Nghệ thuật tự sự trong truyện của Đỗ Chu những năm gần đây - Pdf 29

( Word Converter - Unregistered )

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tự sự học là một trong những lĩnh vực thu hút sự quan tâm của giới
nghiên cứu gần đây. Mặc dù xuất hiện khá muộn, tới đầu những năm 60 của
thế kỉ XX, nhưng đó lại là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lí luận văn
học và đối tượng chính là nghệ thuật tự sự. Nghiên cứu nghệ thuật tự sự sẽ
giúp đi sâu khám phá về những giá trị của tác phẩm văn học.
Nghiên cứu nghệ thuật tự sự sẽ mở ra một hướng nhìn chuyên sâu về
tác phẩm từ một góc nhìn tự sự học. Đồng thời hình thành được một cách
nhìn đặc trưng của tác phẩm trong mỗi nền văn học.
Đỗ Chu là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học
Việt Nam đương đại. Ông đã thu được nhiều thành công trên những phương
diện hội họa, viết văn. Đỗ Chu sáng tác trên các lĩnh vực truyện ngắn, truyện
vừa, tiểu thuyết, tùy bút… Là nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến
chống Mĩ, những tác phẩm của Đỗ Chu đã chiếm được nhiều thiện cảm với
độc giả nhiều thế hệ.
Ông sớm gây được sự chú ý của bạn đọc từ những truyện ngắn đầu tay:
Phù sa, Hương cỏ mật… với “một loạt truyện ngắn đẹp như thơ, tươi rói như
anh tân binh được cả làng văn và bạn đọc hồ hởi đón nhận, chằm bặp” [39].
Các truyện Hương cỏ mật, Mùa cá bột, Chiến sĩ quân bưu, đã sớm khẳng
định phong cách rất riêng của Đỗ Chu.
Đã có nhiều bài nghiên cứu, bài viết về Đỗ Chu trên phương diện
truyện ngắn.
Năm 2003, có luận văn Thạc sĩ “Truyện ngắn Đỗ Chu” của Trần Xuân
Trà, luận văn “Thi pháp truyện ngắn Đỗ Chu” của Nguyễn Bích Ngọc năm
2004, luận văn “Đặc sắc truyện ngắn Đỗ Chu” của Tạ Duy Kiên năm 2005.
Và gần đây nhất, năm 2008 có luận văn Thạc sĩ “Từ “chất thơ” trong tập
truyện “Hương cỏ mật”, “Phù sa” của Đỗ Chu đến “Chất văn xuôi” trong tập
truyện “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp” của Nguyễn Thị Vân. Các

phận dân tộc, ngòi bút của Đỗ Chu lại linh hoạt bay bổng. Và ông cũng đã
thung dung đi đến “Một loài chim trên sóng” như đến một chỉnh thể truyện
ngắn đa tầng” [9].
Ở một góc nhìn khác, Nguyễn Hoàng Sơn đã có những nhận xét rất xác
đáng về truyện của Đỗ Chu “Một loài chim trên sóng” tiếp tục cái mạch của
“Mảnh vườn xưa hoang vắng”. Vẫn điềm đạm, từ tốn, thông minh và sâu sắc
như thế, Đỗ Chu hấp dẫn người đọc không phải bằng những truyện kể li kì,
dữ dội mà bằng văn chương” [39]. Với tập truyện này, “không có một sự thay
đổi kiểu xu thời trong truyện ngắn Đỗ Chu, cả về nội dung lẫn cách viết. Chỉ
có sự đào sâu, chín thêm của một phong cách sớm ổn định, thiên về trữ tình.
“Một loài chim trên sóng” thêm một lần nữa khẳng định những đóng góp của
Đỗ Chu vào văn xuôi hiện đại Việt Nam. Đỗ Chu viết ít nhưng mà tinh” [39].
Bên cạnh những bài viết về các tập truyện hay truyện cụ thể, còn có
những bài viết về phong cách, về giọng điệu và những bài viết khái quát về
truyện của Đỗ Chu.
Theo Bùi Việt Thắng nhận xét, những truyện ngắn của Đỗ Chu “đầy
chất thơ phảng phất hơi hướng Pautốpxki” [14]. Không những đậm chất thơ
mà ông còn phát hiện ra “văn Đỗ Chu tươi trẻ và luôn tạo ra sự thăng bằng
trong tầm hồn con người”. Trong quá trình tìm hiểu truyện Đỗ Chu, Bùi Việt
Thắng đã nhận thấy “truyện ngắn Đỗ Chu không nổi bật về cốt truyện, về
nhân vật. Nhà văn dường như không bám vào các hiện tượng đời sống để
miêu tả, kể chuyện, cũng không phải là mặn mà, hấp dẫn so với một số nhà
văn khác như Nguyễn Khải, Lê Minh Khuê… Lối viết của Đỗ Chu là dựa vào
những ấn tượng chủ quan – nhờ đó mà văn chương thường giàu cảm xúc, nhẹ
nhõm”. Cuối cùng Bùi Việt Thắng đi đến kết luận “với lối viết tinh tế, giọng
điệu nhẹ nhàng, Đỗ Chu không giống cô gái đoạt vương miện hoa hậu mà là
cô thanh nữ mặn mòi, duyên thầm. Đọc văn Đỗ Chu như được uống rượu
làng Vân – êm mà đậm ngấm và khi say là thật say”.
Cũng theo Lê Hương Thủy, sáng tác của Đỗ Chu “vẫn luôn có sự bám
rễ sâu xa vào hiện thực đời sống” [48], bởi lẽ các truyện của Đỗ Chu có sự

thuật tự sự, xác định những giá trị trong nghệ thuật tự sự của truyện Đỗ Chu
những năm gần đây một cách hoàn thiện hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề “Nghệ thuật tự sự trong truyện
của Đỗ Chu những năm gần đây” bởi đây là một trong những cây bút văn
xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại, có nhiều những nét độc đáo
riêng trong phong cách nghệ thuật.
Mục đích của chúng tôi là làm sáng tỏ về lí thuyết tự sự học được thể
hiện trong truyện của Đỗ Chu những năm gần đây. Và cho thấy những nét
riêng, những độc đáo của truyện Đỗ Chu. Đồng thời khẳng định phong cách
đầy cá tính sáng tạo của Đỗ Chu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết tự sự học, luận văn chúng tôi nghiên cứu một
cách có hệ thống vấn đề nghệ thuật tự sự trong truyện của Đỗ Chu trong
những năm gần đây với các phạm trù: người kể chuyện, thời gian trần thuật
và diễn ngôn tự sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật tự sự qua các truyện của Đỗ Chu những năm gần đây
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung khảo sát trên 14 truyện của Đỗ Chu những năm
1980 của thế kỉ XX. Chúng được tập hợp vào các tập truyện: Tháng hai
(1985), Mảnh vườn xưa hoang vắng (1985), Mận trắng (1997), Một loài
chim trên sóng (2002) và Truyện ngắn tuyển tập (2003).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Tự sự học
5.2. Thi pháp học
5.3. Phương pháp phân tích tổng hợp
5.4. Phương pháp so sánh.
6. Dự kiến đóng góp mới

phối người kể chuyện là điểm nhìn trần thuật.
1.2. Điểm nhìn trần thuật
1.2.1. Khái niệm
Điểm nhìn trần thuật là một thuật ngữ được giới nghiên cứu văn học
bàn tới nhiều. Có những ý kiến khác nhau về vấn đề này. Theo Pospêlôv cho
rằng: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật
với chủ thể trần thuật, hay nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối
với những gì anh ta miêu tả” [37]. Theo quan niệm này, người kể chuyện và
điểm nhìn của người kể phải đi liền nhau. Nói khác đi, phải có điểm nhìn,
người kể chuyện mới có thể kể lại và dẫn dắt được câu chuyện. Điểm nhìn
giống như chiếc camera dẫn dắt người cầm bút khám phá hiện thực và đưa
người đọc đi vào thế giới nhệ thuật của tác phẩm.
Theo M.B.Khrapchenkô cho rằng: “Chân lí cuộc sống trong sáng tác
nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối
với thế giới vốn có của từng nghệ sĩ thực thụ” [25]. Nguyễn Thái Hòa cũng
quan niệm: “Điểm nhìn nghệ thuật, là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ
thuật, hơn thế nữa là một cấu trúc tiềm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng
thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể và văn bản, giữa
văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người đọc hàm ẩn” [23].
Theo quan niệm này, tác giả đã chỉ ra điểm nhìn văn bản được đặt trong quan
hệ giữa người kể và văn bản và giữa văn bản với người đọc văn bản. Các tác
giả cuốn Từ điển Thuật ngữ văn học đã định nghĩa rất cụ thể về điểm nhìn
trần thuật: “Điểm nhìn trần thuật chính là vị trí đứng kể chuyện của người kể”
[19]. Chúng tôi đồng nhất với ý kiến của các tác giả Từ điển thuật ngữ văn
học, điểm nhìn trần thuật chính là vị trí mà người kể chuyện đứng quan sát để
rồi chiêm nghiệm, suy ngẫm và kể lại câu chuyện đó. Điểm nhìn trần thuật
giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong tác phẩm nghệ thuật.
1.2.2. Điểm nhìn trần thuật trong truyện của Đỗ Chu
Vấn đề điểm nhìn trần thuật trong các truyện của Đỗ Chu có thể phân
ra dưới hình thức: điểm nhìn bên trong; điểm nhìn bên ngoài; điểm nhìn di

với ngày Nhuần và “tôi” còn là lính cao xạ, đóng quân trên bãi đất bên sông
Hồng, “Bếp anh nuôi đặt trong nhà bà Thắng, phía đầu bãi, ở một xóm nghèo
chừng mười nóc nhà lợp lá”. Qua cuộc trò truyện, người đọc cảm nhận được
về cuộc gặp gỡ đầy duyên nợ giữa một người cán bộ miền Nam, tập kết ra
Bắc, làm ở tàu hút bùn, trận bão vô tình đã xô đẩy họ gặp nhau. Ông Thắng
gặp được cô gái, ngoài hai mươi, “nước da bánh mật, cười nói sởi lởi, một cô
gái lớn lên ở ven một dòng sông dữ dội, nhưng tính nết lại hiền từ và nhu
nhuyễn”. Họ lấy nhau và rời làng lên bãi ở. Họ có hai cô con gái Ngân và
Nga, chính đây là đầu mối cho mọi câu chuyện sau này. Hồng – khẩu đội
trưởng cảm thấy mến và yêu cô chị, còn cô em nhút nhát nên ít người để ý,
chỉ có anh lính “em út” – Nhuần là người thầm lặng yêu Nga. Những tưởng
Hồng và Ngân sẽ nên vợ nên chồng trước sự vun đắp của cả đơn vị, nhưng
anh đã lặng thầm hy sinh trong một trận đánh. Câu chuyện được đẩy lên tới
đỉnh điểm của xúc cảm khi “Nằm trên cáng anh vẫn còn rất tỉnh táo, giọng
anh thều thào: “Cứ hẹn hò với cô Ngân trong xóm sẽ đi chơi phố với nhau,
nhắn hộ là tôi sẽ về”. Nhưng anh vĩnh viễn không bao giờ được dắt tay cô đi
trên bãi giữa, ngắm tàu thuyền qua lại ven sông. Anh đã chẳng thể về gặp cô
được nữa. Sự ra đi đột ngột ấy khiến Ngân “ôm mặt khóc nức nở khi cùng mẹ
và em mang cơm ra trận địa”, đặc biệt là những người lính – những con
người đang sống chết để bảo vệ mảnh đất này “uể oải nhai những miếng cơm
khô như cát”. Như một định mệnh, lời bông đùa của Nhuần đã trở thành lời
hẹn ước đầy ý nhị với Nga sau đó, “Anh Hồng lúc nhắm mắt đã gọi chị Ngân
không biết bao nhiêu lần. Một ngày nào đó đến lượt anh, anh sẽ gọi em, Nga
ạ”. Một mối tình tưởng chỉ thoảng qua nhưng không, nó hoàn toàn trái ngược
với những gì nhân vật “tôi” lầm tưởng. Nga đi du học ở Liên Xô, còn Nhuần
làm bảo vệ tại viện Hóa. Ngày gặp lại Nga trong tình cảnh Nga về xin việc tại
Viện. Mẹ Nga đã theo chồng vào Đà Nẵng, Nhuần đã nhận trông coi căn nhà
trên bãi. Câu chuyện kết thúc có hậu như kết cấu của truyện cổ tích: “Nhuần
và Nga, người lính trẻ nhất Khẩu đội chúng tôi và cô bé đất bãi năm nào, sớm
ấy đã rủ nhau ra ngoài sông. Họ dắt tay nhau, quấn quýt như một đôi tình

sách đặc biệt nữa, trong danh sách đặc biệt ấy tất nhiên phải có anh”. Có lẽ là
lớp trưởng sẽ được ưu tiên đi du học ở nước ngoài. Sự ngạc nhiên, ngây thơ
của Bằng còn biểu hiện sau đó khi Bằng khuyên Hồng không nên thi Lâm
nghiệp theo bước chân lớp trưởng, anh lo chị “thân gái dặm trường, vào
những ngành trèo non lội suối” vất vả, nên thi vào Sư phạm. Đó là nghề phù
hợp hơn với chị. Bằng đâu ngờ những lời thực tình đó lại là tai họa khiến sự
việc xấu sau này Bằng phải lĩnh nhận: “Chị đem tôi ra báo cáo với lớp
trưởng, rồi lớp trưởng mang tôi ra kiểm điểm phê phán, tôi hóa ra thành một
phần tử tiên cực”. Đúng vậy. Sự việc nghiêm trọng hơn khi Bằng bị trượt tốt
nghiệp, học lại một năm nữa. Lớp trưởng và Hồng đã đỗ Đại học, nhưng anh
không được đi du học, người được chọn đi học ở nước ngoài là Linh. Điều
này khiến cả lớp ngạc nhiên, nhân vật Bằng đã đọc được sự đố kị trên vẻ mặt
đầy hậm hực của lớp trưởng và những lời lẽ đầy cay đắng của anh: “Thằng ấy
là cái thá gì mà được chọn nhỉ, đúng là chả còn trời đất nào nữa”. Bất mãn là
thế, nhưng anh đâu biết bố của Linh là liệt sĩ, từng dũng cảm hy sinh để bảo
vệ quê hương. Trong lớp Linh học siêng năng, giỏi giang. Từ đây Bằng đã rút
ra một sự chiêm nghiệm cho mình, sự chiêm nghiệm mang đầy tính triết lí:
“Ấy, ở đời cái người không biết tạo dựng cho mình, thì chính đời sẽ tạo dựng
cho họ, không biết tới tương lai thì rồi tương lai sẽ tự tìm đến họ”. Sự việc
tiếp theo được diễn ra theo sự hồi cố của Bằng về khoảng thời gian năm
1968, khi anh ở chiến trường ra và gặp Linh từ nước ngoài trở về: “Anh đèo
tôi qlua các dãy phố bằng chiếc xe đạp mới toanh, anh vừa tốt nghiệp đại học
và vài tháng tới sẽ lại chào mẹ lên đường tiếp tục học thêm”. Sự việc ấy khiến
mẹ anh rất vui và xúc động. Niềm tự hào của người mẹ về người con đã làm
rạng danh dòng họ đang long lanh đọng trong mắt mẹ. Điểm nhìn của Bằng
lại hồi cố về nhân vật Hồng. Thời điểm cuối những năm 1975, khi Bằng lặn
lội lên tận huyện Thông Nông, Cao Bằng tìm chị để hỏi thăm tình hình và
giúp đỡ chị. Trước đó Bằng có dịp gặp Đài – chồng của Hồng, hai người tình
cờ gặp nhau và thân nhau. Đài bị thương nặng trong một cuộc xung phong
giải phóng thị xã ở Bình Long. Ngày cuối cùng gặp nhau, “Anh Đài nắm chặt

nhân vật Thuyên: “Thuyên gặp lại người chính ủy của trung đoàn mình vào
một buổi trưa khi ca nô của anh đến đậu ở khúc sông vắng vẻ này. Có lẽ dạo
đó là vào cuối năm ngoái, những chuyến đầu của tổ anh đi chở cát”. Cuộc đối
thoại giữa Thuyên và ông Tri – vị chính ủy của trung đoàn năm nào, đã gợi
nhắc Thuyên nhớ lại những kỉ niệm với Quang, với mẹ và những sự việc anh
bị thương, bị bắt giam… Truyện mở ra với việc Thuyên đã kể cho người lái
phụ của mình nghe chuyện mình bị thương: “Một thằng đâm mình buổi sáng,
ngang chiều chính nó gói mình vào một mảnh chăn rách vứt lên trực thăng.
Máu ra nhiều lắm, ướt đẫm đám cỏ mình nằm, vậy mà không hiểu sao vẫn cứ
tỉnh”. Sự việc ấy giúp ta nhận ra những đau đớn về thể xác mà Thuyên phải
hứng chịu trong những năm tháng chiến tranh. Sự khốc liệt của cuộc chiến
khiến con người ta phải đối mặt với cái chết trong từng khoảnh khắc. Trong
tâm trí của Thuyên chợt hiện về những hồi ức xa xưa, “anh nhớ đến một đêm
sâu đầy phiền muộn”. Đó là ngày anh phải vĩnh viễn mất đi người mẹ yêu
thương của mình: “Đã lâu và đã xa lắm rồi. Có lẽ lúc đó anh vừa đi bán bánh
về, những chiếc bánh giò xếp trong thúng, nóng hổi, còn mảnh buồm đậy bên
trên. Căn nhà tối om, muỗi từng đàn đập vào mặt. Trong góc giường mẹ nằm
vất vưởng như một mảnh khăn lau bàn”. Những ngày trước đó, anh đi học lớp
do bà giáo trên phố dạy là những ngày khó khăn nhất đối với Thuyên. Giờ
đây, mẹ mất, chính bà là người đã giúp Thuyên lo mai tang cho mẹ: “Hôm
sau mẹ được chôn cất tử tế là nhờ một tay bà giáo lo toan cho cả”. Sự việc
được hồi cố về những ngày anh cùng Quang đánh giặc vào những ngày đầu
năm 1972. Trong tâm tưởng của Thuyên và các đồng đội của anh lúc đó,
Quang là người trung đoàn trưởng luôn được nhắc tới “với tất cả sự kính
trọng”, còn bọn địch khi nghe nhắc tới tên anh là chúng “lè lưỡi, lắc đầu”.
Điều này được bộc lộ qua trận đánh ở Bắc Công Tum, khi có “một sư đoàn
ngụy tới bao vây”. Tình thế khó khăn khi trung đoàn do Quang chỉ huy rơi
vào ổ phục kích của địch. Quang đã chỉ huy hết sức quyết đoán, anh chỉ cho
mọi người thấy được tình hình địch ta, kế hoạch tác chiến, tương quan về lực
lượng trong trận đối đầu này. Quang tìm mọi cách để tháo vây cho đồng đội.

nhận ra anh và đã cứu anh, “gia ân cho anh”, người học trò của mẹ anh ta.
Một tình huống nằm ngoài phán đoán của Thuyên, nó như một định mệnh mà
tạo hóa đã sắp đặt cho anh. Sự việc còn bất ngờ hơn, khi một lần anh tới thăm
con gái bà giáo cùng bà. Vô tình bạn của con rể bà chính là Quang. Sự thay
đổi của Quang làm Thuyên ngỡ ngàng, Quang đang mang quân hàm trung tá,
có vợ ba con. Câu hỏi của Quang khiến Thuyên như thêm phần hụt hẫng hơn:
“Tao không nghĩ là chú mày còn sống, hay thật”. Giờ đây có thể Thuyên đã
hiểu thêm về Quang, một người từng gan dạ, dũng cảm, mẫu mực nhưng anh
đã nhiều lần “đê hèn”. Trong tình yêu, anh chạy trốn Lân khi đã vụng dại với
cô, trong chiến đấu anh đã bỏ Thuyên lại để rút chạy êm thấm. Và trong cuộc
sống khi có hòa bình, anh lại rút chạy khỏi quá khứ nghĩa tình kia. Anh đã
thực sự quên ông Tri, quên Lân, quên cả Thuyên nữa. Anh đã từng được họ
gia ân nhưng anh bỗng chốc quên nó chóng vánh. Bữa tiệc hôm nay Thuyên
và Quang vô tình hội ngộ đã là bữa tiệc chia tay giữa hai người, Thuyên đã
rời đi, “anh chạy đùng đùng như kẻ bị ma đuổi”. Có lẽ Thuyên không muốn
đối mặt với người hèn nhát từng chạy trốn trước lỗi lầm mình đã gây ra.
Thuyên hồi tưởng về những ngày Quang yêu Lân, một người con gái “xinh
xắn, mềm mỏng”, một nữ thanh niên xung phong làm y tá. Mặc dù Quang đã
có vợ ở quê, nhưng anh vẫn yêu Lân, vẫn duy trì một mối tình ngang trái. Lân
đã có thai hai tháng, sẵn sàng nhận kỉ luật để về tuyến sau nuôi con. Phút chia
tay ông Tri và Lân, Quang đã “bỏ đi như một người chạy trốn”. Mọi người
đều ngỡ ngàng và thầm oán trách Quang sao bạc tình. Ông Tri đã không giữ
được bình tĩnh, ông phải gắt lên “Chúng ta còn khối thời gian để xem thằng
ấy có thành người hay không”. Quang vẫn thành danh còn thành người thì
chưa, vì anh đã chạy trốn thiên chức làm bố của mình. Anh đâu biết Lân và
con anh giờ ra sao?
Trong một chuyến đi làm việc, vô tình Thuyên được chứng kiến sự
việc, con gái Lân đã ngã xuống sông và được một người thương binh (cụt
một chân) cứu vớt. Nhưng người đó chỉ cứu được cháu gái còn mình thì bị
nước cuốn đi. Đó là đồng đội của Thuyên, bị thương khi cùng Thuyên chở

hơn. Người kể ẩn mình đi, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm, từ đó
quan sát và kể lại những sự việc như nó vốn có. Điều này tạo nên tính khách
quan cho tác phẩm, đôi khi tạo nền cho nhân vật kể chuyện xuất hiện. Điểm
nhìn bên ngoài giữ vai trò dẫn dắt người đọc vào không khí của truyện, có
những hình dung ban đầu về câu chuyện. Điểm nhìn bên ngoài thường xuất
hiện trong những truyện được kể ở ngôi thứ ba, thường được gọi là điểm nhìn
khách quan.
Trong các tác phẩm của Đỗ Chu, điểm nhìn bên ngoài được sử dụng
hết sức linh hoạt, không thuần nhất là điểm nhìn bên ngoài nhưng điểm nhìn
bên ngoài luôn có vai trò định hướng, dẫn dắt người đọc vào câu chuyện.
Truyện ngắn Mê lộ được mở ra bằng điểm nhìn khách quan của người
kể chuyện ẩn mình. Truyện bắt đầu bằng thời điểm hiện tại, điểm nhìn này
giúp người đọc như đang chứng kiến sự việc của thời điểm hiện tại đang diễn
ra trong thế giới truyện: “Bọn nỡm lại đã leo lên bức tường ở đầu ngõ kia rồi.
Trừ những hôm mưa gió còn thì chẳng mấy chiều là chúng không rủ nhau ra
đó. Chúng ngầm tỏ cho lũ con trai biết là chúng cũng có hội riêng, có những
trò chơi riêng”. Câu chuyện được bắt đầu từ những trò đùa nghịch của “lũ
con gái” trong xóm, chúng chơi từ chiều cho tới khi cái loa phóng thanh thôi
không phát tín hiệu nữa. Chỉ có sự xuất hiện của ông Trữ mới đủ sức khiến
chúng rút lui, thậm chí “nếu chẳng may có đứa nào mải chơi mà thấy ông bất
ngờ hiện ra thì chúng kêu thất thanh, mặt mày tái mét, chỉ mong tìm được
một cái lỗ mà chui xuống”. Cách giới thiệu về sự xuất hiện của ông Trữ khiến
câu chuyện tăng thêm phần hấp dẫn, tạo sự bí ẩn về nhân vật. Ông Trữ đã trở
thành nỗi ám ảnh cho bao người trong xóm, thậm chí với lũ trẻ, sự có mặt của
ông là một “nỗi đe dọa, là tín hiệu báo động khẩn cấp”. Từ những sự tụ họp,
vui đùa của đám trẻ con, phút chốc thay bằng cảnh “tháo chạy tán loạn”. Qua
điểm nhìn khách quan, ông Trữ hiện lên ở thời điểm hiện tại với đầy đủ nét
khác biệt. Từ cách ăn mặc tới cử chỉ, lời nói, hành động đều khác người:
“Mùa hạ ở trần, chụp chiếc lá sen lên đầu làm mũ, mùa đông khoác thêm tấm
chăn chiên Nam Định vằn đen vằn vàng nom như lốt hổ. Trên vai ông lúc nào

Đảng ủy phải họp để thảo luận. Và ngày ấy, phút giây ấy đã đến. Trữ bị đánh
tụt quân hàm từ thiếu tá như trong sổ sách cấp trên gửi về nay còn quân hàm
“thiếu úy”. Lời tuyên bố của vị Chính ủy đã làm cho cả tiểu đội “đứng im
lặng như đã hóa thành tượng đá, tai họ ù đặc”. Mặc dù viên Chính ủy sau đó
tự nhận là mình đã nhịu lời, là đọc nhầm, “bởi vì miệng tuy đọc là thiếu úy
nhưng trong đầu lại vẫn cứ đinh ninh đã đọc là thiếu tá”. Sự cố ý nhầm lẫn
của vị Chính ủy đã giết chết Trữ về tâm hồn, giết chết một tiểu đoàn trưởng
gan góc tài giỏi trong trận mạc. Thế là Trữ đã điên thật, ông Trữ đã là người
bước sang một thế giới khác, sống một thế giới thực hư, khôn dại lẫn lộn. Trữ
đâu biết sự nhầm lẫn kia là cả “một kế hoạch trả thù” được sắp đặt từ trước
của viên Chính ủy. Do hắn từng lả lơi cô Cài nhưng bị cô phản ứng làm cho
vỡ cặp kính, và sau này cô Cài yêu Trữ nên đã tạo ra cho viên Chính ủy mối
thâm thù này. Hôm nay, hắn đã trả thù Trữ một cách mạt hạng. Hắn đã khiến
Trữ chết ngay khi đang sống. Từ điểm nhìn trần thuật khách quan, người đọc
được chứng kiến những sự việc xảy ra với Trữ sau này, việc Trữ phát hiện ra
hũ vàng nơi miếu hoang, bọn kẻ gian tới hành hạ Trữ, được dân làng giải vây,
bà mẹ hiến cả số vàng cho dân làng. Bà lên tận Lạng Sơn tìm cô Cài- người
yêu của con trai bà, theo lời người con bà vẫn kể trong lúc chập chờn nửa
tỉnh nửa mê. Câu chuyện khép lại trong cảnh con trai Trữ, và Cài –vợ Trữ đã
về viếng mộ mẹ và đoàn tụ cùng Trữ. “Họ bỏ lại trong miếu cái ba lô và cái
tay nải rách nát như bỏ lại một quá khứ không cần nhắc lại”. Lời nhận định,
bình luận của người kể chuyện đã là lời kết cho câu chuyện. Đúng, quá khứ
đau thương cần phải được quên lãng, dấu tích một thời gian khổ và oan trái
cần được khỏa lấp. Giờ đây Trữ cần được sống hạnh phúc bên vợ và con trai.
Một kết thúc cho câu chuyện mang dáng dấp cổ tích thời hiện đại. Người đọc
thấy ấm lòng hơn khi chứng kiến hình ảnh anh và vợ con sóng bước bên
nhau. Từ điểm nhìn của người kể chuyện, mọi góc cạnh của thiên truyện
được hé mở khách quan và lôi cuốn người đọc.
Cả truyện Mê lộ hầu như nhà văn sử dụng điểm nhìn bên ngoài, đây là
nét đặc trưng của truyện Đỗ Chu. Phần lớn các truyện ngắn Đỗ Chu sử dụng

So với điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài trong truyện Đỗ Chu
thể hiện rất rõ cái nhìn đa chiều của người trần thuật. không giống với cách
sử dụng điểm nhìn bên ngoài của Nguyễn Minh Châu trong truyện Chiếc
thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu chỉ thoáng qua một vài chi tiết miêu tả
sự việc khách quan, không gian miêu tả xuất hiện hai địa điểm trên bến
thuyền và tại phiên tòa, kiệm lời đối thoại của những nhân vật phụ vì thế tạo
nên một nét riêng của truyện Nguyễn Minh Châu. Cách sử dụng điểm nhìn
bên ngoài của Đỗ Chu tạo một đấu ấn rất riêng trong thế giới truyện của nhà
văn. Sự linh hoạt trong việc sử dụng điểm nhìn bên ngoài, không thuần nhất
là điểm nhìn bên ngoài nhưng điểm nhìn bên ngoài luôn có vai trò định
hướng, dẫn dắt tình tiết truyện, miêu tả các sự việc của truyện ở nhiều góc
cạnh như trong Mê lộ, thể hiện thế giới truyện phong phú, đa dạng. Đó là nét
đặc sắc trong phong cách nghệ thuật Đỗ Chu.
1.2.2.3 Điểm nhìn di động
Điểm nhìn di động có nhiều ý kiến được đưa ra xung quanh vấn đề
này. Theo Nguyễn Thái Hòa, “điểm nhìn được di động trong thời gian
kể”[23]. Nghĩa là điểm nhìn được dịch chuyển theo thời gian. Tác giả cũng
nói rõ hơn “có những truyện giữ một điểm nhìn không đổi, nhưng ngược lại
có nhiều truyện điểm nhìn thay đổi theo nhân vật, theo người kể chuyện”[23].
Theo Trần Đình Sử, “Có khi nhà văn miêu tả hành vi hoàn toàn từ bên ngoài.
Lại có khi nhà văn miêu tả hành vi từ bên trong kẻ làm hành vi ấy. Có khi
nhà văn giữ nguyên một điểm nhìn từ đầu đến cuối. Có khi điểm nhìn bên
trong được thay đổi luôn từ nhân vật này sang nhân vật khác”[40], đồng thời
Trần Đình Sử cũng đi đến kết luận: “Luân phiên điểm nhìn tạo hiệu quả đối
thoại kịch tính thầm kín”[40]. Như vậy, trong một tác phẩm, có thể nhà văn
sử dụng một điểm nhìn trần thuật. cũng có khi điểm nhìn được di chuyển từ
vị trí này sang vị trí khác. Điểm nhìn di động là điểm nhìn luôn có sự thay
đổi, không cố định ở một vị trí cụ thể nào, nhằm tạo ra sự biến hóa cho mạch
truyện, tạo cho câu chuyện kể mang tính khách quan hơn, dễ dàng lôi cuốn
được người đọc, thâm nhập vào câu chuyện. Trong truyện ngắn của Đỗ Chu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status