Tình hình thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phần i: Một số vấn đề lý luận về
bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm
và đến nay đã đợc thực hiện hiện ở tất cả các nớc trên thế giới. so với các
loại hình bảo hiểm khác,đối tợng, chức năngvà tính chất của bảo hiểm xã hội
có những điểm khác biệt do bản chất của nó chi phối.
I. khái niệm và bản chất của bảo hiểm xã hội.
Trong cuộc sống, con ngời phải có các điều kiện tối thiểu nh: ăn, mặc,
đi lại để tồn tại. Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, con ngời phải lao
động để làm ra những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm tạo ra ngày càng
nhiều thì đồi sống con ngời ngày càng đày đủ và hoàn thiện, xã hội ngày
càng văn minh hơn nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu sinh sống và phát triển
của con ngời phụ thuộc vào khả năng lao động của chính họ. trong quá trình
đó con ngời không tránh khỏi quy luậtsinh, lão, bệnh, tử . Khi còn nhỏ phải
dựa vào những ngời đã trởng thành nuôi dỡng, khi trởng thành lại phải lao
động đẻ tự nuôi sống mình và những ngời phụ thuộc. Nhng trong thực tế,
không phải lúc nào con ngời cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và
mọi điều kiện sinh sống bình thờng . Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó
khăn , bất lợi , ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc
mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn bất ngờ bị ốm
đau hay bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao
động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm
Khi rơi vào các trờng hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động nói trên
các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không vì thế mà mất đi.Trái lại,có cái
còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới nh: cần đợc
khám chữa bệnh và điều trị khi ốm đau; tai nạn thơng tật nặng cần phải có
ngời chăm sóc nuôi dỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuọc sống, con
ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiểu cách giải quyết
khác nhau.
1

thuộc vào giới chủ có muốn hay không.
Nh vậy, một mặt, giới chủ đỡ phải bị thiệt hại về kinh tế do không phải
chi một lúc những khoản tiền lớn, mặt khác, ngời lao động làm thuê đợc bảo
đảm chắc chắn một phần thu nhập khi bị ốm dau tai nạn.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong lĩnh vực kinh tế xã hội, không ai có thể d tính hết đợc mọi
khía cạnh của cuộc sống, nhiều trờng hợp rủi ro xảy ra vợt quá khả năng khắc
phục của một ông chủ. Giới thợ luôn luôn mong muốn đợc bào đảm nhiều
hơn, còn giới chủ thì lại luôn luôn mong muốn phải chi ít hơn, tức là phải
đảm bảo cho giới thợ ít hơn nên tranh chấp chủ thợ lại tiếp diễn. Trớc tình
hình đó, nhà nớc tiếp tục can thiệp điều chỉnh buộc giới chủ phải đóng thêm
đồng thời giới thợ cũng phải đóng góp một phần vào sự bảo đảm cho chính
mình, hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ
này còn đợc bổ sung từ ngân sách nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo đời
sống cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi.Chính nhờ mối
quan hệ giàng buộc đó mà rủi ro,bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc
sống của ngời lao động và gia đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn định.Giới
chủ cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ,sản xuất kinh doanh diễn ra bình th-
ờng tránh đợc những xáo trộn không cần thiết.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ
trên đợc thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động.
Nh vậy, bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập đối với ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc
mất khả năng lao động,mất việc làm Trên cơ sở hình thành và sử dụng một
quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình
họ,góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Với cách hiểu nh trên, bản chất của bảo hiểm xã hội đợc thể hiện ở
những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp

ngột. Bởi vì, việc tăng chi tiêu đột ngột trong những trờng hợp này sẽ làm sụt
giảm ngân quỹ gia đình và làm giảm khả năng thanh toán của ngời lao động
đói vơ những nhu cầu sinh sống thiết yếu từ thu nhập theo lao động.
Thứ t, phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp
phải những biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền
tệ tập trung đợc tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia bảo hiểm xã hội
đóng góp là chủ yéu. Trong đó, ngời sử dụng có trách nhiẹm tham gia để bảo
hiểm xã hội đối với ngời lao động mà mình sử dụng; ngời lao động phải
tham gia đóng góp một phần để bảo hiểm cho chính mình. Ngoài ra quỹ này
cònđợc sự hỗ trợ từ phía nhà nớc khi cần thiết.
Thứ năm, mục tiêu của bảo hiểm xã hội là đảm bảo đời sống ở mức cần
thiết cho ngời lao động và gia đình họ trong những trờng hợp bị giảm hoặc
mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã đợc tổ chức lao động quốc tế
( ILO )cụ thể hoá ở những điểm sau:
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Đền bù trợ cấp cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để
đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu cho họ.
- Chăm sóc sức khoẻ và phòng chống bệnh tật.
- Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân c và nhu cầu
của ngời già ngời tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những
quyền con ngời và đợc đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận và ghi nhận
vào Tuyên Ngôn Nhân Quyền ngày 10/12/1948 rằng:Tất cả mọi ngời với t
cach là thành viên của xã hội đều có quyền hởng bảo hiểm xã hội, quyền đó
đợc đặt trên cơ sở sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá, nhu
cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con ngời .
II. Đối tợng bảo hiểm xã hội và đối tợng tham gia bảo
hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội ra đời vào những năm giữa thế kỉ 19, khi nền công

năng sau:
1. Đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao
động đợc bảo hiểm xã hội khi họ bị giảm hoăc mất thu nhập do họ
bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm theo những
điều kiện xác định.
Nói là bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao
động là nói sự thay thế hoặc bù đắp đó nhất định phải xảy ra, chắc chắn phải
xảy ra, xảy ra đúng nh thế chứ không thể nào khác vì suy cho cùng, mất khả
năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao động theo
các điều kiện quy định của bảo hiểm xã hội. Còn mất việc làm và mất khả
năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập của ngời lao động cũng
sẽ đợc hởng trợ cấp bảo hiểm xã hội với mức hởng phụ thuộc vào các điều
kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn đợc hởng phải đúng quy định. Đây là
chức năng cơ bản nhất của bảo hiểm xã hội, nó quyết định nhiệm vụ, tính
chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của bảo hiểm xã hội.
2. Phân phối và phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia bảo hiểm
xã hội
Tham gia bảo hiểm xã hội không chỉ có ngời lao động mà còn có cả
những ngời sử dụng lao động. Những ngời sử dụng lao động bắt buộc phải
đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội là để bảo hiểm nhng không phải trực tiếp
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cho mình mà là cho ngời lao động mà mình sử dụng nên không đợc quyền h-
oửng trợ cấp. Những ngời lao động có đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội mới
có quyền đợc hởng trợ cấp nhng do còn khoẻ mạnh, có việc làm cóthu nhập
bình thờng nên cũng không đợc hởng trợ cáp bảo hiểm. Chỉ có những ngời
lao động bị giảm hoặc mất thu nhập trong những trờng hợp xác định và có
đầy đủ các điều kiện cần thiết mới đợc hởng trợ cấp từ quỹ bảo hiểm xã hội.
số lợng những ngời này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số ngời tham gia đóng
góp nêu trên.

khó khăn của những ngời lao động tham gia bảo hiểm xã hội với một tổng dự
trữ ít nhất . Đối với nhà nớc, chi cho bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động là
cách thức phải chi ít nhất nhng vẫn giải quyết tốt những rủi ro, khó khăn về
đời sống của ngời lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn
định, kinh tê chính trị xã hội ổn định và an toàn.
Nh vậy , bảo hiểm xã hội đã phát huy tiềm năng của số đông ngời và u
điểm của nhiều phơng thức hoạt động trong kinh tế thị trờng để bảo đảm an
toàn đời sống cho ngời lao động cũng nh xã hội. Đồng thời, bảo hiểm xã hội
cũng tạo ra sự gắn bó chặt chẽ về lợi ích , cả lợi ích trớc mắt cũng nh lợi ích
lâu dài của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, cũng nh giữa các bên đó với
nhà nớc và xã hội.
IV. Những quan điểm và nguyên tắc cơ bản về bảo hiểm
xã hội
Do mỗi nớc có đặc điểm kinh tế-xã hội khác nhau nên những quan điểm
của các nớc về bảo hiểm xã hội cũng khác nhau. Tuy nhiên, có một số quan
điểm về bảo hiểm xã hội đợc hầu hết các nớc thừa nhận. Những quan điểm này
sẽ chi phối việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội ở mỗi nớc.
Thứ nhất, chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là bộ phận
quan trọng nhất trong các chính sách xã hội ở mỗi quốc gia. Quan điểm này
thể hiện sự thống nhất và nhất trí cao của các nớc về tính xã hội của BHXH.
Mục đích chủ yếu của chính sách này nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao
động bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm. Thực chất, đây là một trong những loại chính sách đối với con ngời
nhằm đáp ứng một trong những quyền và nhu cầu hiển nhiên của con ngời,
nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn lao động, an toàn xã hội... Chính sách
BHXH còn thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả
năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia. Trong một chừng mực nhất định,
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nó còn thể hiện tính u việt của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức và thực hiện

cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
Đối với ngời lao động, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và
không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khai thì trớc hết đó rà rủi
ro của bản thân. Vì thế nếu muốn đợc BHXH tức là muốn nhiều ngời khai
thác hỗ trợ cho mình, là dàn trãi rủi ro của mình cho nhiều ngời khác thì tự
mình phải gánh chịu trực tiếp và trớc hết đã. Điều đó có nghĩa là bản thân ng-
ời lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
Thứ ba, tất cả mọi ngời lao động đều bình đẳng về bảo hiểm xã hội cả
về mức đóng góp cũng nh quyền lợi đợc hởng BHXH, không phân biệt nam
nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp...
Quyền đợc bảo hiểm xã hội của ngời lao động là một trong những biểu
hiện cụ thể của quyền con ngời nh trong tuyên ngôn nhân quyền của Liên
Hiệp Quốc đã nêu. Biểu hiện cụ thể quyền đợc BHXH của ngời lao động là
việc họ đợc hởng trợ cấp BHXH theo các chế độ xác định. Các chế độ ngày
gắn với trờng hợp ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc
mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống.
Tuy nhiên, nghĩa vụ là quyền lợi của ngời lao động về BHXH còn tuỳ
thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội vào các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã
hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Nhng nhìn chung, khi sản xuất phát triển,
kinh tế tăng trởng, chính trị và xã hội ổn định thì ngời lao động tham gia và
đợc hởng trợ cấp BHXH ngày càng nhiều.
Thứ t, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng hu đã đi làm, nh-
ng thấp nhất cũng phải bảo đảm mức sống tối thiểu.
Quan điểm này vừa phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh
nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những ngời tham gia BHXH. Trợ
cấp BHXH loại trợ cấp thay thế cho tiền lơng nh trợ cấp ốm đau, thai sản, hu
trí tuổi già chứ không phải là loại trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp xã hội khác.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Mà tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao động hị

nớc phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nớc qui định. Có những mô
hình về bảo đảm vật chất cho BHXH do ngân sách Nhà nớc cung cấp thì vai
trò quản lý Nhà nớc là trực tiếp và toàn diện; nếu nguồn bảo đảm trợ cấp do
ngời sử dụng lao động, ngời lao động và Nhà nớc đóng góp thì Nhà nớc tham
gia quản lý. Việc quản lý BHXH Nhà nớc có thể giao cho một bộ, ban, hoặc
vụ trực tiếp điều hành.
V- Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội.
1. Khái niệm chính sách bảo hiểm xã hội và chế độ bảo hiểm xã hội.
Chính sách BHXH là những qui định chung, rất khái quát của Nhà nớc
về những mục tiêu, phạm vi đối tợng, nội dung chính, các mối quan hệ và
những giải pháp lớn về BHXH để đạt mục tiêu chung đã đề ra.
Chính sách BHXH đợc đề ra trên cơ sở cơ cấu kinh tế - xã hội, các điều
kiện kinh tế - xã hội và xu hớng vận động khách quan của chúng. Nói cách
khác, chính sách BHXH có thể đợc biểu hiện dới nhiều dạng phong phú nh:
trong các văn bản chung của Nhà nớc, trong hiến pháp, bộ luật, đạo luật, kế
hoạch Nhà nớc vì là ở cấp độ chung nh vậy nên chính sách BHXH sẽ khó
trở thành hiện thực nếu không thông qua các chế độ BHXH.
Vậy, chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các
qui định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phơng tiện để thực hiện
BHXH đối với ngời lao động. Nói cách khác, đó là hệ thống các qui định đợc
pháp luật hoá về đối tợng hởng, điều kiện để đợc hởng, mức hởng, thời hạn h-
ởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trờng hợp BHXH cụ thể.
Chế độ BHXH có thể phân theo các chế độ ngắn hạn hoặc dài hạn, các
chế độ theo các trờng hợp BHXH: ốm đau, thai sản, tuổi già.
2. Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội.
Theo công ớc 102 tháng 6/1952 về an toàn xã hội của tổ chức lao động
quốc tế (ILO) đã đa ra các chế độ BHHX bao gồm 9 chế độ:
(1) Chế độ chăm sóc y tế
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Quĩ tài chính BHXH là một quĩ tài chính độc lập, tập trung năm ngoài
ngân sách Nhà nớc đợc hình thành nên cơ sở sự đóng góp của các bên tham
gia BHXH để chi trả cho những ngời lao động đợc BHXH và gia đình họ khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất
việc làm.
Nh vậy, quĩ BHXH là một quĩ tiêu dùng, đồng thời là một quĩ dự phòng,
nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ
sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và
phát triển.
Quĩ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những
rủi ro của tất cả những ngời tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc
dàn trải rủi ro đợc thực hiện ở cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời
giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho
cả ngân sách Nhà nớc và ngân sách gia đình.
Quĩ BHXH đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Trớc hết, đó là
phần đóng góp của ngời sử dụng lao động, ngời lao động với Nhà nớc. Đây là
nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất và cơ bản của quĩ. Thứ hai, là phần tăng thêm
do bộ phận nhàn rỗi tơng đối của quĩ đợc tổ chức BHXH chuyên trách đa vào
hoạt động đầu t sinh lợi. Thứ ba, là phần nộp phát của những cá nhân và tổ
chức vi phạm luật lệ về BHXH. Cuối cùng, là phần chênh lệch để lại do tham
gia hợp tác về BHXH với các nớc khác và các khoản ủng hộ của các cá nhân
và tổ chức cho quĩ
Phần lớn các nớc trên thế giới, quĩ BHXH đều đợc hình thành từ các
nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH có khác nhau.
Về phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ
vào mức lơng cá nhân và quĩ lơng của tổ chức, doanh nghiệp. Quan điểm thứ
hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc

BHXH là khoản tiền đóng góp hàng tháng của những ngời tham gia BHXH
cho quỹ BHXH.
Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu - chi quỹ BHXH. Vì vậy,
khi tính phí BHXH phải đợc tính toán một cách khoa học dựa trên việc sử
dụng các phơng pháp toán học và những căn cứ khác nhau để xác định.
- Dựa vào tiền lơng và thang lơng để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó
có cơ sở để xác định mức phí đóng.
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Quy định mức phí BHXH trớc, rồi từ đó xác định mức hởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của ngời lao động để xác định mức hởng,
rồi từ mức hởng BHXH này có thể xác định đợc mức phí phải đóng
Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhng xác định phí BHXH lại
khá phức tạp vì nó liên quan đến cả ngời lao động, ngời sử dụng lao động và
Nhà nớc, liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của ngời lao động và điều
kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Tuy nhiên, khi xác định mức phí
BHXH phải đảm bảo nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có
dự phòng. Mức phí xác định phải đợc cân đối với mức hởng, với nhu cầu
BHXH và điều chỉnh sao cho tối u nhất.
Phí BHXH có nhiều loại tuỳ theo cách phân loại cụ thể. Nếu theo kết
cấu các chế độ BHXH thì mỗi chế độ có một loại phí tơng ứng, đồng thời có
phí BHXH tổng hợp chung cho tất cả các chế độ. Nếu theo kết cấu nội tại của
phí BHXH thì có phí thuần tuý và phí toàn phần.
Giả sử ta lựa chọn cách đóng phí BHXH tổng hợp cho tất cả các chế độ
BHXH chứ không đóng phí riêng cho từng chế độ thì phí thuần tuý là phần
phí tính toán của cơ quan BHXH mà ngời lao động phải tham gia BHXH phải
đóng để có thể đợc hởng các chế độ xác định. Có thể hình dung phí thuần tuý
gần giống nh phần chi phí vật chất trong giá thành sản phẩm. Để chuyển từ
có thể đợc hởng thành hiện thực chắc chắn đợc hởng thì cong phải cộng thêm
một số chi phí cần thiết khác nữa nh quản lý phí. Đây chính là phí BHXH

TP
= P
TT
+ P
SP
+ P
QL
+ P
LĐM
(2)
Trong đó: P
LĐM
: là lãi định mức cho tổ chức BHXH.
ở các nớc trên thế giới (trừ các nớc xã hội chủ nghĩa cũ) hệ thống
BHXH của mỗi nớc thờng gồm hau hệ thống thành phần. Hệ thống thành
phần lớn nhất, đóng vai trò trụ cột, có phạm vi hoạt động bao trùm cả nớc và
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong lĩnh vực BHXH là do Nhà nớc lập ra và sự
tham gia là bắt buộc. Quỹ BHXH của hệ thống thành phần này có sự bù đắp
thêm của ngân sách Nhà nớc nên nó không hoạt động theo phơng thức kinh
doanh đối với ngời lao động và phí BHXH đợc tính theo công thức (1). Còn
hệ thống thành phần thứ hai do t nhân và các tổ chức xã hội lập ra theo quy
định của pháp luật và có sự bảo trợ của Nhà nớc nhằm BHXH cho những đối
tợng ngoài phạm vi của hệ thống thứ nhất. Sự tham gia hay không của các đối
tợng là tự nguyện và phí BHXH đợc áp dụng tính theo công thức (2).
Theo mục đích của BHXH, quỹ BHXH phải đảm nhận chi những khoản
chủ yếu nh: chi trả trợ cấp thep các chế độ BHXH (khoản chi này chiếm tỷ
trọng lớn nhất) chi phí cho bộ máy hoạt động BHXH chuyên nghiệp (tiền l-
ơng, đào tạo) chi phí bảo đảm các cơ sở vật chất cần thiết và chi phí quản lý
khác.
17

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đặc điểm thời kỳ này là các cơ quan quản lý sử dụng cán bộ công nhân
viên chức Nhà nớc, đồng thời là cơ quan thực hiện các chế độ BHXH. Có thể
đây là thời kỳ manh nha về BHXH của Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
(nay là Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Trong giai đoạn này
chính sách BHXH đợc thực hiện đã thực sự là nguồn động viên cổ vũ công
nhân viên chức yên tâm phấn khởi lao động sản xuất, góp phần xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nớc.
Tuy nhiên,, chính sách BHXH cũng bộc lộ nhiều nhợc điểm không phù
hợp.
- Đối tợng tham gia còn hạn hẹp, ngời đợc hởng chế độ BHXH chỉ có
cán bộ công nhân viên chức, cha mở rộng đến các đối tợng ngời lao động
khác đã làm mất đi tính tích cực, u việt của chủ nghĩa xã hội đối với ngời lao
động, cha xác lập đợc sự công bằng giữa những ngời lao động trong việc thực
hiện nghĩa vụ và quyền lợi về BHXH.
- Việc thực hiện các chính sách BHXH còn phân tán không có hiệu quả,
vì thế nó cha thực sự trở thành chính sách xã hội lớn.
2. Thời kỳ từ năm 1961 đến năm 1995.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 3 (năm
1960): xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng dân tộc ở
miền Nam, Quốc hội và Chính phủ đã khẩn trơng thực hiện đề án xây dựng
Điều lệ về các chế độ BHXH và tổ chức quản lý công tác BHXH. Ngày
14/12/1961 Uỷ ban thờng vụ quốc hội ra Nghị quyết phê chuẩn việc Hội
đồng Chính phủ quy định và ban bố "Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công
nhân viên chức Nhà nớc". Hội đồng Chính phủ sẽ thoả thuận với Tổng Công
đoàn Việt Nam (nay là Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam) về việc quản lý
quỹ BHXH của Nhà nớc và quản lý các sự nghiệp BHXH.
Ngày 27/12/1961 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 218
kèm theo điều lệ tạm thời về BHXH, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/11/1962.
Điều lệ về BHXH quy định áp dụng đối với tất cả những ngời làm việc trong

nhập ban BHXH vào Ban tài chính (1968-1973). Việc bàn giao nhiệm vụ, hồ
sơ đối tợng và quỹ giữa Tổng công đoàn với tổ chức BHXH các bộ đến tháng
8/1964 mới xong. Do thay đổi tổ chức của các bộ, nên quản lý và thực hiện
các chế độ BHXH đã chuyển giao từ Bộ Nội vụ sang Bộ Lao động; Bộ Lao
động sang Bộ Thơng binh xã hội, rồi lại nhập về Bộ Lao động - Thơng binh
và xã hội.
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tháng 5/1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, chính sách BHXH
đợc thực hiện thống nhất trong cả nớc.
Nhìn lại chặng đờng hơn 30 năm từ 1962-1993, chính sách BHXH đã
đạt đợc những thành tựu to lớn và đã thực sự trở thành sự bảo vệ của Nhà nớc
và xã hội đối với công nhân viên chức và quân nhân yên tâm, phấn khởi lao
động sản xuất và chiến đấu góp phần giải phóng và xây dựng đất nớc. BHXH
còn góp phần giải quyết hậu quả chiến tranh, hàng vạn cán bộ, viên chức,
quân nhân bị giảm sút sức khoẻ đã nghỉ việc hởng chế độ đã đợc đãi ngộ, ổn
định cuộc sống. BHXH đã khẳng định quyền lợi thiết yếu của cán bộ, viên
chức, quân nhân trong suốt quá trình làm việc và nghỉ hu khi tuổi cao sức
yếu, chỉ tính đến đầu năm 1993, chính sách BHXH đã đảm bảo trợ cấp cho
hơn 6 triệu lợt ngời hởng trợ cấp thai sản, hơn 2 tỷ ngày nghỉ ốm, hơn 3 vạn
ngời hởng trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, gần 60 vạn ngời hởng
trợ cấp mất sức lao động, 1,5 triệu ngời hởng lơng hu trong đó có 16 vạn tớng
lĩnh sĩ quan quân đội,công an; 30 vạn ngời hởng tiền tuất hàng tháng, hàng
chục vạn lợt ngời đợc hởng chế độ nghỉ ngơi dỡng sức.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt đợc, chính sách
BHXH cũng dần bộc lộ những nhợc điểm, đặc biệt là từ khi Nhà nớc đổi mới
nền kinh tế - xã hội, đó là:
Thứ nhất, chỉ thực hiện BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nớc
nên rất hạn chế việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, bởi vì việc
di chuyển lao động từ khu vực kinh tế Nhà nớc ra khu vực kinh tế ngoài quốc

khắc phục những nhợc điểm trên. Đảng và Nhà nớc đã có chủ trơng đổi mới
chính sách BHXH, chủ trơng đợc thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 là:
"Nhà nớc thực hiện BHXH đối với công chức Nhà nớc và ngời làm công ăn l-
ơng, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với ngời lao
động".
Ngày 22/6/1993, Chính phủ ra Nghị định 43/CP quy định tạm thời chế
độ BHXH thay cho Nghị định 218/CP. Nội dung Nghị định đã bao hàm
những cải cách lớn về BHXH, làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp xây
dựng quỹ của ngời sử dụng lao động và ngời lao động; các chế độ BHXH chỉ
còn lại 5 chế độ (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hu
trí, tử tuất), chế độ mất sức lao động đợc đa vào hu trí hởng tỷ lệ thấp hay trợ
cấp một lần.
Sau một năm, ngày 23/6/1994, tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá IX đã
thông qua bộ luật lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1995, trong đó có
chơng 12 về BHXH. Đây là một chấm phá, cải cách các chế độ BHXH và tổ
chức quản lý thu - chi, thực hiện các chế độ BHXH.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Thi hành luật lao động về BHXH, chính phủ đã ra Nghị định 12/CP
ngày 26/1/1995 ban hành điều lệ BHXH và Nghị định 19/CP ngày 16/2/1995
về việc thành lập BHXH Việt Nam.
3. Thời kỳ từ năm 1995 đến nay.
Với việc Chính phủ ban hành các nghị địh 12/CP ngày 26/2/1995, ban
hành điều lệ BHXH và Nghị định 19/CP ngày 16/2/1995 về việc thành lập
BHXH Việt Nam đã đánh dấu một bớc ngoặt lớn trong sự nghiệp BHXH Việt
Nam. Nội dung của việc đổi mpí chính sách BHXH góp phần thực hiện các
mục tiêu của Đảng và Nhà nớc đề ra, góp phần thực hiện công bằng và sự
tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trờng lao động và góp phần
nào đó đáp ứng đợc sự mong mỏi của đông đảo ngời lao động trong các
thành phần kinh tế của cả nớc.

3.2. Các chế độ BHXH.
Theo điều 2 của điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nớc ta hiện nay thực
hiện 5 chế độ.
- Chế độ trợ cấp ốm đau: chế độ này giúp cho ngời lao động có đợc
khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất do không làm việc khi bị ốm đau.
- Chế độ trợ cấp thai sản: chế độ này giúp cho lao động nữ có đợc khoản
trợ cấp thay thế cho phần thu nhập bị mất do không làm việc vì sinh sản,
đồng thời quy định thời gian nghỉ có tính đến yếu tố điều kiện, môi trờng lao
động nhằm đảm bảo sức khoẻ cho sản phụ thuộc các nhóm lao động khác
nhau.
- Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: góp phần đảm bảo thu
nhập, ổn định cuộc sống cho ngời lao động không may bị tai nạn lao động
hoặc bệnh nghề nghiệp, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của ngời sử dụng
lao động đối với các trờng hợp xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp.
- Chế độ hu trí: đây là chế độ nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế
cho phần thu nhập khong đợc nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hu.
- Chế độ tử tuất: chế độ này đã giúp cho thân nhân ngời chết có đợc
khoản trợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do ngời lao
động bị chết.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nội dung cơ bản của 5 chế độ nêu trên đợc quy định thống nhất trong
chơng II của Điều lệ BHXH.
3.3. Quỹ bảo hiểm xã hội.
Theo điều lệ BHXH hiện hành, quỹ BHXH đợc hình thành từ các nguồn
sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ tiền lơng của những
ngời tham gia BHXH trong đơn vị; trong đó 10% để chi các chế độ hu trí, tử
tuất, 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status