Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn thành phố Vinh - Pdf 23

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG
CỤ KINH TẾ
I. Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế 5
1. Khái niệm công cụ kinh tế 5
2. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 6
a. Thuế tài nguyên 6
b. Thuế môi trường 7
c. Phí và lệ phí 9
d. Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường 10
e. Ký quỹ môi trường 12
f. Trợ cấp môi trường 12
g. Quỹ môi trường 13
3. Kinh nghiệm áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt
Nam………………………………………………………………………….14
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH
I. Tổng quan về thành phố Vinh 16
1. Điều kiện tự nhiên 16
2. Dân cư và lao động 16
3. Tình hình phát triển kinh tế 17
a. Tăng trưởng kinh tế 17
b. Cơ cấu kinh tế 17
4. Hiện trạng môi trường 19
II. Thực trạng áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn thành
phố Vinh 20
1. Thuế môi trường 20
2. Các loại phí 21
a. Phí bảo vệ môi trường đối với rác thải 21
1

với các công cụ mang tính mệnh lệnh bắt buộc thì các công cụ kinh tế cũng đã
được áp dụng một cách rộng rãi, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.
Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, do đó phải đối mặt
với những thách thức lớn về bảo vệ môi trường. Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh
mẽ kéo theo đó là những tổn hại về môi trường. Các chất thải ngày càng tăng lên
cả về khối lượng và mức độ nguy hại. Tình trạng này ở các thành phố lại càng
đáng báo động. Nồng độ các chất độc hại có trong đất, nước, không khí vượt quá
tiêu chuẩn cho phép gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dân.
Thành phố Vinh cũng là một tronh những thành phố không tránh được những
hệ quả về suy thoái môi trường do các hoạt động sinh sống, hoạt động sản xuất
công nghiệp,…Do đó cần thiết phải tiến hành quản lý môi trường bằng các biện
pháp kinh tế bởi các công cụ kinh tế tiếp cận môi trường linh hoạt, hiệu quả và
kinh tế, nó cho phép các doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu đáp ứng các yêu
cầu về môi trường.
Hiện tại thành phố Vinh đã bước đầu áp dụng các công cụ kinh tế và thu được
những kết quả nhất định. Để đánh giá công tác áp dụng các biện pháp kinh tế vào
3
trong quản lý môi trường nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa
bàn thành phố Vinh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
vào thực tế, cụ thể trên địa bàn thành phố Vinh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ kinh tế
trong quản lý môi trường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Áp dụng các công cụ kinh tế trong công tác quản lý
môi trường.
- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn thành phố Vinh.
4. Phương pháp nghiên cứu

Công cụ kinh tế rất đa dạng gồm: Thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường,
quỹ môi trường, côta ô nhiễm, trợ cấp môi trường, nhãn sinh thái, ký quỹ môi
trường,… Mỗi công cụ đều có những ưu điểm tùy theo từng nội dung quản lý cụ
thể.
5
Công cụ kinh tế cần các điều kiện để phát huy hiệu lực trong quản lý môi
trường:
- Nền kinh tế thị trường thực sự, hàng hóa tự do trao đổi theo đúng chất lượng
và giá trị.
- Chính sách và các quy định pháp luật chặt chẽ, cho phép kiểm soát và điều
chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm hoặc sử dụng các thành phần
môi trường.
- Hiệu lực cao của các tổ chức quản lý môi trường từ Trung ương đến địa
phương trong quá trình thi hành các quy định của nhà nước về pháp luật, quy định.
- Thu nhập bình quân của quốc gia (GDP) cao, cho phép quốc gia có những
nguồn tài chính cho công tác bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức môi trường cho
mọi người dân.
Trong điều kiện kinh tế, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện
nay các công cụ kinh tế trong quản lý cần luôn được nghiên cứu để hoàn thiện,
tránh sự phản ứng của nhà sản xuất và người tiêu thụ. Sự mở cửa của nền kinh tế
đòi hỏi rất cao đối với các sản phẩm thương mại quốc tế, yêu cầu về an toàn trong
quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm.
2. Các loại công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
a. Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một loại thuế thực hiện điều tiết thu nhập về hoạt động khai
thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Đối tượng nộp thuế: Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuộc mọi thành
phần kinh tế quốc doanh, không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác, hoạt
động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm lưu động hay cố định,
có khai thác sử dụng tài nguyên lòng đất, mặt đất, mặt nước.

vấn đề như: Chi phí y tế, chi phí mất ngày công lao động, chi phí phục hồi môi
trường, chi phí phục hồi tài nguyên, chi phí xử lý và ngăn ngừa ô nhiễm,…
Nguyên tắc tính thuế môi trường là thuế phải lớn hơn chi phí để giải quyết phế
thải và khắc phục ô nhiễm.
Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá thành
sản phẩm theo nguyên tắc “ Người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Thuế môi trường
nhằm khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi
trường và tăng nguồn thu cho ngân sách. Thuế môi trường buộc các nhà sản xuất
phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên, nhiên liệu hoặc thay thế
nguyên, nhiên liệu ít gây ô nhiễm hơn.
Có hai loại thuế môi trường là thuế trực thu và thuế gián thu:
• Thuế trực thu đánh vào lượng chất thải độc hại đối với môi trường do cơ sở
gây ra.
• Thuế gián thu đánh vào giá trị sản phẩm hàng hóa gây ra ô nhiễm môi trường
trong quá trình sản xuất.
Đánh giá:
Ưu điểm:
- Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng ô nhiễm thải ra môi trường.
- Khuyến khích người sản xuất thay đổi công nghệ, sản phẩm, quy trình sản xuất
để giảm mức thuế phải đóng.
- Thuế dựa trên nguyên tắc càng gây ô nhiễm nhiều thì càng phải trả nhiều tiền, do
đó kích thích nhà sản xuất giảm ô nhiễm đến mức tối đa để giảm số thuế phải nộp.
Nhược điểm:
- Làm tăng chi phí đầu vào, giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp.
- Ảnh hưởng tới phân phối thu nhập: nhóm đối tượng có thu nhập thấp sẽ bị ảnh
hưởng lớn hơn so với nhóm đối tượng có thu nhập cao.
- Đầu tư hệ thống thiết bị và hệ thống quản lý giám sát, kiểm soát việc đánh thuế
vào các hành vi gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí lớn.
c. Phí và lệ phí
8

Là loại phí được dùng đối với những loại sản phẩm gây tác hại tới môi trường
khi chúng được sử dụng trong các quá trình sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng.
Phí đánh vào sản phẩm nhằm hai mục đích là khuyến khích giảm ô nhiễm bằng
giảm việc sử dụng/tiêu dùng các sản phẩm bị thu phí và tăng nguồn thu cho Chính
phủ. Đối với mục đích tăng nguồn thu cho Chính phủ thì mức phí được xác định
dựa vào tổng mức thu dự định sẽ thu hàng năm và số sản phẩm sẽ được tiêu thụ.
Còn đối với mục đích khuyến khích giảm ô nhiễm thì mức thu phí được xác định
dựa vào nhân tố như độ co giãn về đánh giá của đường cầu của sản phẩm bị đánh
phí, khả năng tồn tại sản phẩm thay thế không hoặc ít gây ô nhiễm hơn và mục tiêu
muốn giảm lượng ô nhiễm.
Đánh giá:
Ưu điểm:
- Giảm thiểu các hành vi gây hại đến môi trường, đặc biệt nếu kết hợp với các
công cụ hành chính.
- Mức phí và lệ phí đưa ra thấp nên tạo được sự đồng tình của người dân và doanh
nghiệp.
- Tạo thu nhập và khoản thu để bù đắp chi phí để bảo vệ môi trường.
Nhược điểm:
- Chi phí quản lý có thể cao hơn mức phí và lệ phí thu được dẫn đến thu phí, lệ phí
không hiệu quả trên phương diện kinh tế.
- Với mức phí quá thấp nhà sản xuất sẵn sàng chấp nhận đóng phí để thải vào môi
trường.
d. Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường
Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên thiên nhiên
khó có thể xác định quyền sở hữu và các tài nguyên được sử dụng công cộng như
không khí, đại dương,…
10
Giấy phép xả thải có thể mua bán được là thị trường mà trong đó hàng hóa
thường là giấy phép thải khí hoặc thải nước, người bán là các đơn vị sở hữu giấy
phép và người mua là các đơn vị cần giấy phép để xả thài.

để xử lý, khắc phục ô nhiễm. Nếu quá trình thực hiện đầu tư sau đó cơ sở không để
xảy ra ô nhiễm hoặc thực hiện đúng cam kết thì số tiền ký quỹ sẽ được hoàn trả
cho doanh nghiệp.
Đánh giá:
Ưu điểm:
- Nhà nước không cần bỏ chi phí từ ngân sách để khắc phục hậu quả môi trường.
- Công cụ có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp tích cực bảo vệ môi trường để
nhận lại khoản vốn đã ký quỹ trước đó.
Nhược điểm:
- Mức ký quỹ rất khó xác định chính xác để phù hợp với mỗi doanh nghiệp. Nếu
khoản tiền ký quỹ nhỏ hơn chi phí thực tế bảo vệ môi trường thì doanh nghiệp có
xu hướng từ bỏ việc nhận lại số tiền ký quỹ và không thực hiện cam kết.
f. Trợ cấp môi trường
Trợ cấp môi trường bao gồm: Cấp phát không bồi hoàn kinh phí từ ngân sách
dành cho công tác bảo vệ môi trường, khuyến khích về thuế và vay vốn lãi suất
thấp đối với các hoạt động nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường, ưu
đãi cho các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để nâng cao khả năng quản lý môi
trường.
Trợ cấp môi trường có thể tạo ra các khả năng giảm thiểu chất ô nhiễm, nhưng
không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư kinh phí và công nghệ xử lý môi
12
trường, không tạo ra sự bình đẳng về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Trong một
số trường hợp, trợ cấp tài chính tạo ra các khó khăn cho ngân sách quốc gia.
g. Quỹ môi trường
Quỹ môi trường được hình thành từ các nguồn vốn hỗ trợ bởi nhiều nguồn
khác nhau, quỹ là nguồn kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trường, hỗ trợ cho quá
trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường.
Quỹ môi trường tạo nguồn vốn ổn định và lâu dài để hỗ trợ cho các cơ sở, các
ngành trong hoạt động bảo vệ môi trường, nguồn tài chính để xử lý kịp thời khi
xảy ra các trường hợp ô nhiễm môi trường. Quỹ môi trường quốc gia là cơ sở để

thẩm định và đánh giá công nghệ của dự án vay vốn. Nhiều dự án có công nghệ
phức tạp đòi hỏi cán bộ thẩm định có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Có những
dự án không đủ năng lực đáp ứng yêu cầu về thiết bị xử lý hay không chứng minh
được tính khả thi của nguồn vốn vay.
 Một số trường hợp về đền bù thiệt hại môi trường:
Đền bù thiệt hại môi trường không được coi là một công cụ trong quản lý môi
trường, tuy nhiên tại điều 7 trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có quy định:
“… tổ chức, cá nhân gây tổn hại đến môi trường do hoạt động của mình phải bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Và Nghị định số 26/CP của Chính
phủ cũng quy định xử phạt hành chính các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Dưới đây là một số ví dụ về đền bù thiệt hại môi trường ở nước ta trong giai
đoạn gần đây:
- Bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi trường do sản xuất gạch: xã Việt Thống,
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có gần 100 lò gạch công suất từ 3 vạn đến 5 vạn ở
khu vực bãi bồi sông Cầu, khói từ các lò gạch làm ảnh hưởng đến gần 100 mẫu
ruộng của thôn Trung Đông dẫn đến giảm sản lượng lúa. Sau khi tiến hành điều tra
14
UBND tỉnh đã quyết định chủ các lò gạch phải đền bù cho người dân là chủ các
ruộng bị thiệt hại lúa là khoảng 1,6 tỷ đồng.
- Công ty VEDAN đền bù thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường sông Thị
Vải: Công ty có xây dựng hệ thống xử lý nước thải, tuy nhiên trong quá trình sản
xuất hệ thống này không hoạt động, toàn bộ nước thải được đổ trực tiếp ra sông
Thị Vải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến người dân.
Sau khi điều tra và giám định chất lượng nước thải Bộ Tài nguyên Môi trường đã
xử phạt công ty số tiền phạt là 126 tỷ đồng.
- Khai thác than gây bồi lấp các hồ chứa nước: ở Quảng Ninh, Tổng công ty
Than Việt Nam tiến hành khai thác than ở hai mỏ Tùng Bạch và Mạo Khê làm trôi
đất đá gây bồi lấp lòng hồ, giảm dung tích chứa nước từ 10 – 20%. Đồng thời,
nước hồ cũng bị axit hóa không đảm bảo chất lượng để tưới tiêu cho nông nghiệp
và sử dụng của người dân. UBND tỉnh Quảng Ninh đã buộc Tổng công ty Than

3. Tình hình phát triển kinh tế thành phố Vinh
a. Tăng trưởng kinh tế
Thành phố Vinh nằm giữa hai khu kinh tế lớn là Nghi Sơn (Thanh Hóa)
và Vũng Áng (Hà Tĩnh), bên cạnh thành phố là khu kinh tế Đông Nam (Nghệ An).
Năm 2010, Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất so với cùng kỳ là 18,1%, thu
nhập bình quân đầu người đạt 38,1 triệu đồng, thu ngân sách đạt 2800 tỷ đồng.
Thành phố phấn đấu tới năm 2015, tốc độ tăng trưởng giá trị SX từ 19,5 - 20,7%,
thu ngân sách đạt từ 3.200 - 3.300 tỷ đồng.
Nhiều Tổng Công ty, doanh nghiệp lớn có trụ sở chính ở Vinh (Ngân hàng Bắc
Á, Tập đoàn TH,Tổng Công ty công trình giao thông 4, Tổng Công ty hợp tác kinh
16
tế QK4, Tổng công ty Hợp tác kinh tế Việt Lào, Tổng Công ty xây lắp dầu khí
Nghệ An, Tổng công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An…).
b. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế thành phố chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông
nghiệp, tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ trong GDP ngày càng
tăng trong khi tỷ trọng các ngành nông nghiệp lại giảm.
Cơ cấu kinh tế thành phố Vinh năm 2010
 Hoạt động sản xuất công nghiệp
Là đô thị hạt nhân có tác động lan toả mạnh mẽ đến tốc độ công nghiệp hoá
vùng Bắc Trung Bộ, trong nhiều năm qua cơ cấu kinh tế thành phố Vinh chuyển
dịch tích cực và đúng hướng, trong đó tốc độ phát triển công nghiệp khá nhanh tập
trung chủ yếu là công nghiệp sạch. Tạo tiền đề phát triển nhiều ngành công nghiệp
của vùng Bắc Trung Bộ với các ngành chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến
thuỷ hải sản…
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Vinh có 7 khu công nghiệp và một số cụm
công nghiệp:
- Khu công nghiệp Bắc Vinh
- Cụm công nghiệp Nghi Phú
17

Hiện nay môi trường đất của thành phố Vinh có tình trạng ô nhiễm nặng do các
nguồn thải từ hoạt động công nghiệp, hàm lượng các chất độc hại, kim loại nặng
nhiều. Nước thải được thải trực tiếp ra các sông từ đó gây ô nhiễm đất. Ngoài ra, ô
nhiễm đất còn do các chất thải nông nghiệp, nhất là việc sử dụng phân bón hóa
học, thuốc bảo vệ thực vật, do khai thác nước ngầm thiếu quy hoạch, không kiểm
soát chặt chẽ.
 Môi trường nước
Mỗi ngày thành phố Vinh có tới 1.200 m
3
nước thải sinh hoạt chưa được
xử lý thải ra môi trường cống rãnh sông hồ như Hồ Goong, cầu Bến Thuỷ theo
các tuyễn dẫn nước thải. Nhiều địa phương trong thành phố có xí nghiệp hoạt
động cũng thực hiện các hành vi xả chất thải xuống các ao hồ sông hay bể đất
mà không được xử lý như Hưng Dũng, Hưng Lộc, Quán Bàu, Hưng Đông,
Hà Huy Tập
- Môi trường nước mặt: hiện nay do áp lực của việc gia tăng dân số, công
nghiệp hóa, đô thị hóa dẫn tới tình trạng các sông hồ của thành phố Vinh bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải bệnh
viện được đổ thẳng ra các sông, hồ mà không qua hệ thống xử lý, trong đó 90%
nước thải công nghiệp có hàm lượng độc hại đổ trực tiếp mà không qua xử lý.
- Môi trường nước ngầm: nguồn nước ngầm của thành phố cũng rơi vào tình
trạng ô nhiễm, hàm lượng amoni , nitrat, nitrit, độ oxy hóa… đã vượt nhiều lần chỉ
tiêu cho phép.
 Môi trường không khí
Chất lượng không khí ở thành phố Vinh đang được quan tâm nhất đó là bụi.
Việc gia tăng các phương tiện giao thông cũng đang gây ô nhiễm không khí ở
nhiều nơi. Nồng độ chì, khí CO, NOx, SO2 ở nhiều nơi khá cao.
19
II. Thực trạng áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn
Thành phố Vinh

thành phố, các đơn vị này thực hiện công tác thu gom và xử lý rác thải đồng thời
đảm nhiệm việc thu phí từ các đối tượng tạo chất thải.
Trên địa bàn thành phố Vinh khối lượng rác thải phát sinh hàng ngày rất lớn.
Với dân số khoảng 240728 người, năm 2006 thì hàng ngày Thành phố Vinh sản
sinh ra một lượng rác khoảng 190 tấn/ngày. Toàn thành phố có 23 chợ với lượng
rác thải hàng năm là 32200 tấn/năm tương đương với khoảng 95 tấn/ngày.Trung
bình lượng rác thải đầu người của Thành phố Vinh là 0.8 kg/ngày. Trong nội
thành lượng rác thải phát sinh nhiều nhất là ở Phường Hưng Bình 17,68 tấn/ngày,
đây đồng thời cũng là phường có số dân đông nhất (21868 dân), ít rác nhất thuộc
phương Đội Cung 8,58 tấn/ngày. Ở ngoại thành lượng rác thải ra tương đối thấp,
cao nhất là xã Hưng Lộc 7,85 tấn/ngày, thấp nhất là xã Vinh Tân 4,58 tấn/ngày.
 Đối với rác thải sinh hoạt:
Công ty Môi trường đô thị trực tiếp đến các hộ dân để thu phí thu gom rác
thải hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm.
Mức phí thu gom được tính theo số nhân khẩu.
 Với các hộ dân ở mặt đường mức phí là 3000 đồng/tháng
 Với các hộ dân ở trong ngõ mức phí là 2000 đồng/tháng
Tổng số phí thu được = Số nhân khẩu x Số hộ x Mức phí
(đồng) (người) (hộ) (đồng/tháng)
Ở khu vực nội thành thì tỉ lệ thu phí đạt 90%, còn các huyện ngoại thành thì tỷ
lệ này thấp hơn nhiều chỉ khoảng 60%.
Phí thu gom rác thải hiện nay được triển khai theo hình thức bao cấp trong
quản lý, mỗi hộ gia đình chỉ phải đóng 10.000 - 15.000 đồng/tháng rồi có thể đổ
thải thoải mái với đủ các loại chất thải sinh hoạt, chất thải nguy hại, túi ni lông mà
21
không cần phân loại. Cách tính phí như vậy không hiệu quả cả về mặt kinh tế cũng
như mục tiêu giảm chất thải bảo vệ môi trường.
Đối với các công ty môi trường đô thị thì số tiền phí thu được từ các hộ gia
đình quá thấp không đủ để chi phục vụ cho công tác thu gom, xử lý chất thải.
 Đối với các chất thải xây dựng, chất thải công nghiệp, chất thải y tế:

sở, nên mức phí được tính theo tỷ lệ % giá bán với 1m
3
nước cấp (tối đa là 10%)
mà các hộ gia đình, công sở đó sử dụng.
Như vậy, với 1m
3
nước có giá 5000 đồng thì người sử dụng phải đóng thêm
khoản phí bảo vệ môi trường tối đa là 800 đồng.
Số phí thu = Khối lượng nước sử dụng x Mức phí x 10%
(đồng) (m
3
) (đồng/m
3
)
Số tiền phí thu được của công ty cấp nước được giữ lại tối đa là 10% số phí để
phục vụ cho công tác thu phí. Còn lại 90% số phí sẽ được nộp vào Kho bạc nhà
nước, trong đó 50% nộp vào Ngân sách trung ương để hình thành Quỹ bảo vệ môi
trường Việt Nam, 50% còn lại được UBNDTP giữ lại để phục vụ cho hoạt động
bảo vệ môi trường của thành phố.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Vinh có 11 nhà máy cung cấp nước sạch với
tổng lượng nước cung cung cấp là 65.000 m
3
/ngày đêm. Tuy nhiên, do hệ thống
cấp nước quá cũ và lạc hậu nên tỷ lệ hao hụt nước lên tới gần 50%.
 Đối với nước thải công nghiệp
Do mỗi loại có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau nên không thể tính
đồng đều nước thải công nghiệp như nước thải sinh hoạt mà tính theo khối lượng
các chất gây ô nhiễm. Mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được tính theo
bảng sau:


- Cơ sở sản xuất làng nghề
- Cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung
- Cơ sở sửa chữa ô tô xe máy tập trung
- Bệnh viện
Thành phố Vinh có khoảng 41 đơn vị thuộc đối tượng nộp phí nước thải với
tổng lượng nước thải là 120.000 m
3
/ngày đêm, trong đó chỉ có 20% lượng nước
24
thải được qua hệ thống xử lý, còn lại được đổ thẳng ra hệ thống sông hồ của thành
phố.
Tỷ lệ thu phí trên thành phố thấp do một số nguyên nhân như sau:
- Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ của thành phố
rất lớn (chiếm 90%), với các cơ sở hoạt động như vậy thì việc thống kê, đo đạc và
kiểm tra chất lượng nước thải là rất khó thực hiện. Hơn nữa, hầu hết các doanh
nghiệp này thường trốn tránh không kê khai nộp phí nước thải để giảm chi phí đầu
vào.
- Nước thải của các cơ sở sản xuất bao gồm cả nước thải sinh hoạt và nước
thải công nghiệp, do đó để có thể bóc tách riêng nước thải công nghiệp để xác định
mức thu phí là rất khó khăn.
- Công tác quản lý chưa chặt chẽ, thiếu sự giám sát đối với các cơ sở gây ô
nhiễm nghiêm trọng. Đồng thời, do hạn chế về thiết bị, đội ngũ cán bộ tiến hành
quan trắc thẩm định chất lượng nước thải nên không thể tiến hành đo đạc ngay tại
cơ sở, quá trình kiểm định diễn ra chậm chạp.
- Thiếu chế tài xử phạt, đối với những cơ sở không nộp phí thì các cơ quan
hữu quan không có chế tài để xử phạt theo quy định pháp luật.
3. Quỹ bảo vệ môi trường Nghệ An
Quỹ bảo vệ môi trường Nghệ An được thành lập theo Quyết định số
43/2011/QĐ-UBND ngày 13/9/2011 của UBND tỉnh Nghệ An. Trụ sở của Quỹ
Bảo vệ môi trường Nghệ An đặt tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh. Nhiệm vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status