Vận dụng phương pháp thống kê phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến sản lượng xuất khẩu gạo tại Việt Nam giai đoạn 1995-2014 - Pdf 29

Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
Sinh viên: Đặng Sao Mai MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
USDA Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp
VFA Hiệp hội Lương Thực Việt Nam
Sinh viên: Đặng Sao Mai MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sinh viên: Đặng Sao Mai MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của mình
trong sự phát triển của đất nước. Việt Nam từ một nước đói nghèo đã vươn lên trở
thành một nước không những cung cấp đủ gạo cho tiêu dùng nội địa mà còn đứng thứ
2 trên thế giới, sau Thái Lan về xuất khẩu gạo. Có thể nói, cho đến nay, kinh nghiệm
và kỹ thuật trồng lúa nước của nước ta đã đạt đến một trình độ khá cao cộng với sự
phát triển của công nghệ sinh học và sự đầu tư thích đáng về thủy lợi, giao thông thì
nghề trồng lúa nước rõ ràng là một lợi thế lớn của ngành nông nghiệp nước ta.
Nếu trên thế giới, diện tích đất trồng lúa chiếm 22% diện tích đất canh tác thì ở
Việt Nam tỷ lệ này là 87%. Diện tích đất trồng lúa nước ta phân bố chủ yếu ở các tỉnh
đồng bằng và hầu hết là đất trồng lúa nước. Sở dĩ Việt Nam là nước sản xuất nhiều lúa
gạo là do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng lúa nước.

 Kết cấu đề tài
Nội dung đề tài được chia làm 2 phần:
- Chương 1: Những lí luận chung về xuất khẩu gạo của Việt Nam.
- Chương 2: Vận dụng các phương pháp thống kê phân tích sự ảnh hưởng của
các nhân tố đến sản lượng xuất khẩu gạo tại Việt Nam giai đoạn 1995-2014.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths. Nguyễn Thị
Xuân Mai và các thầy cô trong khoa Thống kê đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm
quý báu để tôi có thể hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Đặng Sao Mai
Sinh viên: Đặng Sao Mai 5 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO
CỦA VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu
1.1.1. Khái niệm về xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ cho một quốc gia khác trên
cơ sở dùng tiền tệ để thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là tiền của một trong hai nước
hoặc là tiền của nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế). Mục đích của hoạt
động xuất nhập khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao
động quốc tế. Và khi trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia là có lợi thì các quốc gia đều
tích cực tham gia vào hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế, nó được
hình thành từ rất lâu đời và ngày càng phát triển cho đến giai đoạn hiện nay. Hoạt
động xuất khẩu sơ khai chỉ là hàng đổi hàng và sau đó phát hiện ra nhiều hình thức
khác nhau như xuất khẩu trực tiếp, buôn bán đối lưu, xuất khẩu uỷ thác.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời
gian: nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song nó cũng có thể kéo dài hàng năm;

nước.
Các nước đang phát triển thì thiếu thốn nhất là khoa học công nghệ và vốn,
muốn nhập khẩu kĩ thuật công nghệ thì phải có nguồn ngoại tệ, muốn có nhiều ngoại
tệ thì cần phải tổ chức hoạt động xuất khẩu hàng hoá.
Nguồn vốn nhập khẩu được hình thành từ các nguồn sau: dựa vào đầu tư nước
ngoài, các nguồn viện trợ, các hoạt động du lịch, vay vốn, các dịch vụ thu ngoại tệ
trong nước…. Thông qua các nguồn này cũng thu được một lượng ngoại tệ lớn, nhưng
huy động nó rất khó khăn và bị lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài. Do vậy hoạt động
xuất khẩu vẫn là nguồn vốn lớn nhất và quan trọng nhất, nó có tầm chiến lược với mỗi
quốc gia để tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển
sản xuất.
Tác dụng của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là:
+ Xuất khẩu những sản phẩm thừa so với tiêu dùng nội địa, ở những nước lạc
hậu, kinh tế chậm phát triển, sản xuất chưa đủ đáp ứng tiêu dùng, vì vậy nếu chỉ xuất
khẩu những mặt hàng xuất khẩu thừa tiêu dùng nội địa thì xuất khẩu sẽ bị bó hẹp và
tăng trưởng kinh tế rất chậm.
+ Khi có thị trường xuất khẩu thì sẽ thúc đẩy quá trình tổ chức sản xuất phát
triển, nó sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khác có liên quan ví dụ khi sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ phát triển thì nó sẽ kéo theo các ngành như gốm, sứ, mây tre
đan, thêu dệt… cũng phát triển theo.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng mở rộng sản xuất cung cấp đầu
vào mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia vì thường cho phép một quốc gia có
thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiều khả năng giới hạn sản
xuất của quốc gia đó.
+ Thúc đẩy chuyên môn hoá, tạo lợi thế kinh doanh, xuất khẩu giúp cho các
quốc gia thu được một lượng ngoại tệ lớn để ổn định và đảm bảo phát triển kinh tế.
Sinh viên: Đặng Sao Mai 7 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
+ Xuất khẩu giải quyết công ăn việc làm tăng thu nhập.

khẩu. Do vậy, xác định được vai trò quan trọng cũng như có sự quan tâm thích đáng
đến hoạt động xuất khẩu là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động thương mại quốc tế.
Sinh viên: Đặng Sao Mai 8 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
Đối với Việt Nam, ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có những nét
đặc thù riêng đó là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng kĩ thuật lạc hậu,
công nghệ thủ công đang rất cần được đổi mới, bên cạnh đó tiềm lực xuất khẩu lại
lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tất cả những điều này cho thấy hoạt động
xuất khẩu đối với nước ta ngày càng quan trọng hơn.
Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế được thể hiện
qua một số khía cạnh cơ bản sau:
- Xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nước tạo điều kiện đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước sẽ khuyến khích các ngành, nghề phát
triển bởi họ phần nào có được thị trường tiêu thụ ổn định và mở rộng hơn. Đồng thời,
sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế sẽ tạo cho các nhà sản xuất sự năng động
và sáng tạo trong kinh doanh, sự quan tâm đúng đắn đến việc nâng cao hiệu quả quản
lí, đổi mới công nghệ cũng như nâng cao chất lượng của sản phẩm.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho việc nhập khẩu có thể diễn ra thuận lợi hơn nhờ
nguồn ngoại tệ thu được và mối quan hệ quốc tế mà nó tạo ra.
1.1.3.2. Sự cần thiết phải xuất khẩu gạo đối với Việt Nam
 !"#$
%& %'!()*+,-.&/"01
2,-3+*45,617-(83/9":;!4<
=>?-,"@
- Tích luỹ vốn cho sự nghiệp đổi mới đất nước
Mục tiêu chủ yếu sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu nói chung là đòi hỏi
cấp bách nhằm tăng ngoại tệ, giải quyết vốn cho công nghiệp hóa. Trước tình hình đó,

thành vùng phát triển nông nghiệp để thực hiện 3 chương trình kinh tế, ổn định đời
sống nhân dân. Đây là chiến lược quan trọng “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” của
những năm 70 - đầu 90, lấy nông nghiệp là cơ sở ban đầu tạo vốn cho công nghiệp
hóa.
1.2. Đặc điểm của thị trường gạo
Gạo là lương thực phổ biến của gần một nửa dân số thế giới. Vì gạo là sản phẩn
thiết yếu và là sản phẩm của ngành nông nghiệp nên nó có bốn đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, tính thời vụ trong trao đổi
Sản xuất lúa gạo mang đặc điểm cố hữu của sản xuất nông nghiệp tính thời vụ
do vậy mà hình thành tính thời vụ trong trao đổi sản phẩm trên thị trường. Tức là số
lượng lúa gạo cung cấp trên thị trường là không đều vào mỗi thời điểm trong năm,
điều này phụ thuộc vào thời gian gieo trồng. Để khắc phục đặc điểm này yêu cầu các
nước xuất khẩu phải luôn có kế hoạch bảo quản, dự trữ hợp lý tránh tình trạng lúc thừa
lúc thiếu sẽ dẫn tới bị ép giá.
Sinh viên: Đặng Sao Mai 10 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
Thứ hai, phần lớn gạo được tiêu thụ tại chỗ
Tình hình đó là do một mặt, năng lực sản xuất của các nước này bị hạn chế mặt
khác do quy mô dân số và tốc độ tăng dân số nhanh. Vì vậy phần lớn lúa gạo còn lại
đem trao đổi trên thị trường gạo thế giới chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Các nước đang phát
triển sản xuất 53-55% sản lượng gạo thế giới, các nước Châu Á, Châu Phi sản xuất
nhiều nhất chiếm 85% sản lượng gạo tiêu thụ trên thế giới. Trong khi đó các nước này
chỉ cung cấp 4-5% lượng gạo được trao đổi trên thế giới, Châu Á là khu vực sản xuất
nhiều nhất và cũng tiêu thụ lượng gạo lớn nhất.
Thứ ba, buôn bán giữa các chính phủ là phương thức chủ yếu vì thế xuất khẩu
sản phẩm lúa gạo ổn định hơn so với hàng công nghiệp
Xuất khẩu gạo còn phụ thuộc vào tình hình chính trị của từng quốc gia. Mỗi
nước đều phải đảm bảo an ninh lương thực, nếu lương thực không được đảm bảo sẽ có
ảnh hưởng rất lớn tới chính trị quốc gia đó. Vì thế buôn bán chủ yếu được ký kết giữa
các Chính phủ với nhau thông qua các hiệp định, các hợp đồng có tính nguyên tắc, dài

theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), thị trường Trung Quốc tăng cường nhập
khẩu 2,34 triệu tấn gạo của Việt Nam do nước này đang bị mất mùa do thiên tai. Trong
khi đó, năm 2011 khí hậu thuận lợi nên Trung Quốc chỉ nhập 1,5 triệu tấn gạo từ Việt
Nam.
1.3. Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam giai đoạn 1995-2014
1.3.1. Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam giai đoạn 1995-2014
Kể từ năm 2001 đến nay, sau khi ra nhập WTO, Việt Nam đã có thêm nhiều cơ
hội mới tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước thành viên khác. Vì
vậy trong những năm qua sản lượng gạo xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu gạo của
Việt Nam không ngừng gia tăng, đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo
nhất, không đủ lương thực cho nhân dân khiến 2 triệu người chết vào năm 1945 vươn
lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên toàn thế giới.
Đồ thị 1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam
giai đoạn 1995-2014
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Qua đồ thị trên cho thấy sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam
giai đoạn 1995-2014 diễn biến tăng giảm không đều qua các năm. Cụ thể, sản lượng
xuất khẩu gạo Việt Nam tăng dần trong các giai đoạn 1995-1999,2002-2005, 2007-
2012 và giảm dần vào 1999-2000, 2001-2002, 2005-2007 và 2012-2014. Trong đó, sản
lượng xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất vào năm 2012 với sản lượng 8047 nghìn tấn và
giảm mạnh nhất vào năm 2002 với 3245 nghìn tấn. Tương tự như sản lượng gạo xuất
Sinh viên: Đặng Sao Mai 12 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
khẩu, kim ngạch xuất gạo Việt nam cũng tăng dần qua các giai đoạn 2001-2005, 2007-
2008, 2011-2013 và giảm trong giai đoạn 2005-2007, 2008-2009 và 2013-2014. Đáng
chú ý, kim ngạch xuất khẩu gạo cao nhất vào năm 2012 với 3689 triệu USD và ít
mạnh nhất vào năm 2001 với 544 triệu USD. Tuy phải tác chịu tác động của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 nhưng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo Việt
Nam trong thời gian này vẫn gia tăng, chỉ có năm 2009 kim ngạch xuất khẩu bị ảnh
hưởng nên đã giảm so với năm 2008. Nhìn vào đồ thị 1 có thể thấy trong cả thời kỳ,

2006 35,83 4749 13,3
2007 35,87 4500 12,5
2008 38,60 4720 12,2
2009 38,70 5947 15,4
2010 40,00 6828 17,1
2011 42,30 7087 16,8
2012 43,70 8047 18,4
2013 44,10 6722 15,2
Sinh viên: Đặng Sao Mai 13 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
2014 45,00 6412 14,2
Tổng 709,07 95438 13,5
(Nguồn: Tổng cục Thống kê + tính toán của tác giả)
Nhờ áp dụng những tiến bộ về khoa học cùng với sự chú trọng, quan tâm của
Nhà nước vào ngành hàng lúa gạo nên lượng gạo sản xuất mỗi năm hầu hết đều tăng.
Tổng lượng gạo sản xuất ra trong hai mươi năm qua đạt 709,07 triệu tấn trong đó Việt
Nam đã xuất khẩu được hơn 95 triệu tấn gạo cho các nước nhập khẩu khác, chiếm
13,5% lượng gạo sản xuất trong cả nước. Với sản lượng gạo trong nước dồi dào, có thể
coi đây là một trong những thuận lợi lớn về mặt nguyên liệu đầu vào đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu gạo. Chính vì vậy, sản lượng gạo nước ta trong những năm gần đây
liên tục tăng. Qua số liệu tính toán trên cho thấy, sản lượng gạo xuất khẩu của nước ta
ra các thị trường quốc tế đều chiếm một lượng tương đối từ 10-20% sản lượng gạo sản
xuất mỗi năm. Trong suốt hai mươi năm qua, lượng gạo xuất khẩu luôn chiếm hơn
10% tổng lượng gạo sản xuất của cả nước, chỉ có năm 1996 và 2002 lượng gạo xuất
khẩu chiếm dưới 10% do sản lượng gạo xuất khẩu năm 2002 giảm mạnh từ 3528
nghìn tấn năm 2001 xuống còn 3245 nghìn tấn trong khi sản lượng gạo sản xuất trong
nước vẫn tăng đều đặn. Đáng chú ý, năm 2012 lượng gạo xuất khẩu của nước ta chiếm
đến 18,4% xấp xỉ 1/5 lượng gạo sản xuất ra trên cả nước. Nguyên nhân là do tình hình
chính trị ở Thái Lan trong năm này bất ổn khiến cho các nhiều doanh nghiệp quay
sang nhập khẩu gạo của nước ta làm cho sản lượng gạo năm 2012 tăng vọt và đạt kỉ

18B85$,":G*J5G*KLMN25,( -O
O6G*PG*QNR?/ESS5,-.&O.8F
G*HT5U,-.&V"3/9"8M4BE
S5,-.&G*H-W5XU,-.&
V".8"G*J11YB.&!"-G*H".DE!"
80Z5UM$[/7\.>63/9"]3^_`5ES5? MO\"
a%b7B85R?/O.8G*Ja!"4cY
"3/9"38,(.8FG*J5a)1F.>6V
714V".D)*BE1*45G JV?d1."" 
,O4 O)"/7,"O.84M"SSXeS5
,-.&,"O.8G*KLf:g/-!"hUBU
ESE711,8ESiB:5.8"f)1*b7,*
O.8B\BG*P.,-.&.844:,6E
jIW7k).8XU,-.&V".8"E
Đồ thị 2. Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam vào tháng 7/2014
(Nguồn: FAO)
Tính đến tháng 7/2014, bạn hàng chủ yếu của thị trường xuất khẩu gạo nước ta
chủ yếu là Châu Á, chiếm đến 77,54% - một con số không hề nhỏ. Tiếp đến là Châu
Mỹ, Châu Phi với 12,55% và 6,59%, còn lại rải rác ở Châu Âu, Châu Úc và Trung
Đông. Trong đó thị trường Châu Úc chiếm tỉ lệ rất nhỏ chỉ với 0,39%.
Như vậy thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam phần lớn vẫn tập trung ở
những nước có tập quán tiêu thụ gạo là thức ăn chính do thói quen hoặc điều kiện kinh
tế của họ.
Bảng 3. Một số thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam giai đoạn 2007-2014
Đơn vị tính: tấn
Quốc gia 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Tiểu vương quốc Ả
rập - thống nhất
1526 6315 3740 2708 1767 5679 12103 17023
Phi-li-pin

25912 40276
13359
4
227792 197908 131360
16207
3
91432
Đài Loan
7855 13843 81616 142705 44134 52409 26490 19202
Nam Phi
10909 12867 16367 13365 4227 17220 14393 17328
Ucraina
902 9598 15749 6149 4140 3770 10445 5380
Úc
924 2326 4925 4327 5997 4148 4561 5102
( Nguồn: Tổng cục thống kê)
Từ khi bắt đầu xuất khẩu gạo đến nay thì thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt
Nam vẫn là thị trường Châu Á. Thị trường này luôn được Việt Nam theo dõi chặt chẽ,
vì hầu hết các nước Châu Á thường vó tập quán lâu đời tiêu dùng lúa gạo, đều coi lúa
gạo là lương thực chủ yếu của mình. Từ đó Việt Nam chuẩn bị nguồn cung sẵn
sàngđáp ứng nhu cầu nhập bổ sung đột xuất của khu vực này nhất là thị trường
Indonesia, Phi-lip-pin, Iran, Iraq, Trung Quốc,…
Hiện nay Việt Nam cũng đã tìm ra thêm một số thị trường tiềm năng như Châu
Phi, lượng gạo của nước này nhập khẩu tương đối ổn định qua các năm. Ngoài ra, các
thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam thường xuyên như: Nam Mỹ, Trung Đông và Bắc
Mỹ, Việt Nam đang từng bước nghiên cứu để không chỉ xuất sang đây loại gạo phẩm
cấp trung bình mà là gạo cao cấp sẽ chiếm ưu thế hơn. Qua nhiều năm, Việt Nam đã
từng bước củng cố và giữ vững những thị trường quen thuộc thêm vào đó, Việt Nam
vẫn đang cố gắng thâm nhập vào thị trường khó tính nhưng lại đầy tiềm năng như
Nhật Bản.

* Thị trường các nước Tây Á
Trong những năm gần đây, thị trường Tây Á cũng là một trong những thị
trường được Nhà nước quan tâm và đẩy mạnh xuất khẩu gạo vì các nước thuộc khu
vực này có nhu cầu nhập khẩu gạo cao trong đó có Iran, Iraq ở nhóm những nhà nhập
khẩu gạo lớn nhất ở Trung Đông. Ngoài ra, các thị trường xuất khẩu chủ yếu ở khu
vực này từ cao đến thấp gồm: Tiểu vương quốc Ả rập-thống nhất, I-xaren, Thổ Nhỹ
Kỳ, Ca-ta, Giooc-đa-ni, Li-băng, Ba-ranh, Theo số liệu thu thập được của Tổng cục
Thống kê, năm năm trở lại đây, sản lượng gạo nhập khẩu của Tiểu vương quốc Ả rập-
thống nhất ngày càng tăng với sản lượng trung bình trong giai đoạn này đạt 7856 tấn/
năm. Năm 2014, sản lượng xuất khẩu cho các nước này là 17023 tấn tăng 4920 tấn
(tương ứng tăng hơn 40%) so với năm 2013.Có thể thấy rằng, các nước khu vực Tây Á
đang là thị trường tiềm năng cho ngành xuất khẩu gạo Việt Nam. Chính vì thế, trong
năm 2015 Bộ Công Thương sẽ tiếp tục triển khai nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh xuất
khẩu ở thị trường này.
* Thị trường Châu Phi
Châu Phi hiện là một thị trường nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam chiếm gần 7%
sản lượng gạo xuất khẩu gạo nước ta. Ngoài Bờ biển Ngà, Senegal, Ghana, một vài
năm gần đây một số nước nhập khẩu gạo của Việt Nam với khối lượng khá như
Angola, Algeria, Nam Phi,… Tổng cộng 6 thị trường các nước châu Phi này đạt trung
bình 940 nghìn tấn, chiếm gần 17% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt nam trong
ba năm gần đây. Riêng năm 2012, Việt Nam đã xuất sang Châu Phi 1,2 triệu tấn gạo,
Theo Vụ thị trường Châu Phi của Bộ Công Thương cho biết, với dân số hơn 1 tỷ
người, nhu cầu tiêu thụ gạo ở Châu Phi ngày vàng lớn bởi sự tiện dụng của việc chế
Sinh viên: Đặng Sao Mai 17 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
biến gạo so với kê và những loại ngũ cốc truyền thống khác cũng như do tỷ lệ đô thị
hóa càng ngày càng tăng tại các nước khu vực này. Mặt khác, giá gạo không còn qua
cao so với thu nhập của đại bộ phân người dân Châu Phi, vì vậy gạo đã trở thành thức
ăn phổ biến trong bữa ăn hàng ngày. Vì vậy, Châu Phi cũng là thị trường tiềm năng
trong những năm sắp tới của Việt Nam. Tuy nhiên do phải đối mặt với sự cạnh tranh

1.4.1.3. Điều kiện tự nhiên, khí hậu và sinh thái
Nhìn chung, so với các nước khác, khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió
mùa, khá thuận lợi cho sản xuất lúa gạo. Việt Nam có 2 vựa lúa lớn là 2 đồng bằng
phù sa màu mỡ: đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Nước ta nằm
trong khu vực nhiệtđới ẩm có độ ẩm không khí cao khoảng 80%, nhiệt độ thường
xuyên trên 20
0
C, khí hậu ấm áp , số giờ nắng trong năm đạt trung bình 1200h/ năm và
tập trung mạnh vào thời kì làm hạt của lúa, góp phần cho năng suất cao. Lượng mưa
hàng năm lớn, trung bình 1500 – 2000 mm, hệ thống nước ngầm có trữ lượng lớn, hệ
thống sông ngòi dày đặc… đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho hàng triệu ha
lúa. Ngoài ra, Việt Nam còn có 7 vùng sinh thái khác nhau, mỗi vùng có đặc thù và thế
mạnh riêng trong phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt có nhiều tiểu vùng “ sinh
thái – khí hậu đặc thù” cho phép phát triển một số cây lúa đặc sản có giá trị xuất khẩu
cao mà ít nơi có được. Ví dụ: vùng Tây sông hậu và tứ giác Long Xuyên: cho phép áp
dụng các giống lúa thâm canh cao như giống OM2517, OM4498,…
1.4.1.4. Nước tưới tiêu
Tài nguyên nước rất dồi dào cũng là một lợi thế nổi bật của nghề trồng lúa ở
Việt Nam. Số ngày mưa lý tưởng 120-140 ngày/năm ở hai đồng bằng lớn không chỉ
cung cấp cho lúa nguồn nước trời quý giá mà còn đồng thời bồi bổ cho lúa nguồn phân
đạm thiên nhiên dễ hấp thụ nhất mà nước và đạm nhân tạo không thể so sánh. Cùng
với nước mưa trời, dòng chảy mặt còn sản sinh trên lãnh thổ nước ta khoảng 300 triệu
m
3
nước. Ngoài ra, hệ thống thuỷ lợi nước ta, với 10% ngân sách Nhà nước đầu tư hàng
năm đã đạt được thành quả bước đầu đáng mừng. Có thể nói, nước, nguồn tài sản thiên
nhiên vốn quý giá, cộng thêm sự chú trọng phát thuỷ lợi hơn nữa của Nhà nước trong
thời gian qua, là yếu tố rất cơ bản thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu gạo tăng mạnh trong
những năm gần đây.
Sinh viên: Đặng Sao Mai 19 MSV: CQ532433

cần nguồn vốn lớn. Do thiếu vốn nên việc thu mua lúa gạo không thể diễn ra kịp thời
dẫn đến tình trạng ép giá làm ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ xuất khẩu gạo.
Chất lượng gạo của nước ta cũng là một yếu điểm trong hoạt động xuất khẩu
gạo. Các điều kiện đóng gói, bao bì, bốc xếp cũng chưa phù hợp. Trình độ xuất khẩu
Sinh viên: Đặng Sao Mai 20 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
của các doanh nghiệp còn hạn chế, thiết bị công nghệ của các đơn vị chế biến gạo đã
quá lạc hậu, thiếu kho chứa, thông tin,… nên chưa nắm bắt được nhiều cơ hội.
Vì vậy sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam đang có những vấn đề cấp bách
được đặt ra trong thời gian tới:
- Về sản xuất: hệ thống sau thu hoạch lúa chưa được đồng bộ. Đặc biệt là khâu
bảo quản còn thiếu kho bãi. Về vấn đề phát triển lúa đặc sản, đang đứng trước những
thử thách đáng kể đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước trong việc phát triển các loại gạo
quý giá này.
- Về thị trường: Việc đảm bảo thị trường thực sự ổn định và trật tự trong toàn
hệ thống lưu thông lúa gạo là một đòi hỏi cấp thiết của thị trường nội địa. Bên cạnh đó,
việc tìm hiểu thị trường gạo thế giới cần phải được tăng cường hơn nữa để bắt kịp
thông tin chính xác nhằm đảm bảo hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu.
1.5. Các chính sách sản xuất và xuất khẩu gạo
1.5.1. Chính sách sản xuất gạo
Trong giai đoạn trước năm 2000, việc sản xuất lúa gạo còn đơn giản và thô sơ.
Việc sản xuất mang tính tự phát không có sự định hướng của các Sở Nông nghiệp các
tỉnh. Các giống lúa được sử dụng chủ yếu là theo kinh nghiệm, cho năng suất và phẩm
chất gạo không cao. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ việc sản xuất lúa
được gia tăng vụ ba, điều đó làm gia tăng sản lượng lúa nhưng cũng ảnh hưởng rất
nhiều chất lượng gạo. Kể từ năm 1997, nước ta gia nhập WTO và thấy được những sự
đóng góp không nhỏ của ngành xuất khẩu lương thực nói chung và xuất khẩu gạo nói
riêng nên nước ta đã coi đây một trong những mặt trận cần được chú trọng.
Chương trình IPM và "3 giảm 3 tăng" đã có tác động tích cực giúp nông dân
từng bước thay đổi tập quán sản xuất như giảm mật độ sạ từ 220 kg/ha xuống 180

trợ sản xuất và xuất khẩu gạo đạt mục tiêu đề ra và mang lại hiệu quả cao nhất.
- Điều chỉnh giá sàn gạo xuất khẩu
Đại diện Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) vừa cho biết, trong cuộc họp
thường kỳ vào ngày 10/2/2014, tại Tp.HCM, Ban chấp hành VFA đã thống nhất quyết
định điều chỉnh giá sàn xuất khẩu gạo cấp thấp xuống còn 365 USD/tấn (FOB) (trước
đây là 375 USD/tấn); đóng bao 50kg, giao tàu và theo tiêu chuẩn chất lượng gạo xuất
khẩu Việt Nam.
Chênh lệch giá giữa các loại gạo khác do các thương nhân tính toán và quyết
định. Giá công bố sẽ được áp dụng sau 3 ngày kể từ ngày ra quyết định. VFA đề nghị
các thương nhân xuất khẩu gạo thực hiện nghiêm mức giá sàn xuất khẩu trên.
VFA cũng phổ biến giá thành bình quân của vụ đông xuân 2013- 2014 theo tinh
thần văn bản của Bộ Tài chính công bố, bình quân là 3.769 đồng/kg.
- Đẩy mạnh xuất khẩu gạo sang châu Phi
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2013, Việt Nam xuất khẩu
khoảng 6,6 triệu tấn gạo. Trong đó, Châu Phi là thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ 2
của nước ta, chiếm gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, chỉ sau Trung Quốc.
Để hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Châu Phi, năm
2014, Bộ Công Thương sẽ tổ chức các đoàn đi xúc tiến thương mại tại 2 thị trường
trọng điểm, có lượng nhập khẩu gạo lớn từ nước ta là Angola và Bờ Biển Ngà, từ đó
đề xuất các giải pháp ký kết bản ghi nhớ về thương mại gạo với các thị trường này để
doanh nghiệp có thể xuất khẩu gạo trực tiếp.
Sinh viên: Đặng Sao Mai 22 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng tổ chức mời các doanh nghiệp Châu Phi
vào Việt Nam để giới thiệu và mở rộng cơ hội hợp tác xuất khẩu gạo với doanh nghiệp
trong nước. Thông qua các vụ, cơ quan thương vụ, Bộ cũng có những giải pháp hỗ trợ
doanh nghiệp xác minh đối tác. Ngoài ra, để giúp doanh nghiệp tránh được rủi ro lớn
nhất khi xuất khẩu gạo sang châu Phi là phải thanh toán qua trung gian, Bộ Công
Thương cũng hỗ trợ, tạo điều kiện giúp DN mở văn phòng đại diện, mở kho ngoại
quan…

từng phương pháp phân tích trong thống kê có thể lựa chọn các phương pháp sau sử
dụng trong chuyên đề.
2.1.2.1. Phương pháp phân tổ, bảng và đồ thị thống kê
Các phương pháp phân tổ, bảng và đồ thị thống kê đều thuộc nhóm thống kê
mô tả. Trong đó, phương pháp phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu
thức nào đó, tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ
Sinh viên: Đặng Sao Mai 24 MSV: CQ532433
Chuyên đề thực tập
(hoặc tiểu tổ) có tính chất khác nhau. Kết quả của phân tổ thống kê cho ta một bảng
được gọi là “bảng phân tổ”. Đối với đề tài nghiên cứu sản lượng xuất khẩu gạo Việt
Nam, bảng phân tổ thống kê được áp dụng như sau:
Bảng đơn giản là loại bảng thống kê trong đó phần chủ đề có thể liệt kê các đơn
vị tổng thể, tên gọi các địa phương hoặc thời gian khác nhau. Áp dụng vào đề tài như
bảng phản ánh sản lượng gạo xuất khẩu của nước ta giai đoạn 1994-2014.
Bảng phân tổ là loại bản thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần
chủ đề được chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó.
Một phương pháp nữa trong nhóm phương pháp thống kê mô tả là phương pháp
đồ thị thống kê.Phương pháp đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học
dùng dể miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê. Đồ thị thống kê được áp
dụng trong chuyên đề nhằm mục đích hình tường hóa sự phát triển của các hiện tượng
qua thời gian (như đồ thị sản lượng gạo xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu,…) hay mô tả kết
cấu và biến động kết cấu của hiện tượng (như đồ thị thể hiện cơ cấu của thị trường
xuất khẩu gạo Việt Nam).
2.1.2.2. Phương pháp dãy số thời gian
Dãy số thời gian là dãy các trị số của các chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo
thứ tự thời gian. Việc phân tích dãy số thời gian cho phép nhận thức các đặc điểm biến
động của hiện tượng qua thời gian, tính quy luật của sự biến động, từ đó tiến hành dự
đoán về mức độ trong tương lai. Để phân tích đặc điểm của dãy số thời gian, người ta
thường sử dụng các chỉ tiêu như: mức độ thời bình quân theo thời gian, lượng tăng
(giảm) tuyệt đối, tốc độ phát triển, tốc độ tăng (giảm) và giá trị tuyệt đối cảu 1% tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status