảo nhu cầu sinh tồn của mình, sau đó cùng với sản xuất
vật chất, xã hội thường xuyên diễn ra các quá trình sản xuất tinh thần. Ph. Ăngghen
viết: “con người trước hết cần phải ăn, uống, chổ ở và mặc đã rồi mới có thể làm
chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, và v.v. được” [3, tr. 500]. Ph. Ăngghen đã

Hy Lạp cổ ở thế kỷ VI trước công nguyên. Việc ghi chép đó chỉ có các nhà trí thức
mới làm được, trên cơ sở kế thừa và phát triển những mầm mống tư tưởng xã hội
trước đó.
Bất cứ tư tưởng nào cũng đều do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất
của con người quyết định. Khi phân tích mối quan hệ giữa các nhà tư tưởng tiểu tư
sản, C. Mác chỉ ra: sở dĩ hộ là đại biểu của giai cấp tiểu tư sản, chính là vì tư tưởng
của họ bị quy định bởi lợi ích vật chất và địa vị xã hội của tiểu tư sản. Từ đó, C.
Mác đi tới kết luận: “Nói chung, mối quan hệ giữa những đại biểu chính trị và văn
học của một giai cấp với giai cấp mà họ đại diện là như thế đó” [6, tr. 183-184].

11


Như vậy, tư tưởng là sự phản ánh hiện thực thông qua lăng kính của nhà tư tưởng.
Chẳng hạn, người ta vẫn có thể dễ dàng nhận biết trong những dự báo về tương lai ở
cấp độ toàn cầu của nhà tương lai học nổi tiếng người Mỹ Alvin Toffler lập trường
giai cấp tư sản, ở việc đề cao quá mức vai trò kỹ trị trong xã hội hiện đại.
Cũng theo C. Mác, tư tưởng phải gắn với lợi ích, tư tưởng mà không gắn với
lợi ích là điều hết sức vô nghĩa. Chẳng hạn, khi nói về tư tưởng của Luít Napôlêông
mang danh đại diện cho giai cấp nông dân Pháp giữa thế kỷ XIX nhưng hoàn toàn
không gắn với lợi ích của giai cấp nông dân. C. Mác viết: “Những tư tưởng ấy chỉ là
những ảo giác trong cơn hấp hối, là những từ đã biến thành những câu nói suông, là
những thần linh đã biến thành những bóng ma” [7, tr. 272]
Các nhà tư tưởng thường bảo vệ lợi ích giai cấp dưới hình thức lý tưởng hóa,
tức là gắn cho giai cấp mình một sứ mệnh đại diện chân chính cho toàn xã hội, và
do đó, lợi ích được bảo vệ cũng chính là lợi ích chung, phổ biến trong xã hội. Trong
Hệ tư tưởng Đức, C. Mác và Ph. Ăngghen viết: “mỗi giai cấp mới thay thế cho giai
cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, điều nhất thiết
phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên
trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản

Như vậy, tư tưởng là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, trừu
tượng; phản ánh lợi ích của tập đoàn, giai cấp, dân tộc, thời đại nhất định (lợi ích có
tính phổ biến) và trong xã hội có giai cấp, luôn có sự đấu tranh tư tưởng giữa các
giai cấp. Trong lịch sử, các giai cấp thống trị xã hội đã phát triển tư tưởng (hệ thống
hóa, khái quát hóa tư tưởng của giai cấp mình thành lý luận, thành các học thuyết
chính trị - xã hội) làm vũ khí lý luận trong đấu tranh giai cấp. Hệ tư tưởng cũng là
sản phẩm của nhà tư tưởng trên cơ sở hệ thống hóa, bảo vệ và phát triển các quan
điểm tư tưởng phản ánh lợi ích giai cấp của họ. Ăngghen viết: “Hệ tư tưởng là một
quá trình do con người mệnh danh là nhà tư tưởng đã hoàn thành một cách có ý
thức” [12, tr. 776]. Hoạt động tư tưởng của các giai cấp có hệ tư tưởng diễn ra qua
các khâu như: sản xuất ra hệ tư tưởng (xây dựng các quan điểm, tư tưởng của giai
cấp mình thành hệ thống lý luận); tái sản xuất hệ tư tưởng (bảo vệ, phát triển và
truyền bá hệ tư tưởng trong giai cấp và toàn thể xã hội); vật chất hóa hệ tư tưởng
(biến hệ tư tưởng thành sức mạnh vật chất thông qua việc thúc đẩy con người hành
động vì lợi ích giai cấp).
Tư tưởng và hệ tư tưởng đều ra đời trong xã hội có giai cấp, là sự phản ánh
lợi ích của giai cấp thông qua lăng kính của các nhà tư tưởng. Hình thức biểu hiện

13


của nhà tư tưởng là các hình thái của ý thức xã hội như triết học, chính trị, tôn giáo,
khoa học và văn học - nghệ thuật.
Sự ra đời, tồn tại của tư tưởng và hệ tư tưởng gắn liền với lợi ích của giai cấp
và xã hội. Muốn truyền bá hoặc giải quyết các vấn đề về tư tưởng có hiệu quả phải
quan tâm đến lợi ích thiết thân, chính đáng của đối tượng.
1.1.2 Khái niệm công tác tư tưởng
Trong lịch sử, các hoạt động tư tưởng do giai cấp thống trị thực hiện thường
chi phối các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội nhằm tác động vào ý thức
xã hội; từ giáo dục quốc dân đến định hướng các giá trị, chuẩn mực đạo đức, từ

“Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam chúng ta nhằm xây dựng
cho con người có tư tưởng đúng để hành động đúng” [46. tr. 35]; “Công tác tư
tưởng là một bố phận cấu thành rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động cách mạng
của Đảng… Nó có nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính sách
của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhằm nâng cao tính tự giác, chủ
động, sáng tạo của họ trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng
đề ra; góp phần vào việc hình thành đường lối, chính sách của Đảng; góp phần quan
trọng vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, vào việc hình thành
thượng tầng kiến trúc mới về mặt hình thái ý thức” [50, tr. 5-6].
“Công tác tư tưởng ở Việt Nam hiện nay là hoạt động tư tưởng có mục đích
của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thông qua
Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, công tác tư tưởng có nhiệm vụ
bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thông tin theo định hướng của Đảng
trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội. Công tác tư tưởng nhằm xây dựng ý thức xã
hội chủ nghĩa; định hướng giá trị xã hội đúng đắn; hình thành niềm tin cách mạng
có căn cứ khoa học, thúc đẩy quần chúng tích cực tham gia vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện thực hóa đất nước, xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh, đưa đất nước vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Các khái niệm về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản nói lên bản chất
công tác tư tưởng là hoạt động làm cho tư tưởng của giai cấp công nhân chi phối
toàn bộ xã hội, góp phần bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động.
Vai trò của công tác tư tưởng trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo
là đem đến cho nhân dân lao động tri thức cách mạng và tình cảm cách mạng. Cốt
lõi tri thức cách mạng đó là hệ tư tưởng giai cấp vô sản giúp cho quần chúng nhân
dân hiểu và hành động hợp quy luật vận động của xã hội, vì lợi ích cách mạng trong

15


các cộng đồng dân tộc, các tập thể và cá nhân trong toàn xã hội tiếp nhận tác động
của công tác tư tưởng. Trong xã hội ta, đó là toàn thể cán bộ, đảng viên và quần

16


chúng nhân dân, trong đó có lực lượng nòng cốt xây dựng xã hội mới là liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Đối tượng của công
tác tư tưởng không những tiếp nhận tác động của công tác tư tưởng một cách thụ
động mà còn chủ động hướng tới công tác tư tưởng, và còn có tác động trở lại to lớn
thậm chí chi phối chủ thể công tác tư tưởng ở một số mặt nào đó. Chẳng hạn, với
trình độ dân trí ngày càng cao, môi trường thông tin ngày càng đa dạng và nhiều
chiều, trên mỗi vấn đề tư tưởng xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau. Không ít ý kiến
sắc sảo, nhiều góc cạnh, nhiều lập luận đòi hỏi chủ thể công tác tư tưởng phải nâng
cao trình độ, cải tiến phương pháp và hình thức để thuyết phục được ý kiến đi đến
thống nhất. Thậm chí, đôi khi có những vấn đề đối tượng đưa ra mà chủ thể công
tác tư tưởng chưa từng biết đến hoặc biết chưa đầy đủ buộc chủ thể sau đó phải tìm
hiểu kỹ hơn, qua đó mà kiến thức chủ thể được nâng lên.
Trình độ nhận thức các vấn đề tư tưởng - lý luận của đối tượng là không
đồng đều. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng:
“Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác
nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu” [30, tr. 336]. Do đó, cần
phải đi sâu tìm hiểu đối tượng thông qua ý kiến, phản ứng của họ trong mỗi vấn đề
tác động của công tác tư tưởng để điều chỉnh, đưa ra nội dung giáo giáo dục tuyên
truyền phù hợp với từng loại đối tượng cụ thể. Đối tượng có trình độ cao có thể đưa
ra những vấn đề ở tầm khái quát cao hoặc mức độ tìm hiểu sâu, nhưng đối với
những đối tượng có trình độ còn hạn chế thì vấn đề đưa ra cần cụ thể, dễ hiểu, v.v..
Công tác tư tưởng không được bỏ sót bất cứ đối tượng nào, bởi nếu không
nhận được tác động, công tác tư tưởng của Đảng lập tức đối tượng sẽ bị tác động
bởi các luồng tư tưởng trái ngược khác như tuyên truyền thù địch của phần tử cơ

Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, phản ánh lợi ích của giai cấp công
nhân và bảo vệ lợi ích của giai cấp đó. Đặc điểm của giai cấp công nhân là sự phát
triển của nó phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, lợi ích của nó nhất trí với lợi
ích của những người lao động. Cho nên, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân cũng
bảo vệ lợi ích của những người lao động.
Nguyên tắc tính đảng trong công tác tư tưởng đòi hỏi chúng ta phải đứng
vững trên lập trường của giai cấp công nhân, luôn luôn xuất phát từ thế giới quan
Mác - Lênin, từ quan điểm của Đảng để giải thích cho quần chúng hiểu biết đúng
đắn những sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội. Vì vậy, tính đảng trong công
tác tư tưởng cũng thống nhất với tính khoa học. Tính đảng đòi hỏi người làm công
tác tư tưởng phải có tính trung thực. Xa rời lập trường giai cấp công nhân, xa rời

18


Trích đoạn Khái niệm lãnh đạo công tác tư tưởng Quan điểm của Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status