Tình hình triển khai áp dụng gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn Hà Nội - Pdf 23

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu hiện nay ở Việt
Nam là một đòi hỏi cấp bách mang tính tất yếu khách quan, nhằm khắc phục các
nhợc điểm của luật thuế doanh thu, thúc đẩy phát triển sản xuất, lu thông và xuất
khẩu hàng hoá; phù hợp với xu hớng chung trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với sự với sự hoạt động, phát triển
kinh tế trong khu vực và quốc tế.
Luật thuế giá trị gia tăng đợc quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá IX, kì họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/97 và bắt đầu đợc triển khai áp
dụng từ ngày 1/1/1999.
Với việc triển khai áp dụng luật thuế gia trị gia tăng, các cơ quan quản lí -
nhất là cơ quan thuế - đã chuẩn bị chu đáo kỹ càng và hoạch định bớc đi thật cụ
thể. Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng luật thuế này trong công tác quản lí kinh
doanh và hạch toán kế toán cụ thể của các doanh nghiệp bu chính viễn thông còn
mang nhiều nét đặc thù riêng.
Trên cơ sở nhận thức nh vậy, trong thời gian thực tập và nghiên cứu thực tế
tai Cục thuế Hà nội, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài Tình hình triển khai áp
dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bu chính viễn thông trên địa bàn
thành phố Hà nội
Nội dung đề tài gồm 3 chơng:
*0 Chơng I: Thuế và sự cần thiết áp dụng thuế giá trị gia tăng.
*1 Chơng II: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với
hoạt động bu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội.
*2 Chơng III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lí thu thuế
giá trị gia tăng đối với hoạt động bu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà
nội.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, đợc sự hớng dẫn, giúp đỡ trực tiếp của cô
giáo Vơng Thị Thu Hiền; các thầy cô trong tổ môn Thuế Nhà nớc trờng Đại Học
Tài Chính Kế Toán Hà Nội giúp đỡ, cùng với sự giúp đỡ của các bác, các cô chú
và các anh chị trong phòng thuế Giao thông - Bu điện - Xây dựng, cục thuế Hà

phẩm thặng d trong xã hội là cơ sở chủ yếu tạo ra khả năng và các nguồn động
viên về thuế.
Nh vậy, thuế là một phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan
xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nớc. Thuế phát sinh, tồn tại và
phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nớc. Nhà nớc sử dụng
thuế làm công cụ để thực hiện các chức năng của mình. Mặt khác, mỗi Nhà nớc
mang bản chất giai cấp nhất định nên thuế mang bản chất giai cấp của nhà nớc
sinh ra nó.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và nửa đầu của xã hội phong kiến, nền kinh tế
chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên, tự cung, tự cấp, do đó nguồn thu chủ yếu của
NSNN là hiện vật (1 bộ phận của sản phẩm thặng d). Cơ sở chủ yếu để đánh thuế
trong giai đoạn này là tài sản nên nó đem lại kết quả thấp, đặc biệt trong trờng hợp
thiên tai xảy ra thì thuế có thể lấy vào một phần của sản phẩm tất yếu. Đến thời kì
quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội t bản, việc đóng thuế bằng tiền ngày càng
trở thành hình thức chủ yếu, giai cấp t sản còn có nhiều hình thức thu thuế thông
qua công trái, phát hành thêm giấy bạc và hình thức thu thuế bằng tiền đã dợc áp
dụng cho đến ngày nay. Chuyển sang nền kinh tế thị trờng, nhu cầu chi tiêu của
Nhà nớc ngày càng tăng lên đòi hỏi nguồn động viên qua thuế cũng ngày càng
tăng. Thuế không chỉ tạo ra nguồn thu cho NSNN mà còn là công cụ để quản lí và
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vì vậy, sự tồn tại của thuế trong nền kinh tế thị trờng
là tất yếu.
Nh vây, nhiệm vụ chính của mỗi Nhà nớc trong từng giai đoạn lịch sử, đặc
điểm của phơng thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hởng
tới vai trò, nội dung và đặc điểm của thuế. Do đó, cơ cấu và nội dung của cả hệ
thống nói chung cũng nh của từng sắc thuế nói riêng phải đợc nghiên cứu sửa đổi,
bổ sung, cải tiến và đổi mới kịp thời, thích hợp với tình hình nhiệm vụ của từng
giai đoạn. Đồng thời phải giải quyết tổ chức phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiên
các qui định pháp luật về thuế đã đợc Nhà nớc ban hành trong từng thời kì.

không thể tách rời giữa thuế và nhà nớc. Chỉ có nhà nớc là tổ chức duy nhất ban
hành các sắc thuế và thuế là công cụ chủ yếu để tạo lập các nguồn thu cho NSNN
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nớc. Nhà nớc dùng quyền lực của mình để
đặt ra các loại thuế thông qua cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nớc là Quốc
hội.
Kết hợp tất cả những hạt nhân hợp lí của các quan điểm trên về thuế, có thể
nhận thức về thuế một cách toàn diện nh sau:
Thuế là một biện pháp động viên bắt buộc của nhà nớc đối với các thể
nhân và pháp nhân nhằm buộc các thể nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập
do kinh doanh, do lao động, do đầu t tài chính, do lu giữ, chuyển dịch tài sản
mang lại nộp cho NSNN
Khái niệm trên cho thấy rõ tính chất của thuế. Đồng thời phân biệt thuế với
các nguồn khác, thấy rõ mục đích, đặc điểm nguồn động viên của thuế.
Để thấy rõ hơn tính chất của thuế, chúng ta xét đặc điểm của thuế.
2.2 Đặc điểm của thuế.
Thuế là một biện pháp tài chính của nhà nớc mang tính quyền lực, tính cỡng
chế và tính pháp lí cao.
Đặc điểm này đã đợc thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, ở mỗi
quốc gia việc đóng thuế cho nhà nớc đợc coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc
đối với công dân. Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế đợc
cơ quan quyền lực tối cao là quốc hội qui định, và nếu không thi hành sẽ bị cỡng
chế theo những hình thức nhất định.
Thuế là hình thức động viên tài chính gắn liền với diễn biến, tình hình kinh
tế xã hội của một quốc gia.
Khi nhà nớc xác lập một hệ thống thuế với các loại thuế suất khác nhau, tr-
ớc hết bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu của nhà nớc. Song trong thực tế, mức động
viên qua thuế bao giờ cũng chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế xã hội của
một quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử.

cho sự thống nhất giữa tăng trởng kinh tế với công bằng xã hội. Nhà nớc quản lí
nền kinh tế bằng chiến lợc và kế hoạch định hớng, chính sách và công cụ kinh tế
nh giá cả, tín dụng, lãi suất, thuế... là chủ yếu chứ không thể là sự can thiệp tuỳ
tiện bằng mệnh lệnh hành chính nh trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây.
Trong những công cụ kinh tế đợc nhà nớc sử dụng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh
tế, thuế là phơng tiện có tầm quan trọng đặc biệt. Một chính sách thuế đợc ban
hành hợp lí, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, đáp ứng yêu cấu của thực tiễn
thì nó sẽ góp phần khắc phục sự trì trệ và lạc hậu, thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng
nhanh chóng, ổn định lâu dài. Ngợc lại, một chính sách không phù hợp sẽ trở
thành một vật cản gây trở ngại cho sự lớn mạnh của nền kinh tế, làm cho nền kinh
tế hoạt động kém hiệu quả, thậm chí có thể gây khủng hoảng về kinh tế, chính trị.
Vai trò của thuế đợc thể hiện:
3.1 Thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN.
Xã hội càng phát triển thì chức năng của nhà nớc càng nặng nề. Vì vậy, cần
phải có nguồn thu để thực hiện chức năng đó. Nhà nớc có thể tạo ra nguồn thu
bằng nhiều cách nh vay, bán tài nguyên, in tiền... nhng một nền tài chính quốc gia
lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong hệ thống đòn bẩy của cơ chế mới, thuế là công cụ quan trọng nhất để
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, theo đờng lối
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu
từ nớc ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại trở thành mối quan hệ có vay có
trả . Trớc mắt, hệ thống thuế phải là một công cụ quan trọng để góp phần tích cực
vào yêu cầu giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bớc góp phần ổn định
trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài. Vì vậy, thuế
phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của một nền tài chính quốc gia
lành mạnh.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mặt khác, với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế mới đợc
áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Do đó, thuế phải bao quát đợc

quan hệ hợp tác giữa các khu vực trên thế giới.
Thông qua việc sử dụng các biện pháp thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch xuất
nhập khẩu, quản lí ngoại hối, trợ giá hàng sản xuất trong nớc, u đãi hoạt động tín
dụng... thuế góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện và bảo hộ nền sản xuất trong nớc
phát triển. Đồng thời, thuế đợc xây dựng trên quan điểm mở rộng thị trờng một
cách lành mạnh, nên khuyến khích hợp tác, giao lu hàng hoá giữa các nớc trên thế
giới.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.3 Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và
công bằng xã hội.
Sự bình đẳng và công bằng đợc thể hiện thông qua chính sách động viên
giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi hành phần kinh tế có những điều
kiện hoạt động giống nhau và thu nhập giống nhau. Đảm bảo sự bình đẳng và
công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền,
đặc lợi bất hợp lí cho đối tợng nào.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trờng việc phân phối của cải xã hội thờng
dựa trên cơ sở chuẩn mực các yếu tố đầu vào. Mà không phải mọi thành viên trong
xã hội đều có năng lực các yếu tố đấu vào nh nhau nên đòi hỏi phải có sự phân
phối khác nhau. Của cải tập trung phần lớn vào nhóm ngời có năng lực yếu tố đầu
vào lớn nên tạo ra sự phân hoá giầu - nghèo, vì vậy làm giảm cầu của xã hội,
không kích thích nền kinh tế phát triển. Do đó, phải tiến hành phân phối lại thu
nhập trong nền kinh tế thị trờng, đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
và công bằng xã hội.
Nh vậy, thuế có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Để bao
quát hết các nguồn thu cho NSNN, ngời ta chia ra nhiều loại thuế khác nhau.
Trong đó, thuế GTGT là một loại thuế mới, mang tính u việt hơn thay cho thuế
doanh thu.
II. Thuế GTGT và sự cần thiết áp dụng thuế GTGT
trong điều kiện hiện nay ở nớc ta.

thuế GTGT đợc áp dụng đầu tiên vào ngày 1 tháng 7 năm 1954 trong một số
ngành cá biệt và đến ngày 1 tháng 1 năm 1968 nó đợc áp dụng chính thức và có
hiệu lc cả trong lĩnh vực bán lẻ hàng hoá và cung ứng dịch vụ.
Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế, thuê GTGT là một trong những đặc
điểm riêng có của một nền kinh tế phát triển nhng ở Pháp ngay từ buổi sơ khai
thuế GTGT ra đời nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng: đó là đảm bảo số thu
kịp thời, thờng xuyên cho NSNN và khắc phục tình trạng thuế đánh trùng lắp qua
các khâu sản xuất kinh doanh của thuế doanh thu. Năm 1986 thuế GTGT ở Pháp
đợc áp dụng rộng rãi đối với các ngành nghề sản xuất, lu thông hàng hoá, dịch vụ
với 4 mức thuế suất khác nhau.
Khai sinh ở Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng đợc áp dụng rộng rãi trên thế
giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nớc. Đến nay đã có trên 100 nớc áp
dụng thuế GTGT. Nhìn chung các nớc áp dụng thuế GTGT vì thấy rõ nhợc điểm
của hệ thống thuế đang tồn tại ở nớc họ trên các mặt:
- Thuế doanh thu tính chồng chéo, không đáp ứng đợc yêu cầu của
chính sách động viên hợp lí về thuế.
- Thuế quan đối với hàng nhập có trờng hợp phải miễn giảm để phục
vụ các quan hệ hợp tác trong khu vực hoặc trên thế giới, vừa gây thất thu cho
NSNN, vừa không bảo vệ sản xuất nội địa.
- Có nhiều sắc thuế làm cho hệ thống thuế trở nên nặng nề, cần đợc
thay thế bằng thuế GTGT để có thể bao quát đợc các đối tợng đánh thuế,
nhằm động viên đóng góp của ngời tiêu dùng.
- Sự phát triển của hệ thống thuế không theo kịp sự phát triển của nền
kinh tế.
- Khắc phục một phần tình trạng thất thu thuế cho NSNN.
Tại Việt Nam, thực ra ngay từ trớc giải phóng 1975, chính quyền Sài Gòn
cũng đã ban hành sắc luật số 035 - TT/SLU ngày 21 tháng 12 năm 1972 thiết lập
thuế GTGT đánh trên các hàng hoá, dịch vụ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm
1973, thay thế các sắc thuế sản xuất, thuế tiêu thụ nớc đá, thuế xay lúa... Nhng đến
ngày 1 tháng 1 năm 1999 luật thuế GTGT chính thức đợc đa vào áp dụng ở nớc ta.

vụ nộp nhng ngời tiêu dùng là đối tợng chịu thuế thông qua giá cả hàng hoá dịch
vụ.
Theo điều I, chơng I, luật thuế GTGT của nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông tới tiêu dùng.
Thuế GTGT là loại thuế mới ra đời nhằm khắc phục việc đành thuế trùng
lặp của thuế doanh thu. Thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của các sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất và lu thông, làm sao để tới
cuối chu kì sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu đợc ở
các công đoạn sẽ bằng số thuế tính theo giá bán cho ngời tiêu dùng cuối cùng.
Để hiểu về thuế GTGT, chúng ta xét ví dụ về thuế GTGT đánh vào sản
phẩm A. Giả thiết với thuế suất 10 %, thuế tính trên giá bán cha có thuế và sản
phẩm trải qua 4 công đoạn sản xuất kinh doanh.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
*3 Ngời khai thác bán với giá: 100
*4 Ngời sản xuất bán với giá: 200
*5 Ngời bán buôn bán với giá: 250
*6 Ngời bán lẻ bán với giá: 300
Ta có thuế GTGT phát sinh, cách tính thuế, khấu trừ thuế và số thuế phải
nộp đợc khái quát trong bảng sau:
Bảng 1: Cơ chế vận hành của thuế GTGT
Các khâu
SXKD
Giá
mua ch-
a VAT
GTGT Giá bán
cha
VAT

xuất : 10, bán buôn : 5, bán lẻ : 5. Số thuế này đợc ngời bán ghi vào hoá đơn
để thu toàn bộ qua từng khâu cho nên thuế này đợc chuyển toàn bộ cho ng-
ời mua hàng và tiêu dùng cuối cùng.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nếu sản phẩm trên không tiêu thụ ở thị trờng trong nớc mà đợc xuất khẩu
thì ngời xuất khẩu đợc hoàn lại số thuế đã nộp ở khâu bán hàng của ngời sản xuất,
tức là 30.
Tại từng công đoạn, ngời bán hàng phải:
+ Đa hoá đơn cho khách hàng trong đó ghi rõ giá bán cha có thuế, thuế
GTGT phải nộp và toàn bộ số tiền mà khách hàng phải thanh toán.
+ Tính số thuế GTGT đã nộp ở khâu trớc để đợc khấu trừ ở khâu này theo
đúng qui định của luật thuế GTGT.
+ Chỉ nộp vào kho bạc Nhà nớc số chênh lệch giữa số thuế GTGT phải nộp
và số thuế GTGT đợc khấu trừ.
Nh vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là sản phẩm
hàng hoá qua nhiều hay ít khâu trung gian từ sản xuất đến tiêu dùng đều chịu thuế
nh nhau. Sau khi chuyển nhợng lần đầu, những lần mua bán tiếp theo sản phẩm
hàng hoá sẽ chỉ chịu thuế GTGT tính trên phần doanh thu tăng thêm.
3. Nội dung cơ bản của thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam
3.1 Đối tợng chịu thuế và đối tợng nộp thuế.
Đối tợng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam (tiêu
dùng cho sản xuất và sinh hoạt) không kể là hàng hoá dịch vụ đợc sản xuất cung
ứng từ trong nớc hay nhập khẩu, trừ 26 nhóm mặt hàng đợc qui định tại điều IV
luật thuế GTGT và mục I - thông t 175.
Đối tợng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản
xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu hàng hoá dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh
doanh) thuộc diện chịu thuế GTGT là đối tợng nộp thuế GTGT. Cụ thể:
Các tổ chức kinh doanh không phân biệt thành phần kinh tế, doanh nghiệp
trong nớc hoặc doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, là doanh nghiệp nhà nớc

Giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ qui định ở trên bao gồm cả
khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh đợc hởng.
Trờng hợp đối tợng nộp thuế có doanh số mua bán bằng ngoại tệ thì phải
qui đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế.
*7 Thuế suất thuế GTGT.
Theo qui định tại điều 8 luật thuế GTGT và điều 7 NĐ 28/1998/ NĐ- CP và
điều 5 mục 2 TT 175/1998/ TT- BTC, thuế GTGT có 4 mức thuế suất: 0%, 5%,
10%, 20%.
Nhóm thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
Nhóm thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ thiết yếu dùng
cho sản xuất và tiêu dùng.
Nhóm thuế suất 10% là thuế suất phổ thông.
Nhóm thuế suất 20% áp dụng đối với các hàng hoá dịch vụ không thiết
yếu cần điều tiết.
Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh nhiều loại hàng hoá dịch vụ khác nhau thì
phải tổ chức hạch toán kế toán riêng doanh thu từng loại hàng hoá theo từng mức
thuế suất qui định đối với hàng hoá dịch vụ. Nếu không hạch toán đợc nh vậy thì
doanh nghiệp phải tính thuế GTGT theo mức thuế suất cao nhất của hàng hoá dịch
vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh trên tổng doanh thu của tất cả các hàng hoá,
dịch vụ bán ra trong kì.
3.3 Phơng pháp tính thuế GTGT:
Có 2 phơng pháp tính thuế GTGT: Phơng pháp khấu trừ thuế và phơng pháp
tính trực tiếp trên GTGT.
Phơng pháp khấu trừ thuế:
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phơng pháp khấu trừ thuế đợc áp dụng cho tất cả các CSSXKD đã thực hiện
đầy đủ các yêu cầu về mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ các qui định của
chế độ hoá đơn, chứng từ.

giá thanh toán của hàng hoá dịch vụ mua vào tơng ứng] ì thuế suất thuế
GTGT tơng ứng.
Trong đó:
GTGT là chênh lệch giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra và giá
thanh toán hàng hoá, dịch vụ mua vào tơng ứng.
Giá thanh toán hàng hoá, dịch vụ bán ra là số tiền bên mua phải thanh toán
cho bên bán gồm cả thuế GTGT và phụ thu, phí thu thêm mà bên mua phải trả.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giá thanh toán hàng hoá dịch vụ mua vào đợc xác định bằng giá trị hàng
hoá dịch vụ mua vào tơng ứng với giá của hàng hoá dịch vụ bán ra đợc xác định
bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào (bao gồm cả thuế GTGT) mà cơ sở kinh
doanh đã dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra.
Thuế suất thuế GTGT tơng ứng là mức qui định đối với từng loại hàng hoá,
dịch vụ tơng ứng với hàng hoá, dịch vụ bán ra.
3.4 Miễn giảm thuế, hoàn thuế GTGT.
- Về nguyên tắc không qui định miễn giảm thuế GTGT vì thuế GTGT là
thuế gián thu do ngời tiêu dùng chịu, nhng do trong thời gian chuyển từ thuế
doanh thu với 11 mức thuế suất sang thuế GTGT chỉ còn 4 mức thuế suất nên có
một số doanh nghiệp gặp phải khó khăn. Do vậy, điều 28 luật thuế GTGT qui
định:
Cơ sở sản xuất kinh doanh, xây dựng, vận tải hoạt động kinh doanh trong ba
năm đầu (1999, 2000, 2001) nếu áp dụng thuế GTGT mà bị lỗ do số thuế GTGT
phải nộp của các hoạt động này lớn hơn số thuế phải nộp tính theo mức thuế doanh
thu trớc đây thì đợc xét giảm thuế GTGT. Thuế đợc xét giảm theo từng năm (tính
theo năm dơng lịch).
Các cơ sở kinh doanh dịch vụ khác nếu phát sinh lỗ thì không đợc xét giảm
thuế GTGT.
Mức thuế đợc xét giảm tơng ứng với số lỗ của năm xét giảm nhng tối đa
không quá 50% số thuế GTGT phải nộp.

*Ưu điểm cơ bản nhất của thuế GTGT là nó loại bỏ đợc các nhợc điểm
của một số loại thuế gián thu mà nó thay thế. Đó là, tránh đợc việc đánh
thuế trùng lặp và tránh đánh thuế chồng lên thuế.
Để minh hoạ u điểm này, ta trở lại ví dụ ban đầu về cơ chế vận hành của
thuế GTGT với giả định thuế suất thuế doanh thu là 5%. Số thuế qua mỗi công
đoạn sẽ là:
Ngời khai thác phải nộp: 100 ì 5% = 5
Ngời sản xuất phải nộp: 200 ì 5% =10
Ngời bán buôn phải nộp: 250 ì 5% = 12,5
Ngời bán lẻ phải nộp: 300 ì 5% = 15
Nh vậy, tổng số thuế doanh thu phải nộp là 42,5.
Mục tiêu của thuế doanh thu là thu trên sản phẩm tiêu thụ nhng với cách
đánh nh vậy đã tạo ra các khoản tính trùng lắp, vì thuế chồng lên thuế khiến cho
tổng số thuế quá cao, thực chất là 14,17% (42,5/300) chứ không phải là 5% nh qui
định.
Còn nếu đánh thuế theo phơng pháp thuế GTGT thì ngời nộp thuế đợc khấu
trừ các khoản thuế GTGT đã nộp trớc đó nên tổng số thuế phải nộp chỉ là 30. Nh
vậy, thuế suất thuế GTGT tuy cao gấp 2 lần thuế suất thuế doanh thu nhng mức
thuế phải nộp lại thấp hơn và hợp lí hơn vì không bị đánh trùng thuế.
* Về mặt kinh tế, thuế GTGT có những u điểm lớn là tác động đến sự
phát triển kinh tế.
Hạn chế lớn nhất của thuế doanh thu đối với việc khuyến khích phát triển
sản xuất là kìm hãm chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh, việc sản xuất một loại
sản phẩm càng qua nhiều công đoạn do các doanh nghiệp độc lập thực hiện thì
tổng số thuế doanh thu mà các chủ doanh nghiệp phải nộp càng lớn và lợi nhuận
của họ càng giảm tơng ứng. Vì vậy, các doanh nghiệp có khuynh hớng đối phó với
thuế doanh thu bằng cách hội nhập theo chiều ngang.
Thuế GTGT với việc khấu trừ thuế đã nộp đầu vào, đã xoá bỏ đợc hạn chế
nói trên và có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá sản xuất, chuyên môn hoá, đầu
t mới và hạ giá thành sản phẩm.

không nhiều. Hoặc trờng hợp cung ứng dịch vụ thuần tuý cũng có khả
năng trốn thuế, nhng với trờng hợp này thì nhìn chung thuế doanh thu có
khả năng trốn cao hơn vì thuế cao hơn.
* Đối với ngời nộp thuế: thuế GTGT là một phơng pháp thu tiên tiến, nâng
cao đợc tinh thần tự giác và nghĩa vụ của ngời nộp thuế. Việc giành quyền
tự kê khai cho ngời nộp thuế có u điểm về phơng diện tâm lí và pháp lí, họ
đợc tự do không bị ép buộc. Ngợc lại, cơ quan thuế cũng rất dễ dàng kiểm
tra đối với những trờng hợp kê khai không đúng. Cách thu này buộc ngời
mua, ngời bán, cơ quan thuế phải lu giữ biên lai, chứng từ, hồ sơ thu thuế
cẩn thận, làm cho ngời nộp thuế quen với cơ chế thuế dựa trên cơ sở hoá
đơn. Điều này rất có ý nghĩa đối với nớc ta hiện nay.
áp dụng thuế GTGT đồng thời với việc sử dụng một số sắc thuế gián thu
khác (Thuế tiêu thụ ĐB, Thuế xuất nhập khẩu ...) sẽ góp phần làm hệ thống thuế ở
Việt nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với cơ chế thị trờng, tơng đồng với thông
lệ Quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để Việt nam hội nhập với sự phát triển chung
của khu vực và Thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh của nớc ta hiện nay, đã trở thành
thành viên chính thức của ASEAN và AFTA.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tóm lại, trong các sắc thuế gián thu, thuế GTGT đợc đánh giá là loại thuế
có nhiều tiến bộ, có thể đảm bảo mục tiêu của hệ thống thuế là tạo nguồn thu lớn
cho NSNN, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và đảm bảo đợc tính trung lập cao
của thuế, phù hợp với xu thế chung trên thế giới.
4.2 Những thách thức đặt ra của thuế GTGT .
Bên cạnh những u điểm nêu trên, thuế GTGT cũng bộc lộ một số nhợc
điểm sau:
- Đối với các doanh nghiệp có qui mô nhỏ,đặc biệt là các doanh nghiệp t
nhân mà việc tổ chức sổ sách kế toán còn nhiều hạn chế thì việc thực hiện thuế
GTGT rất phức tạp và khó khăn. Do phơng pháp tính thuế của thuế GTGT phức
tạp hơn rất nhiều so với phơng pháp tính thuế của thuế doanh thu, đòi hỏi phải có

17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mặt khác, nền kinh tế nớc ta đang chịu những tác động trực tiếp của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực cho nên rất dễ gây tác động lạm phát.
Tuy nhiên, không có luật thuế nào là hoàn hảo, là có thể đáp ứng đợc mọi
yêu cầu đặt ra. Một số mặt hạn chế trên của thuế GTGT không làm giảm ý nghĩa
và vai trò của nó trong thực tế. Ngợc lại, việc phát hiện ra những hạn chế của thuế
GTGT sẽ giúp các cơ quan chức năng có những biện pháp hợp lí khắc phục hạn
chế, dần dần hoàn thiện công tác áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam.
4.3 Điều kiện áp dụng thuế GTGT ở nớc ta.
Để áp dụng thuế GTGT có hiệu quả, đòi hỏi phải thoả mãn một số điều kiện
chủ yếu sau:
- Nền kinh tế phát triển và thực hiện cơ chế quản lí kinh tế phù hợp với cơ
chế thị trờng.
Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế, thuế GTGT là một trong những đặc
điểm riêng có của nền kinh tế thị trờng phát triển vì trong hoàn cảnh đó giá cả
hàng hoá thờng ổn định. Giá cả hàng hoá ở khâu sau thờng cao hơn khâu trớc,
đảm bảo cho việc khấu trừ thuế trở thành phổ biến, trờng hợp phải hoàn thuế do
giá đầu ra thấp hơn đầu vào hầu nh không xảy ra hoặc chỉ là cá biệt.
Cơ chế thị trờng với đặc trng là cạnh tranh nhằm mục đích thu lợi nhuận
cao, tự nó sẽ điều chỉnh sự phát triển sản xuất kinh doanh, dẫn tới sự điều chỉnh
vốn giữa các ngành nghề theo qui luật tỉ suất lợi nhuận bình quân. Đây chính là cơ
sở để áp dụng thuế GTGT có tính trung lập cao với một hoặc ít mức thuế suất song
vẫn đảm bảo sự tồn tại và tính cạnh tranh một cách bình đẳng giữa các doanh
nghiệp. Do đó, thuế GTGT phù hợp với cơ chế thị trờng hơn thuế doanh thu. Trong
nền kinh tế thị trờng phát triển tốt, thuế GTGT mới phát huy đợc tác dụng khuyến
khích tăng cờng đầu t để chuyên môn hoá sản xuất cao, phục vụ tốt yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH - HĐH đất nớc.
- Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh
ổn định và có hiệu quả. Các doanh nghiệp và các hộ đều phải hạch toán đợc kết

Mỗi điều kiện trên đều có vai trò, vị trí quan trọng nhất định, giữa chúng có
mối quan hệ chặt chẽ. Các điều kiện này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để việc triển
khai luật thuế GTGT đợc đồng bộ và đạt hiệu quả cao.
5. Sự cần thiết áp dụng thuế GTGT trong điều kiện hiện nay ở nớc ta.
Trớc tình hình thực tế của nớc ta hiện nay, qua phân tích lí luận về u, nhợc
điểm của nó đã khẳng định việc ban hành luật thuế GTGT thay thế thuế doanh thu
là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan. Sự cần thiết áp dụng thuế GTGT ở n-
ớc ta xuất phát từ các lí do sau:
- Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của thuế doanh thu đang có
biểu hiện không còn phù hợp với cơ chế thị trờng ở nớc ta.
- Xuất phát từ những u điểm của thuế GTGT nh không trùng lắp, có tính
trung lập cao, thu thuế sát với thực tế, thúc đẩy việc thực hiện nghiêm
chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán... nên việc áp dụng thuế
GTGT là yếu tố quan trọng thúc đẩy tiết kiệm và tiêu dùng, thúc đẩy các
doanh nghiệp bình đẳng trong cạnh tranh, chú ý tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh nhiều hơn để tồn tại và phát triển.
- Từ tình hình thực tế ở nớc ta hiện nay một mặt đòi hỏi phải áp dụng thuế
GTGT để khuyến khích sản xuất, xuất khẩu, khuyến khích đầu t, tăng thu
cho NSNN... thực hiện CNH - HĐH đất nớc. Mặt khác, chúng ta đã có
những tiền đề cần thiết cho phép có thể áp dụng thuế GTGT trong tình
hình hiện nay.
- Việc áp dụng thuế GTGT sẽ giúp cho việc thu thuế ngày càng sát với
thực tế, chống thất thu thuế có hiệu quả, đảm bảo số thu cho NSNN, đồng
thời tập trung đợc số thuế với số lợng lớn do thuế đợc thu ngay từ khâu
đầu tiên của quá trình sản xuất.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Về mặt tâm lí, thuế GTGT sẽ xoá bỏ đợc những định kiến nặng nề về
thuế doanh thu nói riêng và cả hệ thống thuế nói chung, vì nó xoá bỏ đợc
nhợc điểm thuế chồng lên thuế, tạo điều kiện chuyên môn hoá đợc tốt hơn.

21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng2: Tình hình thu ngân sách trên địa bàn thành phố Hà nội.
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 1996 1997 1998 Dự tính
1999
Tổng thu NSNN
8.563.312 9.359.513 11.063.702 8.888.740
Phòng thuế GT-BĐ
2.289.885 2.385.581 2.668.984 2.147.520
Tỉ trọng (%)
26,74 25,48 24,12 24,16
Nh vậy, số thu NSNN trên địa bàn thành phố Hà nội không ngừng tăng tr-
ởng qua các năm. Điều đó chính tỏ tốc độ tăng trởng kinh tế của thành phố khá ổn
định, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao. Nếu trong năm 1996, số
động viên từ thuế vào NSNN của thành phố là 8.563.312 triệu đồng, thì sang năm
1997, số thu đó đã là 9.359.513,đạt 109,29% và đến năm 1998 số thu từ thuế vào
NSNN của Hà nội là 11.063.702 đạt 129,19% so với năm 1996 và bằng 118,2% so
với năm 1997. Tuy nhiên, dự toán thu năm nay có phần thấp hơn vì chúng ta mới
triển khai đa vào áp dụng hai luật thuế mới: GTGT và TNDN nên không tránh
khỏi những biến động, khó khăn do việc chuyển đổi cơ cấu quản lí thu thuế.
2. Đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp BCVT trên địa bàn thành phố
Hà nội.
BCVT là ngành sản xuất vật chất thuộc kết cấu hạ tầng bao gồm cả bu
chính lẫn viễn thông, vừa phục vụ cho việc quản lí, điều hành của nhà nớc, vừa
trực tiếp tham gia vào sản xuất với t cách là yếu tố đầu vào quan trọng tạo ra sản
phẩm xã hội.
Là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, hoạt động BCVT có vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Trớc hết, hoạt động
BCVT cung cấp mọi thông tin cơ bản, cần thiết cho sản xuất, tạo điều kiện thúc

vụ mới đợc mở ra đa vào hoạt động rất có hiệu quả nh: dịch vụ thông tin di động,
dịch vụ nhắn tin, điện thoại thẻ,108...
Về lĩnh vực bu chính và phát hành báo chí cũng có những bớc tiến đáng kể.
Sản lợng bu chính và phát hành báo chí tăng trởng mạnh, mạng lới phát hành đợc
mở rộng, nhiều loại hình mới ra đời và phát triển,chất lợng phục vụ đợc nâng cao
và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của xã hội.
Với những thành tựu đạt đợc nh vậy, ngành BCVT có thể đợc coi là ngành
có số thu tăng trởng nhanh và ổn định nhất trong nền kinh tế quốc dân.
Bảng 4: Tình hình thực hiện doanh thu.
Đơn vị: tỉ đồng
Chỉ tiêu 1995 1996 1997 1998
1- Doanh thu viễn
thông
4.039 6.698 9.308 10.155
2- DT phát hành báo
chí
42,4 71 98 216
3- Doanh thu bu chính
126 209 392 432
Tổng
4.207,4 6.978 9.798 10.803
Nhìn vào bảng trên ta thấy sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao của doanh
thu. Doanh thu năm sau cao hơn doanh thu năm trớc. Bên cạnh đó, doanh thu
ngoại tệ cũng tăng khá, đặc biệt là trong những năm gần đây. Đây là kết quả rất
đáng khích lệ. Ngành Bu chính viễn thông đã đóng góp không nhỏ tỷ lệ động viên
qua thuế và ngân sách nhà nớc.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng 5: Tình hình nộp ngân sách nhà nớc
của các doanh nghiệp Bu chính viễn thông

Cục thuế Hà nội đợc thành lập từ năm 1990 trải qua một quá trình phát triển
và không ngừng hoàn thiện, hiện nay trong cơ cấu bộ máy tổ chức của cục bao
gồm 17 phòng ban trong đó có 8 phòng quản lí thu thuế và 9 phòng ngiệp vụ.
Ngoài ra, còn có 12 chi cục thuế quận huyện trên khắp địa bàn thành phố Hà nội.
Hiện nay, tổng số cán bộ công nhân viên chức của cục là khoảng hơn 1000 ngời.
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cục đã chỉ đạo thành lập phòng thuế GT- BĐ- XD (gọi tắt là phòng giao
thông) phụ trách thu mảng giao thông, bu điện, xây dựng, vận tải của các đơn vị
quốc doanh trung ơng và địa phơng. Phòng đợc thành lập từ năm 1990 đến nay và
cùng với sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động sản xuất, phòng ngày càng đợc
mở rộng và phát triển.
Hiện nay, phòng có 29 cán bộ quản lí hơn 400 đối tợng nộp thuế. Mặc dù
với số lợng cán bộ ít nh vậy nhng phòng thuế GT- BĐ- XD luôn hoàn thành và
hoàn thành vợt mức nhiệm vụ kế hoạch của cục thuế Hà nội giao cho. Phòng liên
tục nhiều năm liền đợc phần thởng của uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội và của
BTC, và cao nhất đợc nhà nớc tặng thởng huân chơng lao động hạng 3.
Cán bộ trong phòng thuế GT- BĐ- XD đều có trình độ từ đại học trở lên,
trong đó có những ngời có hai bằng đại học, có ngời đang học cao học... Với sự cố
gắng phấn đấu thi đua liên tục, phòng đã tăng cờng bám sát nguồn thu, tích cực
khai thác nguồn thu, chống thất thu thuế, nợ đọng thuế... đảm bảo đa số thu luôn
tăng lên vợt kế hoạch.
II. Tình hình triển khai áp dụng thuế GTGT đối với
hoạt động BCVT trên địa bàn thành phố Hà nội.
1. Công tác chuẩn bị và cấp mã số đối tợng nộp thuế.
1.1 Về phía ngành thuế.
Để chuẩn bị cho việc đa luật thuế GTGT đi vào thực hiện, ngay từ đầu năm
1998, ngành thuế đã mở nhiều lớp tập huấn về chính sách, chế độ nghiệp vụ quản
lí cho cán bộ trong ngành và chuẩn bị các điều kiện thực hiện qui trình quản lí
thuế mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status