Áp dụng phí dịch vụ rác thải trong quản lý môi trường trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội - Pdf 26

Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Quốc Thắng
LỜI CẢM ƠN
Với kết quả đạt được của chuyên đề thực tập tốt nghiệp, em xin chân thành cảm
ơn tập thể các thầy cô giáo khoa Môi trường và Đô thị đã tạo điều kiện giúp em hoàn
thành chuyên đề này.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS. TS
Nguyễn Thế Chinh. Trong suốt quá trình thực tập cũng như làm chuyên đề tốt nghiệp,
thầy giáo đã hướng dẫn em hướng nghiên cứu phù hợp, đồng thời tận tụy giải đáp
những thắc mắc và khắc phục kịp thời những sai sót cho chuyên đề của em.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các anh chị trong Ban Kinh tế Tài
nguyên và Môi trường, Viện Chiến lược, chính sách Tài nguyên và Môi trường, đặc
biệt em xin chân thành cảm ơn Ths. Đặng Quốc Thắng đã tận tình giúp đỡ em trong
quá trình thực tập tại Viện cũng như đã cung cấp tài liệu cần thiết để em hoàn thành
chuyên đề tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn CB Nguyễn Quốc Hưng cùng các cán bộ nhân viên của
HTX Thành Công đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề
tốt nghiệp.
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Quốc Thắng
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không sao
chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm em xin chịu kỷ
luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày 23 tháng 12 năm 2012
Ký tên
Họ tên : Đặng Thùy Giang
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Quốc Thắng
MỤC LỤC
Hình 2.2. Sơ đồ tổ chức Hợp tác xã Môi trường Thành Công 24
Bảng 2.1. Thống kê doanh thu từ phí rác dân qua các năm 34

Lý do chọn đề tài
Hiện nay, Việt Nam đang chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
trước đây sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Cùng với đó, tự do
hóa thương mại phát triển tạo điều kiện cho đất nước có cơ hội để giao lưu trao đổi,
học hỏi kinh nghiệm nước bạn. Do có sự đổi mới và thay đổi về cơ chế kinh tế từ năm
1986 đến nay, bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, cơ chế thị trường cũng
đang đặt ra cho chúng ta những thách thức về suy giảm nguồn tài nguyên, suy thoái và
ô nhiễm môi trường buộc chúng ta phải sử dụng các công cụ kinh tế để điều chỉnh lại
sự ô nhiễm và suy thoái đó.
Hà Nội là thủ đô, trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của Việt Nam, đồng thời
là thành phố đứng đầu cả nước về diện tích tự nhiên và đứng thứ hai về diện tích đô thị
sau thành phố Hồ Chí Minh. Song chính việc tăng dân số quá nhanh cùng với tốc độ đô
thị hóa nhanh đã khiến cho môi trường thành phố thủ đô bị ô nhiễm trầm trọng. Trước
thực tế đó, Hà Nội đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý, trong đó có các công cụ kinh tế
nói chung và công cụ thu phí rác thải nói riêng rất đáng được chú ý và quan tâm.
Thanh Xuân là một quận mới thành lập năm 1996. Mặc dù vậy nhưng tốc độ
phát triển kinh tế khá 14,93%/năm. Cùng với đó là sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đô
thị, tu sửa các công trình đường giao thông, trường học, y tế, điện nước, Chính vì sự
phát triển mạnh mẽ như vậy nên quận Thanh Xuân cũng không tránh khỏi những vấn
nạn ô nhiễm như Hà Nội gặp phải. Vì vậy đòi hỏi có sự tham gia ủng hộ của các cá
nhân, đơn vị nhằm góp phần xã hội hóa công tác vệ sinh bảo vệ môi trường. Đáp ứng
nhu cầu đó, Hợp tác xã Môi trường Thành Công là đơn vị tiên phong chịu trách nhiệm
thu gom ,vận chuyển và thu phí dịch vụ rác thải trên địa bàn quận. Công cụ phí dịch vụ
rác thải tác động vào ý thức của đối tượng chịu phí với mục đích giảm lượng chất thải
đồng thời tạo nguồn kinh phí cải tạo môi trường. Bởi vậy công tác thu phí cũng như
đầu tư mua sắm các trang thiết bị xử lý rác thải, cải tạo môi trường của Hợp tác xã gặp
những thuận lợi và khó khăn nhất định.
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, em đã quyết định chọn đề tài: “Áp dụng phí
dịch vụ rác thải trong quản lý môi trường trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội”.
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51

trường;
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
2
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Thanh Xuân, Hà Nội; về
Hợp tác xã Môi trường Thành Công – đơn vị thực hiện công tác vệ sinh môi trường ở
quận Thanh Xuân;
Tình hình công tác thu gom, vận chuyển rác thải trên địa bàn quận Thanh Xuân;
Số liệu về phí rác dân địa bàn Thanh Xuân
- Phương pháp phân tích: Từ các thông tin, tài liệu đã thu thập được, tiến
hành phân tích các vấn đề liên quan đến phí dịch vụ rác thải trên các khía cạnh để đem
đến cái nhìn sâu sắc, toàn diện, nhiều mặt và nhiều chiều.
- Phương pháp tổng hợp, so sánh: Tổng hợp các nguồn thông tin, so sánh vấn
đề theo tiến trình không gian hay thời gian để từ đó làm nổi bật bản chất, vai trò của
vấn đề nghiên cứu. Cụ thể trong chuyên đề em đã có sử dụng phương pháp tổng hợp
các số liệu, so sánh tổng doanh thu từ phí rác thải từ năm 2009 đến năm 2011 để phần
nào thấy được hiệu quả của công tác thu phí.
Bố cục đề tài:
Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Tổng quan về phí dịch vụ rác thải.
- Chương II: Thực trạng áp dụng thu phí dịch vụ rác thải trong quản lý môi
trường trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Chương III: Đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công
tác thu phí rác thải trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội.
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
3
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
CHƯƠNG I

Nếu tiếp cận theo khối lượng rác thải thì các hộ gia đình cần có thùng rác riêng
đặt ở một vị trí cố định và việc trả phí hoàn toàn tự nguyện dựa trên cơ sở lượng rác xả
thải hàng ngày hoặc hàng tuần.
Một cách tiếp cận khác là theo số lượng người trong một gia đình. Căn cứ vào
số người để xác định mức phí phải nộp. Cách thức này có thể không công bằng và khó
khuyến khích được các hộ gia đình giảm thiểu rác thải nhưng lại thuận lợi hơn,
Ngoài ra, chúng ta cần xét đến và tìm hiểu một loại phí nữa vì sự liên quan của
nó đến các vấn đề rác thải là phí vệ sinh môi trường.
Theo Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài chính thì phí
vệ sinh là “khoản thu nhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí đầu tư cho hoạt động
thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn địa phương”, như chi phí cho tổ
chức hoạt động của đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải theo quy trình kỹ
thuật của cơ quan có thẩm quyền quy định (chưa bao gồm chi phí xử lý rác thải đảm
bảo tiêu chuẩn môi trường), Do vậy nó mang tính bắt buộc đối với mọi người sử
dụng dịch vụ công cộng này.
1.1.1.2. Phân loại phí rác thải
 Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
1
- Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được quy định tại
Điều 2 Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ
môi trường đối với chất thải rắn (sau đây gọi là Nghị định số 174/2007/NĐ-CP) là chất
thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải ra từ quá trình sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động. Trong đó:
+ Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn có tên trong Danh mục các chất thải
rắn nguy hại do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, cụ thể tại Thông tư số
12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 về Quy định về quản lý chất thải
nguy hại;
Theo Nghị định số 174/2007/NĐ-CP, các tổ chức, cá nhân có chất thải rắn nguy
hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác trừ
những đối tượng tự xử lý hoặc ký hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu

vận chuyển và xử lý) chất thải rắn với chủ xử lý chất thải rắn được phép hoạt động theo
quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn.
- Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên có quy định khác với Nghị định số 174/2007/NĐ-CP thì áp dụng quy
định tại điều ước quốc tế đó. Việc áp dụng Điều ước quốc tế được thực hiện theo quy
định của Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện Điều ước quốc tế và các văn bản hướng dẫn
thi hành.
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
6
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
 Phí rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là tất cả các loại chất liệu, vật liệu, đồ vật được tạo ra không
theo ý muốn từ các hoạt động sống của con người như ăn, ở, vui chơi, giải trí, hay
các vật liệu dùng làm túi, bao, gói,
Phí rác thải sinh hoạt là khoản phí bắt buộc theo quy định nộp hàng tháng của
các tổ chức, cá nhân được cung ứng dịch vụ vệ sinh, xả thải hoặc có hoạt động làm
phát sinh chất thải rắn trên địa bàn thực hiện thu phí.
Đối tượng chịu phí rác thải sinh hoạt là các tổ chức, đơn vị có trụ sở và các cá
nhân, hộ gia đình cư trú trên địa bàn thành phố. Các đối tượng này phải nộp phí vệ sinh
theo quy định của UBND Thành phố.
1.1.2. Sự cần thiết phải sử dụng phí rác thải trong quản lý môi trường
Song hành với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội là những khó
khăn, thách thức về ô nhiễm, suy thoái và các sự cố môi trường diễn ra với mức độ
ngày càng cao, đặt con người trước sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên. Đối với Việt
Nam nói riêng và thế giới nói chung thì đây là vấn đề cấp bách cần giải quyết và có
những chính sách hữu hiệu cấp thiết, kịp thời để bảo vệ môi trường và các nguồn tài
nguyên tự nhiên.
Trong nỗ lực chung đó, Nhà nước ta cũng đã dùng nhiều biện pháp và chính
sách khác nhau để can thiệp vào các họat động của cá nhân, tổ chức trong xã hội nhằm

dịch vụ vệ sinh môi trường sẽ có tính chất qyết định đến hành vi xả thải và giảm thiểu
rác thải ra môi trường của người dân.
1.2. Cơ chế thu và sử dụng phí rác thải
Cơ chế thu và sử dụng phí rác thải được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh
số 38/2001/PL-UBTVQH10 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về phí và lệ phí và Nghị
định số 57/2002/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và
lệ phí. Cụ thể:
1.2.1. Nguyên tắc quản lý số tiền phí, lệ phí
2
Nguyên tắc quản lý số tiền phí, lệ phí được quy định như sau:
- Phí thu được từ các dịch vụ không do Nhà nước đầu tư, hoặc do Nhà nước đầu
tư nhưng đã chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc hạch toán, tự
chủ tài chính, là khoản thu không thuộc Ngân sách Nhà nước.
Số tiền phí thu được là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí. Tổ chức, cá nhân
thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của Nhà nước dựa trên kết quả thu phí.
2
Nghị định số 57/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh số 38/2001/PL-
UBTVQH10 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về phí và lệ phí
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
8
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
- Phí thu được từ các dịch vụ do Nhà nước đầu tư hoặc từ các dịch vụ thuộc
đặc quyền của Nhà nước là khoản thu của Ngân sách Nhà nước, được quản lý, sử
dụng như sau:
+ Trường hợp tổ chức thực hiện thu phí đã được Ngân sách Nhà nước bảo đảm
kinh phí cho hoạt động thu phí theo dự toán hằng năm thì tổ chức thực hiện thu phí
phải nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào Ngân sách Nhà nước;
+ Trường hợp tổ chức thực hiện thu phí chưa được Ngân sách Nhà nước bảo
đảm kinh phí cho hoạt động thu phí thì tổ chức thực hiện thu phí được để lại một phần

- Đối với các tổ chức khác thực hiện thu phí, lệ phí, phần tiền phí, lệ phí để lại
được chi dùng cho các nội dung sau:
+ Chi phí phục vụ trực tiếp cho việc thu phí, lệ phí: văn phòng phẩm, vật tư văn
phòng, điện thoại, điện, nước, công tác phí, công vụ phí theo tiêu chuẩn, định mưc
hiện hành;
+ Tiền lương hoặc tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản đóng góp cho lao
động trực tiếp thu phí, lệ phí theo tiền lương, tiền công, theo chế độ hiện hành;
+ Chi phí mua sắm vật tư, nguyên liệu và các khoản chi khác liên quan trực tiếp
đến việc thu phí, lệ phí;
+ Chi cho sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn tài sản, máy móc, thiết bị phục
vụ trực tiếp cho công tác thu phí, lệ phí;
+ Trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi cho cán bộ, nhân viên trực tiếp thu phí, lệ
phí trong đơn vị. Mức trích lập hai quỹ khen thưởng và phúc lợi bình quân một năm,
một người tối đa không quá ba tháng lương thực hiện.
1.3. Kinh nghiệm sử dụng phí rác thải trong quản lý môi trường
1.3.1. Kinh nghiệm các nước trên thế giới
Hà Lan: Luật Thuế Môi trường Hà Lan quy định chung mức phí khoảng 18
USD/tấn đối với các bãi rác thải và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1995.
Mục đích chính của phí này là kiềm chế phát thải rác ra môi trường, đồng
thời tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Việc xử lý bằng cách đốt rác được
khuyến khích và vì vậy không bị đánh thuế. Mức phí này so với chi phí xử lý rác
thải trung bình 50 đô la/tấn cho thấy thuế cũng là một phần chi phí đáng kể cho hoạt
động xử lý rác.
Mỹ: Cơ cấu mức phí ở Mỹ gồm các thành phần: mức phí đa hộ; mức phí cơ bản;
mức phí rác tập trung; mức phí cho khách hàng thu nhập thấp, lớn tuổi, tàn tật; mức phí
thu gom rác thải tại sân bay và lề đường (phí thu tại sân bay lớn hơn 40% so với tại lề
đường nhằm khuyến khích hạ thấp chi phí thu gom); mức phí rác thải đổ thêm (một
tích kê rác trả tiền trước giá 5 USD); mức phí rác sân và thu gom các vật cồng kềnh.
Như tại California, nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác
khác nhau. Rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế. Rác thải được thu

rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu
gom rác thải công nghiệp và thương mại. Nước này tổ chức đấu thầu công khai cho các
công ty, công ty nào trúng thầu sẽ được thực hiện công việc thu gom rác và thu phí rác
thải trên một địa bàn nhất định trong thời gian 7 năm theo quy định của các cơ quan
quản lý. Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự kiểm tra,
giám sát trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường.
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
11
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
Các hộ gia đình và các công ty của Singapore cũng được khuyến khích tự thu
gom và vận chuyển rác thải. Phí cho dịch vụ thu gom rác sẽ được cập nhật công khai
trên mạng Internet để người dân có thể theo dõi. Bộ môi trường quy định các khoản phí
về thu gom rác và đổ rác với mức 6-15 đô la Singapore/tháng tùy theo phương thức
phục vụ (6 đô la Singapore đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác
công cộng ở các khu chung cư, 15 đô la đối với các dịch vụ thu gom trực tiếp). Với các
nguồn thải không phải là hộ gia đình, phí thu gom được tính dựa vào khối lượng rác
thải phát sinh, tương đương với các mức 30-70-175-235 đô la Singapore/tháng. Phí đổ
rác được thu hàng tháng do Ngân hàng PUB đại diện cho Bộ Môi trường thực hiện.
1.3.2. Một số địa phương khác ở Việt Nam
Ở Việt Nam, dịch vụ thu gom rác thải ở nhiều địa phương đã được xã hội hóa
tương đối mạnh. Công tác thu phí rác thải cũng đã đạt được những thành tựu nhất định.
Thành phố Hồ Chí Minh: phần lớn rác thải sinh hoạt do lực lượng ngoài công
lập thực hiện bằng nguồn kinh phí do các chủ nguồn thải chi trả. Năm 2007, mức phí
rác thải đối với các hộ dân là 20.000 đồng/tháng. Đơn giá này tăng lên theo từng năm,
cụ thể: 30.000 đồng/tháng năm 2008 và 36.500 đồng trong năm 2015. Khung giá cũng
sẽ linh động thay đổi tùy từng khu vực nội thành, ngoại thành, trung tâm. Tổng số tiền
phí thu được sẽ công khai để người dân có thể trực tiếp quản lý.
Áp dụng chương trình thu phí năm 2007, Ngân sách Nhà nước thu về được hơn
300 tỷ đồng, giảm nhẹ dần gánh nặng ngân sách hằng năm chi cho việc xử lý rác.

Để giải quyết vấn đề này, tháng 6 năm 1993 UBND tỉnh Lạng Sơn đã giao cho
Công ty Môi trường Đô thị Huy Hoàng nhiệm vụ thu gom, vận chuyển rác thải trên địa
bàn thị xã và bốn thị trấn vệ tinh quanh thị xã (Quyết định N-487/QD/UB-KT, ngày 01
tháng 7 năm 1993).
Công ty Huy Hoàng là một công ty trách nhiệm hữu hạn, do đó để trang trải chi
phí hoạt động lấy thu bù chi, công ty đã phải xin phép được quyền thu phí từ các hộ gia
đình, các doanh nghiệp (phí rác thải).
Bảng dưới đây thể hiện biểu phí được tính từ 8.000 – 50.000 đồng, tuỳ thuộc
vào khối lượng rác thải của mỗi hộ gia đình và của từng doanh nghiệp. Công ty đã
thương thảo hợp đồng cá nhân với các đối tượng phát thải với khối lượng lớn.
4
Sổ tay hướng dẫn sử dụng các công cụ kinh tế cho các mục tiêu môi trường trong kế hoạch hoá phát
triển. Tháng 5 năm 2001. Dự án VIE/ 97/007. Bộ kế hoạch và đầu tư
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
13
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
Bảng 1.1. Mức phí vệ sinh hàng tháng của Công ty Môi trường Đô thị Huy Hoàng
Đơn vị: VNĐ
Đối tượng thu phí Phí hàng tháng
Hộ gia đình 8.000
Hộ gia đình có cửa hàng 12.000
Doanh nghiệp nhỏ (nhà hàng ăn, ) 30.000 – 50.000
Nhà máy, khách sạn lớn Theo hợp đồng thỏa thuận
Nguồn:Sổ tay hướng dẫn sử dụng các công cụ kinh tế cho các mục tiêu môi trường
trong kế hoạch hoá phát triển. Tháng 5 năm 2001. Dự án VIE/ 97/007. Bộ kế hoạch và
đầu tư
Phí được giao cho 130 nhân viên của Công ty thu hàng tháng. Mỗi nhân viên đó
chịu trách nhiệm thu phí các hộ gia đình, các xí nghiệp hay nhà máy trên địa bàn được
phân công. Để khuyến khích việc thu phí, mỗi nhân viên được hưởng 7% tổng phí nếu

1998 23.839 394 1,4
1999 25.295 400 1,6
2000 25.986 450 1,6
Nguồn: : Sổ tay hướng dẫn sử dụng các công cụ kinh tế cho các mục tiêu môi trường
trong kế hoạch hoá phát triển. Tháng 5 năm 2001. Dự án VIE/ 97/007. Bộ kế hoạch và
đầu tư
Các hộ gia đình ở Lạng sơn tỏ ra sẵn sàng chi trả phí rác thải. Bù lại là họ được
hưởng dịch vụ thu gom rác tốt hơn và hiệu quả hơn. Giám đốc công ty Huy hoàng cũng
cho biết nếu công ty được phép tăng phí, các hộ gia đình, các doanh nghiệp vẫn sẽ sẵn
sàng chi trả và do đó sẽ không cần đến trợ cấp Nhà nước. Tất cả các bên liên quan đều
thừa nhận tỉnh Lạng sơn đã có tiến bộ rõ rệt trong công tác thu gom rác thải.
1.4. Hiệu quả của sử dụng phí rác thải trong quản lý môi trường ở Việt Nam
Trong tình hình hiện nay, việc sử dụng công cụ, mà ở đây là phí rác thải đang
rất được quan tâm. Thực tế cho thấy, nhiều địa phương trên cả nước đã áp dụng và
mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội – môi trường (TP. Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Lạng Sơn, Bình Phước, ).
- Về mặt kinh tế: Hiện nay, tuy số tiền thu được từ phí rác thải không nhiều
nhưng cũng đã phần nào bổ sung vào nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Khoản tiền
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
15
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
thu được sẽ được sử dụng để tài trợ và nâng cao hiệu , chi phí không được thanh toán
của các hoạt động xã hội.
Trong những năm tới, khi có cải thiện trong vấn đề mức phí và nâng cao hiệu
quả thu phí, các địa phương sẽ dần dần từng bước coi phí rác thải như một nguồn tài
chính quan trọng tăng khả năng đầu tư cho phát triển toàn diện đời sống kinh tế xã hội
của chính địa phương mình.
- Về mặt xã hội: Nguyên tắc “người hưởng lợi phải trả tiền” (BPP) là một
trong những tiêu chí thể hiện sự công bằng xã hội. Vì vậy việc nhiều địa phương trên

Về hình thức thu phí: Đa dạng hóa các hình thức thu phí, phân tích, cân nhắc
xem loại hình nào phù hợp và hiệu quả đối với từng địa phương trong cả nước.
Như ở một số nước phát triển trên thế giới, người ta áp dụng thu phí dịch vụ rác
thải theo túi rác hay phát tem. Túi đựng rác với một thể tích nhất định, nếu vượt ra
ngoài phần được phát thì các hộ phải trả thêm tiền. Việc tính phí theo khối lượng rác
nhằm khuyến khích người dân giảm khối lượng rác thải phát sinh. Bên cạnh việc giảm
gánh nặng kinh tế thì môi trường cũng ít bị tác động.
Hay như ở Anh áp dụng thu thuế rác thải theo tính chất rác thải. Mức giá được
quy định khác nhau tùy loại chất thải phân hủy hay không phân hủy.
Ở Việt Nam, mức phí rác thải chủ yếu dựa vào khối lượng mà chưa quan tâm
đến tính chất của rác thải. Còn hình thức thu phí theo đầu người lại có nhược điểm là
gây tình trạng khai man, khai thiếu nhân khẩu dẫn đến thất thu phí.
Về mức thu phí: Mức thu phí rác thải của Việt Nam hiện nay còn thấp, chưa đủ
để bù đắp chi phí thu gom và xử lý rác thải. Mức phí phải được xác định, điều chỉnh
trên cơ sở mang tính chất, phương pháp phù hợp với các nguồn ô nhiễm, đặc tính của
các chất ô nhiễm, loại hình sản xuất ô nhiễm. Đồng thời, mức phí này phải đủ cao để
có hiệu lực với các đối tượng gây ô nhiễm. Nếu quá thấp công cụ phí không có tác
dụng còn nếu quá cao nó sẽ vấp phải sự phản đối của cộng đồng.
Cách xác định mức phí rác thải dựa vào lượng xả thải là cách tính chuẩn xác
nhất theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, thu phí trực tiếp đối với chất ô
nhiễm thải ra môi trường. Tuy nhiên hạn chế của nó là không tính đến đặc điểm của
môi trường tiếp nhận, tính chất nguồn thải, loại hình sản xuất và các yếu tố kinh tế - xã
hội. Cách tính phí này sẽ khó đo đạc, kiểm soát và không khuyến khích nhà sản xuất
giảm thiểu chất ô nhiễm cũng như tăng chi phí kiểm soát ô nhiễm. Nếu phân phí rác
thải thành phí cố định và phí biến đổi thì quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn trong
xác định các loại chất thải và tiêu chuẩn môi trường để tính phí
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh

Diện tích tự nhiên: 908 ha.
Dân số: khoảng hơn 240.000 người (năm 2011).
Hình 2.1. Bản đồ quận Thanh Xuân, Hà Nội
2.1.1.2. Lịch sử hình thành
SV: Đặng Thùy Giang Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
19
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh
Trước năm 1945, vùng đất Thanh Xuân là phần đất của đại lý Hoàn Long thuộc
ngoại thành Hà Nội.
Sau ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội (10-10-1954), vùng đất Thanh Xuân là một
phần đất của quận 5 và quận 6 thuộc ngoại thành Hà Nội; một phần đất của huyện
Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
Từ năm 1961, vùng đất Thanh Xuân gồm một phần đất của khu Đống Đa sau là
quận Đống Đa (nội thành Hà Nội); một phần đất của huyện Thanh Trì và huyện Từ
Liêm (ngoại thành Hà Nội).
Ngày 22/11/1996, Chính phủ ra Nghị định số 74-CP, thành lập quận Thanh
Xuân trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các phường Thượng Đình,
Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Kim Giang, Phương Liệt thuộc quận Đống Đa và một
phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các phường Nguyễn Trãi, Khương Thượng
(thuộc quận Đống Đa); toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Nhân Chính
(huyện Từ Liêm) và xã Khương Đình (huyện Thanh Trì).
Quận Thanh Xuân sau khi thành lập đã được sắp xếp, đổi tên, chia tách thành 11
đơn vị hành chính là:
- Phường Thanh Xuân (được đổi tên thành phường Thanh Xuân Trung) được
thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của phường Thanh Xuân
(quận Đống Đa) ;
- Phường Thượng Đình được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và
nhân khẩu của phường Thượng Đình (quận Đống Đa) ;
- Phường Kim Giang được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status