Luận văn: Một số giải pháp tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh quảng ninh - Pdf 24

Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
MỤC LỤC
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 1 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan
trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
Và là vấn đề đại cục của mỗi Quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cải cách
thuế bước hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách này là thay thế luật thuế doanh thu
bằng luật thuế giá trị gia tăng được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá
IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Sự ra đời của luật thuế giá trị gia
tăng được xem là một bước ngoặc có tính đột phá trong công tác quản lý thu thuế
và đã thể hiện được sự mạnh dạn, đương lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước
trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.
Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp, số lượng đăng ký tăng
gấp nhiều lần đã tạo số thu lớn trong số thu ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, đây
cũng là lĩnh vực thất thu lớn và gian lận thuế diễn ra khá phổ biến. Điển hình là
thuế giá trị gia tăng trong đó: Tình trạng sử dụng hoá đơn giả, khai khống hoá
đơn đầu vào để xin hoàn thuế, ghi giá trên hoá đơn thấp hơn giá thực tế đang là
vấn đề mang tính thời sự hiện nay. Để khắc phục được những hạn chế trên thì
cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với loại
hình doanh nghiệp này.
Trong những năm gần đây, Quảng Ninh luôn là tỉnh đóng góp số thu lớn
trong NSNN. Kể từ khi có luật doanh nghiệp và đặc biệt là từ khi có luật thuế
mới ra đời đã có gần 7000 doanh nghiệp NQD được thành lập, góp phần không
nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Thời gian qua, Cục thuế Quảng
Ninh đã đạt được khá nhiều kết quả tốt trong công tác quản lý thu thuế đối với
khu vực doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, trong công tác quản lý thu thuế GTGT
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02

những biến đổi lớn trong nền kinh tế xã hội. Đối với các doanh nghiệp NQD
trong quá trình đổi mới, Nhà nước ta đã ban hành các chính sách kinh tế nhằm
tạo điều kiện cho thành phần kinh tế về lĩnh vực này phát triển như: việc ban
hành Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp…
Theo Luật Doanh nghiệp được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 5 thông qua thì các doanh nghiệp NQD hiện nay
của nước ta bao gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty
hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Hợp tác xã. Các hình thức này có hoạt động
kinh doanh đa dạng, phong phú về mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế
quốc dân.
Để đi sâu tìm hiểu về doanh nghệp NQD trước hết ta phải tìm hiểu khái
niệm doanh nghiệp : “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 4 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. (Trích điều 3-
Luật doanh nghiệp 2005).
Qua đó, ta có thể hiểu doanh nghiệp NQD là hình thức doanh nghiệp
không thuộc sở hữu của Nhà nước, trừ khối hợp tác; toàn bộ vốn, tài sản, lợi
nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ doanh nghiệp
hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản
xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau
khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết
định của Nhà Nước hay cơ quan quản lý.
 Đặc điểm của DNNQD
Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dù là thuộc khu vực ngoài quốc doanh
hay Nhà nước đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt động
SXKD, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự hướng dẫn của Nhà nước
cùng tồn tại và cạnh tranh trong môi trường pháp lý. Tuy nhiên, xét về góc độ

thông… đặc biệt là dịch vụ. Hiện nay ở Việt Nam, thị trường chứng khoán và thị
trường tài chính dang phát triển mạnh do đó các doanh nghiệp NQD cũng bắt
đầu xâm nhập vào thị trường này với sự xuất hiện của các ngân hàng cổ phần tư
nhân ra đời và hoạt động có hiệu quả.
1.1.2. Vị trí, vai trò của DNNQD
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 6 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
Với chủ trương đổi mới nền kinh tế, Đại hội Đảng lần thứ VI(năm 1986)
Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng phát triển kinh tế ở Việt Nam theo hướng kinh
tế thị trường, theo định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại
trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Các Đại hội Đảng lần thứ VII và
VIII , đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN với nhiều
thành phần kinh tế tiếp tục được khẳng định. Các thành phần kinh tế thuộc khu
vực kinh tế NQD bao gồm: kinh tế hợp tác, kinh tế hộ kinh doanh phát triển khá
mạnh. Ngoài ra còn xuất hiện thêm thành phần kinh tế tư bản tư nhân với loại
hình công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân.
Các danh nghiệp NQD có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân,
điều này được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, các doanh nghiệp NQD góp phần tạo ra nhiều sản phẩm cho xã
hội, đây là một nhân tố quan trọng làm gia tăng GDP của quốc gia. Nó góp phần
thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ hơn.
Thứ hai, xét trong mối quan hệ với kinh tế quốc dân thì kinh tế NQD là
một thực thể tồn tại vừa cạnh tranh vừa hợp tác. Nó như là nhân tố xúc tác quan
trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và sự tồn tại, phát triển của kinh tế quốc
doanh nói riêng. Doanh nghiệp NQD với số lượng ngày càng gia tăng đã trở
thành đơn vị dịch vụ trung gian, xử lý tiêu thụ sản phẩm hoặc tham gia vào sản
xuất gia công một phần, môt khâu trong quá trình kinh doanh của các doanh
nghiệp quốc doanh. Các đơn vị kinh tế quốc doanh có điều kiện và lợi thế cạnh
tranh từ đó có điều kiện phát triển đồng thời tác động tương hỗ trở lại vào thành

Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 8 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
triển, nhìn chung khả năng đổi mới trang thiết bị và công nghệ trong những năm
qua được các doanh nghiệp NQD chú trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
cho sản phẩm.
Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt của các doanh nghiệp NQD cũng đã sớm bộc
lộ ra nhiều khiếm khuyết. Vì vậy việc xây dựng các chính sách, biện pháp quản
lý để giúp doanh nghiệp NQD phát triển là một yêu cầu vô cùng cấp bách, không
nhỏ góp phần tăng thu ngân sách mà còn thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần
đưa hình ảnh Viêt Nam ra thế giới.
1.2. Quản lý thuế GTGT với DNNQD
1.2.1. Khái niệm chung về thuế GTGT
1.2.1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT
 Khái niệm thuế GTGT
-Thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu điều tiết một phần
vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Mọi tổ chức, cá nhân thông
qua việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà
nước.
-Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được
nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.
 Đặc điểm thuế GTGT
Thuế GTGT ở Việt Nam có những đặc điểm nổi bật sau:
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 9 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
- Thuế GTGT là loại thuế có tính chất gián thu: đối tượng nộp thuế
GTGT là người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ, còn người chịu thuế là người
tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, bởi vì thuế GTGT ẩn trong giá bán ra của hàng hoá,

cho phù hợp với tình hình thực tế. Ngày 03/6/2008 Quốc hội khóa XII kỳ họp
thứ 3 đã thông qua Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.
Nội dung cơ bản của thuế GTGT hiện hành bao gồm:
1.2.1.2.1. Phạm vi áp dụng
 Đối tượng chịu thuế GTGT:
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức,
cá nhân ở nước ngoài), trừ 25 nhóm hàng hóa,, dịch vụ thuộc đối tượng không
chịu thuế.
 Đối tượng không chịu thuế GTGT:
Nhìn chung, các hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT
thường có một trong các tính chất cơ bản sau đây:
- Là hàng hóa, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống
sản xuất cộng đồng không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng như dịch vụ y tế; văn
hóa, giáo dục, đào tạo; vận chuyển hành khách công cộng bàng xe buýt, xe
điện
-Là hàng hóa, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã hội,
nhân đạo, không mang tính chất kinh doanh như hàng nhập khẩu trong các
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 11 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng từ nước ngoài;
phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình, bằng nguồn tiền Ngân
sách Nhà nước cấp
- Các hàng hóa, dịch vụ của một số ngành cần khuyến khích như sản phẩm
trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành
các sản phẩm khác hoặc mới sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản
xuất, đánh bắt ra và ở khâu nhập khẩu; sản phẩm muối
- Hàng hóa nhập khẩu thực chất không phục vụ cho sản xuất kinh doanh
và tiêu dùng tại Việt Nam như hàng chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua

- Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với thuế
nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế TTĐB (nếu có).
- Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng
cho là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại
thời điểm phát sinh các hoạt động này.
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế
GTGT; Trường hợp cho thuê tính theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả
trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ
hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT; Trường hợp thuê máy móc,
thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa sản xuất được
để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài.
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 13 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
- Đối với hàng hóa theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá
bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó, không bao gồm khoản lãi
trả góp, lãi trả chậm.
- Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế GTGT.
- Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình hạng mục công
trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT. Trường hợp
xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính
thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy
móc thiết bị.
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa
có thuế GTGT, trừ giá chuyển quyển sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp
NSNN.
- Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa và dịch vụ hưởng
hoa hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế GTGT.
- Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá
thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá tính thuế được xác định theo công

lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác.
- Cách tính thuế GTGT phải nộp:
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 15 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
Số thuế GTGT
phải nộp
=
Thuế GTGT
đầu ra
-
Thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ.
Trong đó:
+ Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra
ghi trên hóa đơn GTGT. Thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT bằng giá tính thuế
của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT của hàng
hóa, dịch vụ đó.
Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT
thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ giá tính thuế.
Đối với hàng hóa, dịch vụ có tính chất đặc thù dùng các chứng từ như tem
bưu chính, vé cước vận tải, vé xổ số kiến thiết…ghi giá thanh toán là giá đã có
thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định như sau:
Số thuế GTGT
đầu ra
=
Giá thanh toán(tiền bán vé, tem )
1 + thuế suất của HH, DV đó
-

 Phương pháp trực tiếp trên GTGT:
- Đối tượng áp dụng: cá nhân hộ kinh doanh là người Việt Nam, tổ chức
cá nhân kinh doanh tại Việt Nam không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
- Xác định số thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT phải
nộp
=
GTGT của hàng
hoá,dịch vụ
chịu thuế bán ra
x
Thuế suất thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ đó.
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 17 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
Trong đó:
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ chịu
thuế
=
Giá thanh toán
của hàng hóa,
dịch vụ bán ra
-
Giá thanh toán của hàng
hóa, dịch vụ mua vào
tương ứng
1.2.1.2.4 Quy định về hóa đơn chứng từ

Thứ hai xuất phát từ thực trạng phát triển kinh tế nước ta, những năm gần
đây đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn là nước nghèo nàn, lạc hậu, trình
độ dân trí còn chưa cao, do đó việc tiếp thu các luật thuế mới hạn chế, người dân
chưa có thói quen lấy hóa đơn khi mua hàng trong khi hóa đơn chứng từ là một
trong những điều kiện tiên quyết thực hiện thành công sắc thuế này.
Thứ ba là từ trình độ quản lý thu thuế GTGT của các cán bộ còn thấp thậm
chí có những cán bộ thuế chưa biết đọc quyết toán thuế của doanh nghiệp, chưa
biết tính khấu hao, chưa biết tính tiền lương lỗ, lãi Việc phân bố trình độ của
cán bộ thuế chưa đồng bộ trong cả nước.
Thứ tư là các cơ sở kinh doanh chưa có ý thức chấp hành pháp luật nói
chung và tính tự giác trong kê khai nộp thuế. Họ luôn quan niệm rằng đóng thuế
cho Nhà nước là moi tiền túi ra để nộp, là khoản làm tăng chi phí, giảm lợi
nhuận, do đó họ tìm mọi cách để trốn, tránh thuế kiếm lợi.
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 19 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
Thứ năm xuất phát từ đặc điểm của các DNNQD là quy mô vốn và lao
động nhỏ, kinh doanh mang tính thời vụ, nhỏ lẻ khó kiểm tra đã gây khó khăn
cho các cán bộ thuế trong công tác quản lý thu.
Tóm lại, thuế GTGT chỉ có thể được quản lý một cách chặt chẽ khi các
nhân tố trên được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện hơn.
1.3. Ý nghĩa việc quản lý thu thuế GTGT từ các DN NQD
 Xuất phát từ tầm quan trọng của thuế GTGT.
Thuế GTGT cùng với thuế TNDN la hai sắc thuế đang giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân. nhất là trong thời gian này, Việt Nam đã trở thành
thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới – WTO cùng với việc cam
kết thực hiện lộ trình cắt giảm hàng rào thuế quan nhằm tạo ra một môi trường
kinh tế thương mại cạnh tranh công bằng hơn. Thuế XNK là sắc thuế chiếm tỉ
trọng lớn trong kế hoạch thu NSNN, việc cắt giảm hàng loạt các mức thuế suất
thuế Nhập khẩu theo lộ trình sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn thu của NSNN. Vì

khăn hơn. Thực tiễn cho thấy việc chấp hành pháp luật nói chung và luật thuế
nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém vì nhiều lý doc đặc biệt là ở khu vực kinh tế
NQD, trong khu vực kinh tế này sự thất thu là rất lớn.
Qua đó, có thể nói sự tăng cường công tác quản lý thu thuế GTGT đối với
các doanh nghiệp NQD là hết sức cần thiết để góp phần tăng thu cho NSNN, tạo
ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các thành phần kinh tế,
phát huy vai trò định hướng điều tiết của Nhà nước đối với các doanh nghiệp
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 21 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
này, nâng cao uy tín của Nhà nước trước nhân dân và cuối cùng là làm cho sắc
thuế GTGT phát huy được tác dụng của nó, không chỉ là công cụ đắc lực của
Nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất phát
triển vững mạnh.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH QUẢNG NINH
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển của các doanh nghiệp
NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là miền đất ở cực Đông Bắc của Tổ quốc trên miền đất khá
dài từ Móng Cái tới Đông Triều theo đường bộ gần 300 km. Địa hình rất phong
phú, trước mặt là biển, sau lưng là núi, xen lẫn những dải đồng bằng, trung du
nhỏ hẹp; dân số trên một triệu người chia thành 14 đơn vị hành chính. Quảng
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 22 -
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
Ninh nổi tiếng vì vừa có nhiều khoáng sản quý hiếm trong đó có trữ lượng than
lớn có chất lượng, lại có nhiều thắng cảnh như Vịnh Hạ Long đã được UNESCO

hình phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh khá tốt và ổn định đã thu hút được số
lượng các doanh nghiệp mới thành lập trên địa bàn. Các doanh nghiệp mới hình
thành chủ yếu là công ty cổ phần, công ty TNHH và một số ít là công ty tư nhân
và công ty hợp danh.
Không chỉ phát triển về số lượng, số thuế thu từ khu vực doanh nghiệp
NQD trên địa bàn tỉnh cũng ngày càng tăng đóng góp một phần không nhỏ vào
nguồn thu NSNN nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 24 -
Năm 2009 2010 2011
Tổng Dn quản lý 4746 5831 6976
Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải Quan
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
- 25 -

Trích đoạn BÀN TỈNH QUẢNG NINH. Một số giải pháp khác xuất về việc quản lý hóa đơn chứng từ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status