vấn đáp pháp luật kinh doanh quốc tế - Pdf 29

Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
VẤN ĐÁP PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
Câu 1: Khái niệm kinh doanh quốc tế và đặc điểm của hoạt động kinh doanh
quốc tế?
Khái niệm: Có rất nhiều khái niệm về hoạt động kinh doanh quốc tế trên thế giới cũng
như tại Việt Nam. Nhưng xét theo góc độ pháp lý có thể hiểu, kinh doanh quốc tế là
những hoạt động kinh doanh mang tính chất quốc tế.
- Cụ thể là, theo điều 4 khoản 2 Luật kinh doanh: kinh doanh là việc thực hiện liên
tục hoặc một số công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
 Hoạt động kinh doanh quốc tế là các hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc
tế hay các hoạt động kinh doanh có yếu tố nước ngoài. Nghĩa là, HĐKDQT sẽ giống với
các hoạt động kinh doanh thông thường bao gồm hoạt động sx, pp hàng hóa, cung ứng dv
trên thị trường, song tất cả các hoạt động đó đều có tính quốc tế hay có yếu tố nước
ngoài.
Đặc điểm
- Chủ thể của hoạt động KDQT là các thƣơng nhân có quốc tịch khách nhau,
hoặc có nơi cƣ trú/trụ sở thƣơng mại ở các nƣớc khác nhau: Khi tiến hàng HĐKD
trên phạm vi quốc tế thì dù là hoạt động sản xuất, phân phối hàng hóa hay hoạt động cung
ứng dịch vụ thì chủ thể tham gia có thể liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau. Chủ thể
thường là thương nhân, thương nhân là các cá nhân, tổ chức thực hiện HĐKD một cách
độc lập, thường xuyên, nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm trước PL về HĐKD của
mình.
- Trong kinh doanh quốc tế thƣờng có sự di chuyển vốn, tài sản, nhân lực qua
biên giới quốc gia: Đối tượng của HĐKD quốc tế như hàng hóa, dịch vụ thường được
dịch chuyển qua biên giới các quốc gia khác nhau và đồng tiền được sử dụng để thanh
toán là ngoại tệ đối với ít nhất một nước. Trong hoạt động đầu tư có yếu tố nước ngoài
còn có sự đi chuyển của các nguồn lực như vốn, máy móc, nhân lực từ quốc gia đầu tư
sang quốc gia nhận đầu tư, và chuyển lợi nhuận ngược lại.
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay

quốc gia. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, pháp luật các quốc gia vẫn mâu thuẫn, xung
đột với nhau.
 Tính phức tạp và đa dạng về nguồn luật
- Các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất, phân phối hàng hóa cũng
như cung ứng dịch vụ trong quá trình tham gia hoạt động KDQT rất phức tạp
- Nhà kinh doanh khi tiến hành hoạt động KDQT không chỉ phải tìm hiểu về luật
quốc gia mà còn phải chú ý đến những điều ước quốc tế trong linh vực kinh doanh, tập
quán kinh doanh, thực tiễn xét xử của toàn án và trọng tài thương mại quốc tế trong
KDQT.
 Khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh
- Tranh chấp là điều khó tránh được khi các bên tham gia hợp đồng thương mại QT
thường có sự xa cách về địa lý, khác biệt về truyền thống pháp luật, tập quán thương mại,
văn hóa kinh doanh…
- Giải quyết tranh chấp trong KDQT có thể được thực hiện thông qua các biện pháp:
thương lượng trực tiếp, sử dụng trung gian hòa giải, kiện ra toàn án hoặc trong tài thương
mại. Nếu các bên phải giải quyết tranh chấp bằng tòa án hay trọng tài thì việc giải quyết
tranh chấp sẽ trở nên khó khăn và phức tạp hơn do:
 Tòa án hoặc trọng tài của một quốc gia nào đó không có thẩm quyền đương nhiên
để giải quyết tranh chấp KDQT giữa các chủ thể. Tòa án hoặc trọng tài nào đó chỉ có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên đương sự thỏa thuận thống nhất giao tranh
chấp cho tòa án hoặc trọng tài xét xử
 Việc lựa chọn toàn án hoặc trọng tài của nước nào để giải quyết tranh chấp phát
sinh là rất khó khăn đối với các bên
 Việc cưỡng chế và thi hành quyết định của tòa án hoặc trong tài đôi khi là rất khó
khăn khi quyết định đó phải được cưỡng chế và thi hành tại nước ngoài.

Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
Câu 3: Phân biệt pháp luật kinh doanh quốc tế và pháp luật thƣơng mại quốc
tế theo quan điểm của Việt Nam? Nêu ví dụ minh họa?

Mối quan hệ về thương mại
giữa các quốc gia (thuế quan,
mở cửa thị trường, rào cản
thương mại, mua sắm chính
phủ, gải quyết tranh chấp giữa
các quốc gia…)
Mối quan hệ về kinh doanh
– thương mại giữa các thương
nhân (giao kết và thực hiện
hợp đồng, đại lý, chuyên chở
hàng hóa, thanh toán quốc tế )
Nội dung
Tạo ra quyền và nghĩa vụ
của các quốc gia
Điều chỉnh quyền và nghĩa
vụ của các cá nhân, tổ chức
Nguồn
luật áp
dụng
Các hiệp định thương mại
song phương, đa phương
Luật thương mại quốc gia,
điều ước quốc tế, tập quán
quốc tế, án lệ
Xung
đột pháp
luật
Không có hiện tượng xung
đột pháp luật
Xung đột pháp luật là hiện

Khái niệm
Xung đột pháp luật trong KDQT là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật
khác nhau cùng có thể áp dụng để điều chỉnh một mối quan hệ kinh doanh quốc tế cụ thể
và các hệ thống này có các quy định không giống nhau về vấn đề cần điều chỉnh.
Các mặt biểu hiện:
1. Xung đột pháp luật về địa vị pháp lý của các chủ thể trong kinh doanh quốc
tế
- Khi tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề xung đột pháp luật về địa vị pháp lý của các
chủ thể trong KDQT chúng ta cần xác định rõ chủ thể là những người cụ thể nào. Chủ thể
đó được gọi là thương nhân, thương nhân là cá nhân hay tổ chức thỏa mãn đầy đủ các
điều kiện do pháp luật quy định để tiến hành hoạt động kinh doanh, thương mại nói
chung và kinh doanh quốc tế nói riêng.

Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
1.1 Đối với thƣơng nhân là cá nhân
a. Xung đột pháp luật về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của cá nhân
- Khi tiến hành hoạt động KD, cả hoạt động KDQT các cá nhân cần phải có năng
lực pháp lý và năng lực hành vi. Hai năng lực này là điều kiện cần để trở thành thương
nhân
- Xung đột pháp luật thường phát sinh trong việc xác định năng lực hành vi của
người nước ngoài tại nước sở tại bởi mỗi nước quy định về tuổi có năng lực hành vi của
công dân là khác nhau.
- Pháp luật của từng quốc gia đều đưa ra những quy định để xác định năng lực pháp
lý của thương nhân nước ngoài trong quan hệ dân sự, thương mại với thương nhân nước
mình không giống với quốc gia khác. Điều này cũng phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các
quốc gia hay các điều ước quốc tế mà các quốc gia đã tham gia trong đó thỏa thuận cụ thể
về nguyên tắc pháp lý áp dụng trong việc xác định địa vị pháp lý của công dân – thương
nhân nước ngoài.
b. Xung đột pháp luật về điều kiện nghề nghiệp để một cá nhân trở thành thương

a. Xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng
- Luật của các nước quy định khác nhau về hình thức hợp đồng thương mại quốc tế.
Theo Anh, Mỹ, Pháp, Đức thì hợp đồng TMQT có thể được giao kết bằng văn bản, lời
nói, hoặc hành vi cụ thể (trừ mua bán bất động sản), còn Việt Nam, Trung Quốc thì hợp
đồng TMQT phải được ký kết bằng văn bản.
b. Xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng
- Nội dung của hợp đồng TMQT đề cập đến nhiều vấn đề phức tạp khác nhau
(quyền và nghĩa vụ của các bên, điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng, áp dụng chế
tài…) và luật của các nước quy định về vấn đề này không giống nhau.
3. Xung đột pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
quốc tế
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
- Thẩm quyền xét xử trong kinh doanh quốc tế là thẩm quyền của toàn án hoặc của
trọng tài một nước nhất định đối với việc xét xử một tranh chấp kinh doanh quốc tế cụ
thể.
- Xung đột thẩm quyền xét xử trong kinh doanh quốc tế là hiện tượng đồng thời có
hai hoặc nhiều cơ quan tư pháp của các nước khác nhau có thẩm quyền giải quyết một
tranh chấp trong kinh doanh quốc tế cụ thể.
- Xung đột thẩm quyền xét xử chỉ xảy ra đối với thẩm quyền của tòa án mà không
xảy ra đối với trọng tài. Vì thẩm quyền của trọng tài hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận
của các bên tranh chấp, trọng tài sẽ không có thẩm quyền nếu không có sự thỏa thuận của
các bên
Câu 5: Các phƣơng pháp giải quyết xung đột pháp luật trong kinh doanh quốc
tế? ƣu, nhƣợc điểm của từng phƣơng pháp?
1. Phƣơng pháp thống nhất luật thực chất
- Quy phạm pháp luật thực chất là những quy phạm trực tiếp giải quyết các quan hệ
pháp luật mang tính quốc tế, trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với các chủ
thể tham gia các quan hệ này
- Thống nhất luật thực chất là việc các nước cùng nhau thỏa thuận xây dựng các quy

xung đột trong mối quan hệ đã được nêu tại phần phạm vi
- Ƣu điểm:
 Giải quyết được nhiều quan hệ pháp luật cụ thể
- Nhƣợc điểm:
 Không có quy định thống nhất về quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự cũng
như các hình thức và biện pháp chế tài có thể được áp dụng
 Khó khăn trong việc tìm hiểu và giải thích nội dung pháp luật nước ngoài.
 Đối với cùng một quan hệ tư pháp quốc tế, các quốc gia có quy pham xung đột
không giống nhau, làm nảy sinh hiện tượng “xung đột của quy phạm xung đột”, khiến
cho việc giải quyết bằng quy phạm xung đột có nhiều rủi ro. Dẫn đến hình thành các
công ước quốc tế để thống nhất quy phạm pháp luật.(Ví dụ có SGK/102)
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
- Các quy phạm xung đột thƣờng đƣợc áp dụng:
 Quy phạm luật nhân thân
 Quy phạm luật quốc tịch của pháp nhân
 Quy phạm luật nơi ký kết hợp đồng
 Quy phạm luật nơi có tài sản
 Quy phạm luật nơi thực hiện nghĩa vụ
 Quy phạm luật nước người bán
 Quy phạm luật nơi xảy ra hành vi vi phạm
 Quy phạm luật nước tòa án.
Câu 6: Thế nào là PLKDQT? Yếu tố nƣớc ngoài trong hoạt động KDQT đƣợc
thể hiện nhƣ thế nào?
- PLKDQT là tổng hợp các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ
giữa các thương nhân trong hoạt động kinh doanh quốc tế.
- Yếu tố nƣớc ngoài trong hoạt động KDQT: được thể hiện ở 3 khía cạnh sau:
+ Yếu tố nước ngoài về chủ thể: thể hiện ở việc một trong các bên tham gia hoạt động
kinh doanh là tổ chức, cá nhân nước ngoài hay người VN định cư ở nước ngoài.
+ Yếu tố nước ngoài về khách thể: tài sản hay khách thể của mối quan hệ kinh doanh ở

+ Common law không trừu tượng và không tạo nên nguyên tắc chung về ứng xử trong
tương lai mà hướng đến việc cụ thể, trong một tình huống cụ thể.
+ Tranh tụng bằng lời công khai tại phiên tòa.
+ Vai trò của luật sư là quan trọng.
Câu 9: Ƣu và nhƣợc điểm của hệ thống PL Anh Mỹ?
- Ƣu điểm:
+ Có thể điều chỉnh được hầu hết các quan hệ PL.
+ Sử dụng án lệ sẽ tạo ra tính sáng tạo trong việc áp dụng PL của tòa án mà ở đó thẩm
phán chính là người áp dụng và cũng là người làm luật.
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
- Nhƣợc điểm: cứng nhắc và kém linh hoạt trong việc áp dụng. Về nội dung cũng
như về hình thức, các tòa án chỉ áp theo đúng những gì mà tiền lệ đã làm, nên không
thích hợp và phản ánh đúng với những tình huống phức tạp và mới mẻ.
Câu 10: Khái niệm và đặc điểm hệ thống pháp luật châu Âu lục địa?
 Khái niệm: Là hệ thống pháp luật hình thành lần đầu tiên ở La Mã cổ đại, sau này
phát triển ở Pháp và các nước TBCN ở lục địa Châu Âu và là luật thành văn, được xây
dựng trong các văn bản luật.
 Đặc điểm:
- Các văn bản luật thành văn là nguồn đầu tiên và quan trọng: tòa án khi xét xử chỉ
căn cứ vào văn bản, không căn cứ vào án lệ.
- Các nguồn khác của pháp luật chỉ có vị trí phụ, bổ sung cho nguồn luật thành
văn. Tập quán chỉ có vai trò khi giải thích luật hoặc được áp dụng khi luật dẫn chiếu dến.
- Cac quy phạm pháp luật được sắp xếp, tổ chức tại các văn bản pháp luật khác
nhau theo một trật tự có thứ bậc. Hiến pháp thành văn là văn bản chứa đựng những quy
phạm có giá trị pháp lý cao nhất. Các văn bản pháp luật khác phải phù hợp với hiến pháp,
không được trái với hiến pháp. Dưới hiến pháp có các bộ luật, đạo luật, các văn bản được
thông qua để thực thi các luật đã ban hành.
- Trong hệ thống pháp luật Cival law cách hiểu, cách đánh giá, phân tích quy phạm
pháp luật đều giống nhau. Trong hệ thống Civil law quy phạm pháp luật được hiểu như

+ Hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành: có tác dụng đối với mọi công dân
trong xã hội, thường quy định về các vấn đề tài sản.
 Sự cải cách của PL Hồi giáo trong thế giới hiện đại:
+ Phương Tây hóa pháp luật
+ Pháp điển hóa pháp luật.
+ Loại bỏ các quy định lạc hậu và tiếp nhận tinh hoa của hệ thống pháp
luật khác.
 Do đó đã xuất hiện hệ thống pháp luật hòa trộn: Istatute Civil law, Istatute
Common law, Istatute Socialist law
Câu 14: khái niệm và đặc điểm của hệ thống PL Ấn Độ?
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
- Khái niệm: Là hệ thống pháp luật hình thành ở Ấn Độ, mang màu sắc tôn giáo,
trong đó các quy định pháp lý và tôn giáo lẫn lộn với nhau.
- Đặc điểm:
+ Phức tạp về tôn giáo: Chịu nhiều ảnh hưởng của đạo giáo như đạo Hinđu, đạo Hồi,
đạo Phật, đạo Thiên chúa, đạo Bà La-môn.
+ Luật tục vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng, có hiệu lực pháp lý rất cao và sâu rộng.
+ Chịu ảnh hưởng của hệ thống PL Common Law do Ấn Độ từng là thuộc địa của
Anh trong suốt thời gian dài.
Câu 15: khái niệm và đặc điểm của hệ thống PL TQ?
- Khái niệm: là hệ thống pháp luật của Trung Quốc, được hình thành vào khoảng
những năm 770 TCN, có sự kết hợp giữa các yếu tố truyền thống, văn hóa xa xưa, những
nét đặc thù của một nước XHCN với sự ảnh hưởng của PL các nước châu Âu- Mỹ.
- Đặc điểm:
+ Chịu ảnh hưởng nhiều bởi các giáo lý của đạo Khổng tử (Nho giáo)
+ Chịu ảnh hưởng của các nguyên tắc của hệ thống PL XHCN.
+ Mang nặng tính độc đoán chuyên quyền, coi trọng hình phạt dân sự.
+ Pháp luật TQ có nguồn gốc chủ yếu là những quy chế và quy định luật định hơn là
luật lệ.

thịt lợn, phụ nữ phải bịt mặt, chế độ đa thê. Khác với hệ thống pháp luật phương tây, hệ
thống PL Hồi giáo không thể hiện ý chí của nhân dân thông qua tầng lớp lập pháp mà thể
hiện ý chí cốt lõi của tôn giáo đạo Hồi.
+ Hệ thống PL Ấn Độ: Là hệ thống pháp luật hình thành ở Ấn Độ, mang màu sắc tôn
giáo, trong đó các quy định pháp lý và tôn giáo lẫn lộn với nhau. Ví dụ: Hệ thống PL Ấn
độ chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo khác nhau: Hindu, Phật giáo, coi trọng luân hồi,
kiêng ăn thịt bò, … Chịu ảnh hưởng của pháp luật Anh về án lệ và pháp điển hóa luật
pháp.
CHƢƠNG 2: HĐKDQT
Câu 18. Khái niệm, đặc trƣng của HĐ KDQT
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
Khái niệm:
Hợp đồng kinh doanh quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi,
chấm dứt quyền và nghĩa vụ với nhau trong hoạt động kinh doanh quốc tế.
Hợp đồng kinh doanh quốc tế là loại hợp đồng đặc thù của hợp đồng dân sự, là quan hệ
xã hội được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên để thỏa mãn nhu cầu trao đổi trong
giao lưu thương mại.
Hợp đồng kinh doanh quốc tế là một loại hợp đồng dân sự nên sẽ mang đầy đủ các đặc
điểm của HĐ dân sự:
(1) Các bên trong hợp đồng là các cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác.
(2) HĐ được hình thành trên cơ sở có sự thỏa thuận, dựa trên quan hệ bình đẳng, thiện
chí, hợp tác giữa các bên.
(3) Mục đích của thỏa thuận đó là nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ các bên.
(4) Hình thức của hợp đồng có thể bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ
thể trừ khi pháp luật có quy định khác.
Ngoài những đặc điểm nêu trên, HĐ KDQT còn có những dấu hiệu đặc trưng, cụ thể:
1. Chủ thể: Những cá nhân hoặc tổ chức kinh doanh có nơi cư trú hoặc trụ sở ở các
nước khác nhau. Có những hợp đồng chỉ yêu cầu ít nhất một trong các bên trong

Điều kiện áp dụng:
- Các bên thỏa thuận trong HĐ
- Các bên thỏa thuận chọn luật áp dụng cho HĐ sau khi HĐ KDQT được ký kết. Có
thể lúc giao kết HĐ, vì 1 số lý do chủ quan hoặc khách quan, các bên đã không
thỏa thuận luật áp dụng cho HĐ, khi có tranh chấp xảy ra hoặc sau khi ký kết HĐ,
các bên vẫn có thể đám phán với nhau để thỏa thuận chọn luật quốc gia. Nội dung
thỏa thuận mới này sẽ trở thành phụ lục của HĐ
- Khi điều ước quốc tế là nguồn luật điều chỉnh HĐ nhưng ĐƯQT này lại dẫn chiếu
đến luật quốc gia. ( thường là điều ước thông nhất quy phạm xung đột).
- Khi HĐ không quy định luật điều chỉnh và các bên không thỏa thuận được với luật
áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp lựa chọn.
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
 Điều ước quốc tế:
Tranh chấp phát sinh từ HĐ KDQT mà vấn đề liên quan đến tranh chấp không quy định
hoặc quy định không đầy đủ trong HĐ, các bên ký kết có thể dựa vào các ĐƯQT vè Kd
TM
+ Đối với những ĐƯQT mà quốc gia của các bên trong HD đã ký kết hoặc đã thừa nhận
thì chúng có giá trị bắt buộc đối với HĐKDT. ĐƯQT này là nguồn luật đương nhiên. (
các bên áp dụng mà không cần quy định trong HĐ)
+ Đối với những ĐƯQT mà quốc gia của một bên hoặc của các bên trong HĐ chưa ký
kết hoặc thừa nhận thì ĐƯQT này chỉ có tính chất tham khảo. ĐƯQT này chỉ trở thành
luật điều chỉnh HĐ khi các bên thỏa thuận áp dụng chúng trong HĐ.
 Tập quán thương mại quốc tế:
- Khi chính HĐ KDQT quy định
- Khi các điều ước quốc tế liên quan quy định
- Khi luật thực chất (luật quốc gia) do các bên thỏa thuận lựa chọn, không có quy
định hoặc quy định nhưng không đầy đủ về vấn đề tranh chấp
 Một số nguồn luật khác:
a) Hợp đồng mẫu: khi các bên dẫn chiếu đến HĐ mẫu hoặc đến 1 hay 1 số điều

gửi chấp nhận.
Điều kiện từ chối đề nghị giao kết HĐ:
Khi bên được đề nghị nhận được đề nghị giao kết HĐ, họ có thể im lặng hoặc từ chối một
cách rõ ràng. Khi đó HĐ không được hình thành và bản đề nghị giao kết HĐ không còn
bị ràng buộc bởi đề nghị của mình. Nếu bên được đề nghị chấp nhận nhưng kèm theo 1
số điều kiện thì chấp nhận này sẽ trở thành 1 đề nghị giao kết HĐ mới của bên được đề
nghị gửi cho bên đề nghị.
Câu 21. Nhƣ thế nào là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng? điều kiện hiệu lực của
đề nghị giao kết hợp đồng?
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là một tuyên bố hay hành vi của bên được đề
nghị chỉ rõ sự đồng thuận của mình và được chuyển tới bên đề nghị. Hình thức mà bên
được đề nghị thể hiện sự đồng thuận của mình có thể là hành vi ( thanh toán trước 1 phần
giá trị của HĐ, vận chuyển hàng tới người mua…), văn bản hoặc lời nói.
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
( chấp nhận giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đồng ý ký kết hợp đồng)
Điều kiện hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng:
- Phải được chấp nhận trong thời gian hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng
- Và đề nghị phải được chấp nhận vô điều kiện.
Câu 22. Ƣu và nhƣợc điểm của việc sử dụng HĐ mẫu?
hợp đồng mẫu gồm các điều khoản soạn sẵn, gợi ý để các bên tham khảo khi đàm phán
và ký kết hợp đồng. Các bên có thể điều chỉnh lại các điều khoản cho phù hợp. HĐ mẫu
có thể trong nhiều lĩnh vực ko nhất thiết chỉ liên quan đến thuê tàu.
Ƣu
Nhƣợc
- Có thể tham khảo vì các điều khoản
khá đầy đủ
- Các bên có thể sửa đổi, bổ sung các điều
khoản của HĐ cho phù hợp với giao dịch
kinh doanh của mình

cộng). Nội dung của HĐ có các điều khoản của HĐ phải tuân theo các quy phạm bắt
buộc của pháp luật. ( VD: luật TM VN quy định mức phạt < = 8% đối với giá trị vi phạm
HĐ). HĐ phải có các điều khoản chủ yếu của HĐ. ( Luật TM VN, điều khoản chủ yếu do
2 bên thỏa thuận. CISG có 7 điều khoản cơ bản: giá cả, thanh toán, chất lượng, số lượng,
địa điểm giao hàng, phạm vi trách nhiệm mỗi bên, giải quyết tranh chấp)
Thứ tƣ, đối tƣợng hàng hóa mua bán của HĐ phải hợp pháp: không thuộc các danh
mục cấm kinh doanh, cấm XNK
Thứ năm, hợp đồng mua bán phải đƣợc giao kết đảm bảo các nguyên tắc của HĐ
theo quy định của PL: tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực.
Câu 24. Thế nào là HĐ vô hiệu. Nêu các loại HĐ vô hiệu
HĐ vô hiệu là HĐ theo luật không làm phát sinh những hậu quả pháp lý mà các bên
đương sự mong muốn.
Các loại HĐ vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối – hợp đồng vô hiệu tƣơng đối
- HĐ vô hiệu tuyệt đối là HĐ vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết HĐ ( ví dụ do ký sai
thẩm quyền)
- HĐ vô hiệu tương đối: chỉ vô hiệu khi có quyết định của cơ quan xét xử, tòa án,
trọng tài sau khi xem xét, giám định, kiểm tra.
Hợp đồng vô hiệu toàn phần – hợp đồng vô hiệu 1 phần
- Hợp đồng vô hiệu toàn phần: toàn bộ nội dung của HĐ bị vô hiệu ( dù các bên
chưa hay đang hay đã thực hiện)
Hợp đồng vô hiệu toàn phần khi xảy ra 1 trong các trường hợp sau:
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
(1) HĐ vi phạm 1 trong các điều kiện hiệu lực của HĐ
(2) HĐ được giao kết một cách giả tạo
(3) Ngay từ thời điểm ký kết, HĐ có đối tượng không thể thực hiện vì lý do khách
quan
(4) HĐ vô hiệu do nhầm lẫn
(5) HĐ chính vô hiệu kéo theo HĐ phụ vô hiệu khi có thỏa thuận trong HĐ chính

 Người thứ 3 được tài sản thông qua HĐ không có đền bù ( tặng, cho,
biếu)
 Tài sản bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu
- Nếu tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì không có
hiệu lực, trừ 2 trường hợp sau
 Người thứ 3 nhận được thông qua bán đấu giá
 Hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định là chủ Sở hữu,
nhưng sau đó bản án, quyết định bị hủy.
Câu 26. Các hình thức ký kết HĐ? Thế nào là đề nghị giao kết HĐ và chấp nhận đề
nghị giao kết HĐ.
Các hình thức ký kết HĐ:
Ký kết trực tiếp
Ký kết gián tiếp
- Các bên trực tiếp gặp gỡ nhau, cùng
đàm phán trực tiếp
- Các bên thống nhất các vấn đề trong
quá trình đàm phán và lập bản dự
thảo HĐ
- Ngày và nơi ký kết kể từ lúc cả hai
bên cùng ký vào HĐ, được xác định
theo ngày và nơi các bên cùng ký
vào HĐ
- Các bên ở xa nhau, không có điều
kiện trực tiếp đàm phán
- HĐ được ký bằng cách gửi, trao đổi
đề nghị giao kết HĐ và chấp nhận
giao kết HĐ
- Bao gồm 2 bước:
+ đề nghị giao kết HĐ (chào hàng,
đặt hàng)

nghị. Hình thức mà bên được đề nghị thể hiện sự đồng thuận của mình có thể là hành vi
(thanh toán trước 1 phần giá trị HĐ, vận chuyển hàng tới người mua….), văn bản, lời nói)
Câu 27. Trách nhiệm do vi phạm HĐ: khái niệm và các yếu tố cấu thành
Khái niệm:
Thành quả ngày mai được gieo mầm từ hạt giống hôm nay
NHÓM BIÊN SOẠN VẤN ĐÁP ML11_7/2014
- Vi phạm HĐ là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của
luật này ( K12, DD3, LTM 2005)
- Trách nhiệm do vi phạm HĐ là một loại trách nhiệm dân sự áp dụng đối với
người có hành vi vi phạm do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không
đầy đủ các nghĩa vụ trong HĐ, buộc người này phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất
lợi.
Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm HĐ:
- Có hành vi vi phạm HĐ: hành vi vi phạm HĐ KDQT là cách cư xử của chủ thể
HĐ không phù hợp với các nghĩa vụ theo HĐ. VD: không thực hiện, thực hiện
không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo HĐ. Căn cứ vào thỏa thuận của các
bên (thỏa thuận trong HĐ, trong văn bản riêng sau khi đã ký kết HĐ) và các quy
định của pháp luật điều chỉnh cho HĐ KDQT.
- Có thiệt hại vật chất trực tiếp và thực tế xảy ra: là những thiệt hại có thể tính toán
được bằng con số cụ thể, tính toán được thành tiền mà bên bị vi phạm HĐ phải
gánh chịu.
+ giá trị tổn thất thực tế và trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm
gây ra.
+ khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi
vi phạm.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm HĐ và thiệt hại thực tế: hành vi vi
phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Bên có hành vi vi phạm HĐ chỉ
phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm
HĐ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status