Đánh giá thực trạng áp dụng công cụ thuế và phí trong quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ
VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ
VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thu Hằng
Thái Nguyên - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết,
nghiên cứu khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS. Phan Thị Thu Hằng.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, phần trích dẫn tài liệu tham
khảo đều được ghi rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Người viết cam đoan
Nguyễn Thu Hương

DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
2.1.Mục tiêu tổng quát 2
2.2.Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1.Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.2. Cơ sở pháp lý 5
1.2. Các công cụ kinh tế trong Quản lý môi trường 6
1.2.1 Khái niệm các công cụ kinh tế 6
1.2.2. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 7
1.2.3. Thuế bảo vệ môi trường 14
1.2.4. Phí bảo vệ môi trường 18
1.2.5. Tình hình thực hiện thuế, phí bảo vệ môi trường trên thế giới và
ở Việt Nam 19
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 23
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 23
iv
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 23
2.1.4. Địa điểm nghiên cứu 23
2.2. Nội dung nghiên cứu 23
2.3. Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu 24

3.5.2. Giải pháp về kỹ thuật 70
3.5.3. Giải pháp về truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về nộp
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn, hoạt động
khai thác khoáng sản 71
3.5.4. Giải pháp về kinh tế 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1. Kết luận 73
2. Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Dân số trung bình phân theo giới tính ở tỉnh Thái Nguyên 32
Bảng 3.2. Danh mục các văn bản pháp luật liên quan tới thuế, phí bảo vệ môi
trường được ban hành 45
Bảng 3.3. Tình hình thu phí nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên từ năm 2008 đến nay 49
Bảng 3.4. Tình hình thu phí nước thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
từ năm 2007 đến nay 51
Bảng 3.5. Hiện trạng thu gom chất thải rắn sinh hoạt nội sinh trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên năm 2013 53
Bảng 3.6. Hiện trạng thu gom rác thải sinh hoạt tại Thành phố Thái Nguyên 54
Bảng 3.7. Tình hình thu phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành
phố Thái Nguyên từ năm 2008 đến nay 55
Bảng 3.8 . Tổng hợp số thu phí BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản
giai đoạn từ năm 2006 đến nay 57
Bảng 3.9. Tổng hợp số thu thuế tài nguyên tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ
năm 2006 đến nay 59
Bảng 3.10. Mức độ sẵn sàng chi trả thuế phí BVMT của các cá nhân theo
mức thu nhập 66

BVMT
: Bảo vệ môi trường
MTV
: Một thành viên
TN & MT
: Tài nguyên và môi trường
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
UBND
QĐ/TTg
: Ủy ban nhân dân
: Quyết định của Thủ tướng chính phủ
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, Việt Nam đã thực hiện những bước đi quan trọng
trong việc hoàn thiện công tác quản lý môi trường và hỗ trợ thực thi các hình
thức khuyến khích giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm bằng các công cụ kinh tế.
Bộ chính trị thông qua Nghị quyết Số 41-NQ/TW về công tác bảo vệ môi
trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sử dụng các
biện pháp kinh tế hỗ trợ bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Tiếp theo, Chính phủ
đã thông qua Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ban hành Chương trình Hành
động của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ
Chính trị. Trong số các nhiệm vụ đề ra trong Chương trình Hành động, nhiệm
vụ 4 có đề cập trực tiếp tới việc sử dụng các công cụ kinh tế. Quan trọng hơn,
năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi nhằm tăng
cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam, hỗ trợ tích cực hơn nữa việc
thực hiện các công cụ kinh tế. Bên cạnh các quy định về các công cụ kinh tế
như thuế, phí, lệ phí môi trường, Luật Bảo vệ môi trường còn đặc biệt nhấn
mạnh sự cần thiết phải có Quỹ môi trường trung ương và địa phương [16].

quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1.Mục tiêu tổng quát
- Làm sáng tỏ những vấn đề chung về thuế, phí bảo vệ môi trường và
những quy định của pháp luật về thuế, phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
- Đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật
cũng như công tác quản lý môi trường về thuế, phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải, chất thải rắn và hoạt động khai thác khoáng sản.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu một cách đầy đủ về hệ thống các văn bản pháp luật về thuế,
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn và trong hoạt động khai
thác khoáng sản.
3
- Tìm hiểu tình hình diễn biến hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 2005 đến nay.
- Phân tích thực trạng áp dụng các công cụ thuế và phí trong quản lý
môi trường vào thực tế, cụ thể trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Tìm hiểu tác động của việc thu thuế, phí bảo vệ môi trường đối với
môi trường địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ
thuế và phí trong quản lý môi trường trên địa bản tỉnh Thái Nguyên.
3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
Đề tài sẽ tổng hợp được những số liệu về các khoản thuế, phí bảo vệ
môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 2005 đến nay và có thể trở
thành tài liệu tham khảo dành cho tổ chức, cá nhân, tập thể, cơ quan quan tâm
và muốn tham khảo các vấn đề có liên quan.
Đưa ra thực trạng áp dụng một số công cụ thuế và phí trong quản lý
môi trường tại tỉnh Thái Nguyên và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các công cụ này.

ngân sách, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Ngoài
ra, chính sách thu, quản lý, sử dụng liên quan đến tài nguyên, môi trường còn
là công cụ quan trọng để nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát hoạt
động khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường góp phần thúc đẩy hoạt động
khai thác tài nguyên theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm nguồn thu
cho ngân sách nhà nước, đảm bảo cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường
sống cho cộng đồng [1].
5
1.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
- Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 ngày 15/11/2010;
- Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012.
- Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính về
việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ
môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012.
- Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012;
- Nghị định số 201/2013/N Đ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước;
- Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí
bảo vệ môi trường đối với nước thải;
- Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT ngày 15/5/2013
của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện Nghị
định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi
trường đối với nước thải;
- Luật Khai thác khoáng sản số 60/2010/QH12 15/11/2010;
- Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 9/2/2012 của Chính phủ Quy định
chi tiết một số điều của Luật Khoáng sản;

- Thứ nhất: Công cụ kinh tế hoạt động thông qua cơ chế giá cả trên thị
trường, chúng có chức năng nâng giá cả các hành động làm tổn hại đến môi
trường, lên hoặc hạ giá các hành động bảo vệ môi trường xuống.
- Thứ hai: Công cụ kinh tế sẽ tạo ra khả năng lựa chọn cho các tổ chức
cá nhân hành động vừa đặt được mục tiêu kinh tế vừa đáp ứng yêu cẩu bảo vệ
môi trường, phù hợp với năng lực của mình [3].
7
1.2.2. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
 Thuế tài nguyên
Pháp lệnh Thuế tài nguyên ra đời ngày 30/3/1990 và được sửa đổi
năm 1998. Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế tài nguyên.
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh
nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản
xuất. Mục đích của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên.
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hòa quyền lợi của các tầng lớp
dân cư về việc sử dụng tài nguyên [16].
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như: thuế sử dụng
đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài
nguyên khoáng sản.
Đối tượng nộp thuế: là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuộc
mọi thành phần kinh tế quốc doanh, không phân biệt ngành nghề, hình thức khai
thác, hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm lưu động
hay cố định, có khai thác sử dụng tài nguyên lòng đất, mặt đất, mặt nước [18].
Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng
công nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện
địa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để đảm bảo có sự phân biệt
đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy
thoái môi trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là: Hoạt động

phục ô nhiễm môi trường Mục đích chính của việc thu phí môi trường là
hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải
ra môi trường, mà các chất thải này có khả năng xử lý được. Phí môi trường
buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải xử lý các chất thải trước khi
9
thải ra môi trường hay hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây
ra ô nhiễm. Vì vậy công cụ này khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh,
những người gây ô nhiễm phải xử lý các chất ô nhiễm trong nguồn thải trước
khi thải ra môi trường. Phí môi trường được tính toán dựa trên lượng phát thải
của chất ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm [5].
Một số loại thuế/phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải, phí gây ô nhiễm không khí, thuế cacbon,
thuế sulphur, phí gây suy thoái tầng ôzôn, thuế chôn lấp rác, thuế xăng dầu,
thuế sử dụng khí gas, thuế môi trường, gần đây là việc áp dụng mới các loại
thuế liên quan đến chất thải rắn, và tăng thuế suất đối với thuế chất thải rắn.
Đối với thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: có 2 loại thuế chủ yếu được áp
dụng ở các nước trên thế giới đó là thuế sulphur và thuế CO
2
[16].
 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường
Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên thiên
nhiên khó có thể xác định quyền sở hữu và các tài nguyên được sử dụng công
cộng như không khí, đại dương,…
Giấy phép xả thải có thể mua bán được là thị trường mà trong đó hàng
hóa thường là giấy phép thải khí hoặc thải nước, người bán là các đơn vị sở
hữu giấy phép và người mua là các đơn vị cần giấy phép để xả thài [10].
Mục đích của công cụ tạo ra thị trường là tăng cường hiệu quả kinh tế
của công tác quản lý ô nhiễm và đầu tư công nghệ xử lý chất ô nhiễm. Các
nhà máy hoặc công ty sẽ lựa chọn giải pháp mua giấy phép để trả phí môi
trường cao hơn, hoặc bán giấy phép để đầu tư công nghệ xử lý chất ô nhiễm.

trả. Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các
cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký
gửi một khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý, hoặc các giấy tờ có giá trị như
tiền) tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng, nhằm đảm bảo sự cam kết về thực
11
hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường. Số tiền ký quỹ
phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu doanh
nghiệp, các cơ sở kinh doanh gây ra ô nhiễm suy thoái môi trường. Trong quá
trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu doanh nghiệp có các biện pháp chủ
động khắc phục không để xảy ra ô nhiễm, suy thoái môi trường đúng như cam
kết thì số tiền ký quỹ được hoàn trả lại còn ngược lại nếu doanh nghiệp không
thực hiện đúng như cam kết hoặc phá sản thì số tiền đó được rút ra khỏi tài
khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm [3].
Ký quỹ môi trường thường được áp dụng trong các ngành kinh tế dễ
gây ô nhiễm môi trường trầm trọng như: khai thác khoáng sản, xây dựng các
nhà máy tiềm ẩn mức độ ô nhiễm môi trường cao…và là công cụ kinh tế cần
thiết trong quản lý môi trường, tác động trực tiếp đến việc thực hiện trách
nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp thông qua việc khuyến khích họ
tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi
trường để nhận lại số tiền đã ký quỹ. Ngoài ra, ký quỹ môi trường còn giúp
cho Nhà nước không phải mất một khoản tiền trong ngân sách nhà nước chi
cho việc đầu tư khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường. Đây là một công cụ
kinh tế cần thiết trong quản lý tài nguyên môi trường, đóng vai trò tác động
trực tiếp đến thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường ngay sau khi khai thác
tài nguyên của các tổ chức, cá nhân [1].
 Trợ cấp môi trường
Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở rất
nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc tổ chức OECD. Trợ cấp
môi trường có thể dưới các dạng sau:
- Trợ cấp không hoàn lại

cho đến khi bị vứt bỏ. Cũng có trường hợp người ta chỉ quan tâm đến một tiêu
13
chí nhất định đặc trưng cho sản phẩm, ví dụ mức độ khí thải phát sinh, khả
năng tái chế, v.v… [2].
Theo Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) định nghĩa Nhãn sinh
thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so
với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm.
Theo Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO: Nhãn sinh thái là sự khẳng định,
biểu thị thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một
bản công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài
liệu về sản phẩm, tạp chí, kỹ thuật, quảng cáo các hình thức khác.
Về mặt hình thức, nhãn sinh thái có thể mang tên gọi khác nhau ở
từng nước. Ví dụ các nước Bắc Âu có nhãn Thiên nga trắng, Đức có
nhãn Thiên thần xanh, trong khi ở Singapore lại gọi là Nhãn xanh.
Ngoài nhãn sinh thái do một cơ quan đứng ra cấp, còn có một loại
nhãn khác do nhà sản xuất tự gắn lên sản phẩm của mình như một hình thức
quảng cáo với người dùng. Ta thấy có tủ lạnh dán nhãn "Không có CFC"
(CFC là một loại hợp chất gây phá huỷ tầng ozone) hoặc có loại pin ghi
"Không có thuỷ ngân".
Đây là một dạng công cụ kinh tế thông qua việc khuyến khích tiêu
dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường tác động đến nhà sản xuất trong
việc thay đổi quy trình công nghệ nhằm đáp ứng được các tiêu chí môi trường,
giảm thiểu các tác động môi trường, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm sử dụng
nguyên nhiên liệu đầu vào Nhãn sinh thái khẳng định uy tín của sản phẩm và
của nhà sản xuất, giúp cho nhà sản xuất có thể tạo dựng hình ảnh và có vị thế
trên thị trường vì những sản phầm loại này thường có sức cạnh tranh cao và giá
thành cũng cao hơn so với các sản phẩm cùng loại khác. Đồng thời nó cũng
thông tin, giáo dục cho người tiêu dùng về những tính năng thân thiện với môi
trường của sản phẩm, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường [3].
14

đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng minh sẽ gây ra một tác
động có hại đặc biệt đến môi trường”[17].
Tại Mục 1, Điều 2, Chương I, Luật Thuế bảo vệ môi trường được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông
qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 quy định: “Thuế bảo vệ môi trường là loại
thuế gián thu, thu vảo sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến
môi trường”. Định nghĩa trên đã nêu được những điểm cơ bản về thuế môi
trường như phương pháp đánh thuế (gián thu), và đối tượng chịu thuế (sản
phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường) [21].
1.2.3.2. Phân loại Thuế bảo vệ môi trường
Việc phân loại thuế, phí môi trường cũng có nhiều cách khác nhau, song
có ba cách phân loại thuế môi trường chính như sau:
 Dựa vào lĩnh vưc hoạt động: có 3 loại
- Thuế năng lượng: đánh vào loại năng lượng sử dụng cho động cơ xe
cộ hoặc dùng cho mục đích sưởi ấm và làm mát. Cách đánh thuế dựa trên cơ
sở số lượng. Do vậy, tiền thuế phải nộp tương ứng với số lượng năng lượng
được tiêu thụ nhân với thuế suất tuyệt đối trên một đơn vị số lượng. Số lượng
hoặc trọng lượng của năng lượng bị đánh thuế là số lượng hoặc trọng lượng
thực tế nhập khẩu hoặc tiêu thụ trong kì tính thuế.
- Thuế giao thông: đánh vào đối tượng đăng ký sử dụng phương tiện
giao thông. Đối tượng tính thuế là các phương tiện đi lại như ô tô, xe máy, xe
tải… Cơ sở tính thuế dựa trên tiêu chí ảnh hưởng môi trường như tiêu chuẩn
về chất thải. Nó có thể kết hợp với một chỉ tiêu truyền thống như trọng lượng
hoặc thể tích (cm³).
- Thuế tài nguyên: đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong
lĩnh vực khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thuế tài
nguyên là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status