Nghiên cứu đặc điểm hoá sinh, tác dụng hạ đường huyết của một số hợp chất tự nhiên từ hai loài Ipomoea batatas (L.) và Ipomoea cairica (L.) (LV00182) - Pdf 29

- 1 -
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
- - -  - - -
TRẦN TRUNG KIÊN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÓA SINH, TÁC DỤNG HẠ
ĐƯỜNG HUYẾT CỦA MỘT SỐ HỢP CHẤT TỰ NHIÊN
TỪ HAI LOÀI Ipomoea batatas L. VÀ Ipomoea cairica L.
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC


gặp và có tỉ lệ tử vong cao nhất trong các bệnh nội tiết.
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới gió mùa có hệ thực vật phong phú, đa dạng,
có nhiều loại cỏ cây cho những vị thuốc quý. Việc nghiên cứu, khảo sát về thành
phần hóa học và ứng dụng trong y dược của một số loại cây là cần thiết.
Việc sử dụng các loại thuốc tân dược thường có tác dụng phụ không mong
muốn và thường đắt tiền. Các loại thuốc dược liệu từ cây cỏ thường ít gây tác
dụng phụ, đồng thời tác dụng của thuốc kéo dài.
Việc nghiên cứu, khảo sát về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của
các loài cây thuốc có giá trị Việt Nam nhằm đặt cơ sở khoa học cho việc sử dụng
chúng một cách hợp lý, hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt. Trên cơ sở kết quả
- 3 -
nghiên cứu của M.Yoshimoto và cộng sự (2004) về tác động hạ glucose huyết
của lá khoai lang (Ipomoea batatas L.) trên mô hình chuột nhắt gây bệnh bằng
STZ [42].
Chính vì vậy tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm hóa sinh, tác dụng hạ đường huyết của một số
hợp chất tự nhiên từ hai loài Ipomoea batatas L. và Ipomoea cairica L.”.
2. Mục đích nghiên cứu
1. Nghiên cứu một số thành phần hóa sinh của hai loài Ipomoea batatas
L. và Ipomoea cairica L
2. Tác dụng hạ đường huyết của một số hợp chất tự nhiên trên mô hình
chuột béo phì và đái tháo đường typ 2.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, chúng tô
i
tiến hành những nội dung sau:
1. Tách chiết các hợp chất tự nhiên bằng cách sử dụng các loạ
i
dung
môi hữu cơ chiết qua các phân đoạn.


5.2. Định lượng polyphenol tổng số theo phương pháp quang phổ Folin –

Ciocalteau (Phương pháp Orthofer etal, 1999)

5.3. Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và chống béo phì của dịch chiết một
trong hai loài là ngọn rau Khoai lang (Ipomoea batatas L.) hoặc lá Bìm bìm
(Ipomoea cairica L.)

5.4. Phương pháp phân lập các hợp chất bằng sắc kí lớp mỏng.
6. Giả thuyết khoa học
Sau khi thực nghiệm, chúng tôi dự kiến sẽ đưa ra những đóng góp mới sau:
1. Đưa ra qui trình tách, chiết một số hợp chất tự nhiên bằng cách sử
dụng các dung môi hữu cơ tách qua các phân đoạn.
2. Phân lập một số hợp chất từ hai loài Ipomoea batatas L. và Ipomoea
cairica L.
- 5 -
3. Đánh giá tác dụng hạ glucose huyết, các chỉ tiêu mỡ máu trên chuột
bị bệnh béo phì và đái tháo đường thực nghiệm.
0
Bắc và Nam.
Các xứ trồng nhiều khoai lang gồm có: Trung Quốc, Indonesia, Nhật,
Ấn Độ, Philippines, Brazil, Argentina, Mỹ, . . .Nhật Bản là nước trồng Khoai
lang có năng suất ổn định và cao nhất. Tại đây Khoai lang được xem là cây
lương thực quan trọng hàng thứ hai sau lúa gạo. Tại Hoa Kỳ, Khoai lang được
trồng nhiều ở các tiểu bang phía nam, từ Bắc Carolina đến Texas và được
xem là thức ăn chính của dân trong vùng [4].
Ở Việt Nam, tại các tỉnh phía Bắc, Khoai lang được trồng tập trung
nhiều nhất tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, . . . Tại
các tỉnh phía Nam, Khoai lang được trồng tập trung tại các tỉnh Quảng Nam -
Đà Nẵng, và rải rác tại Quảng Ngãi, Phan Rang, Phan Thiết và Đồng Nai.
Tuy là loại hoa màu có nguồn gốc nhiệt đới (Nam Mỹ, Ấn Độ), Khoai
lang vẫn có thể mọc được trên nhiều loại đất và khí hậu khác nhau.
- 7 -
Đất đai: Khoai lang có thể mọc được trên nhiều loại đất khác nhau từ
sa cấu cát đến sét nặng. Tuy nhiên loại đất thích hợp nhất vẫn là đất xốp dễ
thoát nước, có sa cấu từ cát đến thịt pha cát và phải màu mỡ. Khoai lang là
cây tương đối chịu mặn, pH thích hợp từ 4,2 - 8,3.
Khí hậu: Khoai lang chịu lạnh kém, mọc tốt ở nhiệt độ tương đối ấm áp
từ 15 - 35
0
C, có thể chịu được nhiệt độ lên đến 45
0
C. Vì vậy nó thích hợp ở
vùng khí hậu nhiệt đới, cho củ phẩm chất tốt, ít sơ và ngọt.
1.1.1.3. Thành phần hóa học
Củ Khoai lang chứa 24,6% tinh bột, 4,17% glucose. Khi còn tươi, củ
chứa 1,3% protein, 0,1% chất béo, các diastase, tro có Mn, Ca, Cu, các
vitamin A, B, C, 4,24% tanin, 1,375% pentosan. Khi đã phơi khô ở chỗ mát,

năm lá nhỏ kèm theo do chồi nách sinh ra. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, lưỡng phân.
Hoa to, hình phễu, có màu trắng hoặc lam tím. Quả nang hình cầu. Cây ra hoa từ
tháng 5 tới tháng 12.
1.1.2.2. Nơi sống và thu hái
Bìm bìm là loài cổ nhiệt đới, thường mọc hoang ở nhiều nơi, mọc quấn
vào hàng rào hoặc các bụi cây khác. Nhân dân các địa phương còn trồng cây
này làm cảnh, trồng bờ rào, làm dàn che nắng. Thu hái toàn cây quanh năm.
Rửa sạch, cắt ngắn từng đoạn, dùng tươi hay phơi khô.
1.1.2.3. Thành phần hóa học
Hạt chứa một chất glucosid màu vàng nhạt là muricatin A có tính xổ,
dầu béo 11,5%, một chất không xà phòng hóa chứa β-sitosterol.
1.1.2.4. Tính vị, tác dụng, công dụng
Vị ngọt, tính hàn, hơi có độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu. Rễ củ và
thân có vị đắng.
- 9 -
Dân gian thường dùng lá đâm rịt trị bệnh đầu voi. ở Hawai, người ta
dùng rễ củ và thân để ăn. Ở Ấn độ, người ta dùng lá giã ra xoa đắp trên cơ thể
người bị ban; hạt được dùng làm thuốc xổ. Ở Trung quốc, người ta dùng trị:
1. Ho do bệnh về phổi; 2. Giảm niệu; đái ra máu; 3. Phù thũng. Dùng liều 5 –
12g dạng thuốc sắc. Không dùng cho người bị ốm, yếu. Dùng ngoài trị đinh
nhọt, viêm mủ da, đòn ngã tổn thương, giã cây tươi đắp vào chỗ đau [4, 9].
Hiện nay chưa có tài liệu nghiên cứu về khả năng điều hòa lượng
đường trong máu của các hợp chất từ cây Bìm bìm này.
1.2. GIỚI THIỆU VỀ MỘT SỐ HỢP CHẤT TỰ NHIÊN Ở THỰC VẬT
1.2.1. Hợp chất phenolic [18, 31]
1.2.1.1. Đặc điểm chung và phân loại
Thuật ngữ “hợp chất phenolic” dùng để chỉ một nhóm hợp chất có cấu
trúc vòng benzen, mang một hay nhiều nhóm thế hydroxyl (-OH) gắn trực
tiếp vào vòng benzen. Vì vậy còn gọi là hợp chất phenol.
Trong tự nhiên, các hợp chất phenolic phân bố rất phổ biến trong thực

(acid coumaric, acid cafeic): có gốc carbonyl được nối với
nhân benzen qua hai nguyên tử carbon, thường gặp ở thực vật bậc cao.
Nhóm đa vòng C
6
– C
1
– C
6
(flavonoid): nhóm này rất đa dạng, cấu trúc
phân tử gồm hai vòng benzen, một vòng pyran và được phân thành các nhóm
phụ như: flavon, flavonol (sắc tố vàng), antoxyanidin (sắc tố xanh, đỏ, tím),
catechin (không màu)…
- Nhóm hợp chất phenolic polymer: được chia thành các nhóm phụ
như: tanin, ligin, melanin, acid humic.
1.2.1.2. Vai trò của hợp chất phenolic trong thực vật [6, 29]
Hợp chất phenolic có ở hầu hết các bộ phận của cây đặc biệt là ở tế bào
thực vật quang hợp. Chúng được hình thành từ những sản phẩm của quá trình
đường phân và con đường pentose qua acid cynamic hay theo con đường
acetate malonate qua Acetyl – CoA. Nhóm hợp chất này có một số chức năng
trong đời sống thực vật:
- Các hợp chất phenolic tham gia vào quá trình hô hấp như là một chất
vận chuyển hydro.
- Các polyphenol có thể hình thành liên kết hydro với các protein và
enzyme làm thay đổi hoạt động của các enzyme này tương tự như
hiệu ứng dị lập thể. Nó làm tăng hoặc giảm hoạt động của enzyme.
- Hợp chất phenol tác dụng mạnh lên quá trình sinh trưởng, đóng vai
trò là chất hoạt hóa AIA – oxydase và tham gia vào quá trình sinh
tổng hợp enzyme này.
- 11 -
- Hợp chất phenol có tính kháng khuẩn. Những hợp chất phenol bảo vệ

các hợp chất có cấu tạo hai vòng benzen A, B được kết hợp bởi một dị vòng C
(vòng pyran) với khung cacbon C
6
– C
3
– C
6

Trong đó vòng A được tạo thành từ 3 đơn vị acetate (đi từ acid malonic)
và vòng B với cầu nối 3C được xây dựng từ một đơn vị phenyl propan (đi từ
acid sikimic). Ở vòng A các nhóm hydroxyl thường thấy ở các vị trí C
5
, C
7

còn ở vòng B thường mang nhóm hydroxyl và ankoxyl ở vị trí C
4
hoặc cả C
3

và C
4
.
Tùy theo mức độ oxy hóa của vòng benzen, sự có mặt hay không có

1
C

Hình 1.1. Flavan (2 – phenyl chroman)
- 13 -
được tích lũy trong mô thực vật, những chất thuộc dạng này gồm chalcon
(được hình thành sớm nhất với cấu trúc C
15
từ malonyl Co – A và P –
coumary Co - A), flavan, flavol-3-ol và flavan-3,4-diol. Còn những chất khác
được biết đến như sản phẩm cuối của quá trình sinh tổng hợp như:
anthocyanin, flavon và flavonol…
Ngoài ra, các flavonoid cũng có thể được phân lớp tùy theo khối lượng
phân tử của chúng. Flavonoid được sắp xếp theo khối lượng phân tử tăng dần
từ các monomer, dimer…đến oligomer.
Flavonoid tồn tại ở hai dạng: dạng tự do gọi là aglycon và dạng liên kết
với đường gọi là glycoside. Các glycoside khi bị thủy phân bằng acid hoặc
enzym sẽ giải phóng ra đường và aglycon tương ứng. Trong tự nhiên, trừ
catechin và leucoantoxyanidin, phần lớn flavonoid đều tồn tại dưới dạng
glycoside. Có hai dạng glycoside là O – glycoside và C – glycoside. Đối với
O – glycoside phân tử đường liên kết với flavonoid thông qua nhóm hydroxyl
như rutin, đối với C – glycoside, flavonoid liên kết với đường thông qua
nguyên tử cacbon như saponin.
1.2.2.2. Tính chất vật lí

phenolic, nhóm carbonyl, vòng thơm benzen nên chúng có khả năng phản ứng
rất lớn.
Phản ứng của nhóm hydroxyl (-OH): phản ứng với các chất oxy hóa
(bạc nitrat, persulfat, pherixianit và các gốc tự do) tạo thành các gốc phenoxyl
ArO
*
(gốc tự do bền trong cơ thể). Các gốc này có thể dimer hóa hoặc phản
ứng với các gốc tự do khác tạo nên liên kết mới C-C’, C-O, O-O. Sự tăng
nhóm hydroxyl trong phân tử làm cho các chất phenol trở nên nhạy cảm với
sự oxy hóa và các phản ứng làm bẻ gãy vòng.
Phản ứng với dung dịch kiềm (tính acid): phản ứng với dung dịc
amoniac cho các muối tan màu vàng da cam, đỏ, xanh hoặc tím.
Phản ứng của vòng thơm (phản ứng diazo hóa): cho màu đỏ, da cam.
Phản ứng của nhóm carbonyl (phản ứng Shinoda). Đây là phản ứng
khử, có sự tham gia của các kim loại như Fe, Zn, Mg, và HCl cho sản phảm
có màu da cam, hồng hoặc đỏ.
- 15 -
Phản ứng này đặc trưng cho các flavonoid có nhóm carbonyl (- C = O)
ở vị trí C
4
và có nối đôi giữa C
4
và C
3
, điển hình là flavon, flavonol – 3.
Flavon không có nhóm OH nên phản ứng khó hơn, cho màu nhạt hơn, vì vậy
khó phát hiện hơn.
Sự tạo thành liên kết hydro: liên kết hydro được hình thành giữa các
nhóm OH tự do trong cùng phân tử hoặc giữa các phân tử với nhau. Đặc điểm
này làm ảnh hưởng nhiều đến tính chất vật lý, hóa học như điểm sôi, điểm

(Semiquinon hoặc quinon)

Flavonoid (dạng khử)
(dạng Hydroquinon
)

Flavonoid (dạng oxy hóa)
(Semiquinon hoặc quinon)

- 16 -
Các chất này có khả năng phản ứng với các gốc tự do hoạt động sinh ra trong
quá trình sinh lí và bệnh lí để tiêu diệt chúng.
Với tính chất chống oxi hóa, flavonoid thể hiện chức năng bảo vệ gan
một cách tích cực. Trong gan có sự chuyển hóa lipid của màng tế bào gan bị
oxi hóa thành peroxide của acid béo là các gốc tự do. Nhờ khả năng ngăn cản
sự hình thành acid béo và cholesterol, vì vậy nó có thể làm tái sinh nhanh và
phục hồi chức năng bảo vệ gan.
Flavonoid có khả năng ngăn chặn các chất độc hướng gan, ngăn chặn sự
nhiễm mỡ trong gan. Khi đưa flavonoid vào, cơ thể sinh ra các gốc tự do bền
vững hơn các gốc tự do hình thành trong quá trình bệnh lí, chúng có khả năng
giải tỏa điện tử trên mạch vòng của nhân thơm và của hệ nối đôi liên hợp, làm
triệt tiêu các gốc tự do hoạt động. Các gốc tự do tạo nên bởi flavonoid bền
vững hơn nên chúng không tham gia vào phản ứng dây chuyền, phản ứng oxy
hóa tiếp theo, kết quả là hạn chế quá trình sinh bệnh lí do cắt đứt dây chuyền
oxy hóa.
*. Flavonoid có khả năng điều hòa hoạt độ enzyme
Khả năng tương tác với protein là những tính chất quan trọng của các
hợp chất phenol liên quan đến hoạt tính sinh học của chúng. Phản ứng xảy ra
giữa nhóm OH và nhóm cacbonyl của các peptide để tạo thành liên kết hydro.
Do tính chất này mà flavonoid có thể tương tác với protein enzym làm thay

đường của acid phenolcacbonic và este của acid ellagovic với đường.
Tannin ngưng tụ: là các oligomer hay polymer của các đơn vị flavonoid
(flavan 3-ol) nối với các dây nối C - C không bị cắt khi thuỷ phân như
catechin, epicatechin hoặc các chất tương tự. Tannin ngưng tụ có thể có từ 2
tới 50 hay hơn các đơn vị flavonoid.
- 18 -
1.2.3.2. Tính chất vật lý
Tannin thường là hợp chất vô định hình hoặc tinh thể, không màu, có
tính quang học, vị chát. Tannin tan trong nước tạo dung dịch keo và độ hoà
tan thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ polymer hoá. Chúng tan tốt trong ethanol,
acetone.
1.2.3.3. Tính chất hóa học
Tannin dễ bị oxi hóa khi đun nóng hay để ngoài ánh sáng. Khi bị oxy
hóa, tannin biến thành chất màu đỏ hoặc màu nâu hoặc màu đen xám.
Tannin phản ứng với FeCl
3
: Chúng cũng kết tủa với muối kim loại
nặng và gelatin. Dựa vào tính chất này người ta tách tannin.
Tannin có thể tạo phức với protein, tinh bột, cellulose, muối khoáng
Tannin dễ bị thuỷ phân trong môi trường acid nhẹ, kiềm nhẹ, nước
nóng hay enzyme (tannase) tạo thành carbohydrat và acid phenolic.
Tannin ngưng tụ khó bị thuỷ phân trong môi trường acid, kiềm nhẹ,
nước nóng hay enzyme. Tannin pyrocatechin cho tủa màu xanh đậm với muối
sắt (III) và tủa bông với nước brom.
1.2.3.4. Tác dụng sinh học
Tannin là chất cầm rửa do có tác dụng giảm sự bài tiết trong ống tiêu
hóa, kết tủa protein tạo thành một màng che niêm mạc.
Tannin còn chữa ngộ độc kim loại nặng và alkaloid do tạo tủa với
chúng.
Tannin có tác dụng chống ung thư do có khả năng kết hợp với các chất

N
N
O
O
N
NH
CH3
CH
3
CH
3

Hình 1.4. Cafein
N
N
CH
3

Hình 1.5. Nicotin
- 20 -
Nhóm 6: gồm các alkaloid là dẫn xuất của Indol. Đại diện là Rezecpin
của cây Ba gạc.
Nhóm 7: gồm các alkaloid là dẫn xuất của Imidazol. Đại diện là
Pilocarpin.
Nhóm 8: gồm các alkaloid là dẫn xuất của Quinazolin. Đại diện là
Febrifugin và Peganin.
Nhóm 9: gồm các alkaloid là dẫn xuất của Purin. Đại diện là Cafein,
Theobromin có trong cây chè, cà phê, cacao
Nhóm 10: gồm các alkaloid là dẫn xuất của Steroid. Đại diện là
Solacodin.

2
SO
4
đặc, acid
HNO
3
đặc, . . .
1.2.4. 4. Tác dụng sinh học [18]
Alkaloid được hình thành từ các sản phẩm của quá trình trao đổi chất
như: trao đổi protein. Ở trong cây, alkaloid được coi như là chất dự trữ cho
tổng hợp protein, các chất bảo vệ cây, tham gia vào sự chuyển hoá hydro ở
các mức độ khác nhau, . . .
Alkaloid được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược, có rất nhiều
thuốc chữa bệnh được sử dụng trong y học là các alkaloid tự nhiên hoặc nhân
tạo, ví dụ như: atrophin, morphin, cocain,
1.2.5. Glycoside [6, 21]
Glycoside là hợp chất hydratcarbon có nhiều ở lá, hạt và vỏ cây. Chúng
là chất kết tinh, đôi khi có vị đắng. Glycoside có thể bị thủy phân bởi enzym
hay acid. Glycoside bao gồm phần đường và phần không đường gọi là
aglycon. Phần aglycon có kiểu là cardenolid và bufadienolid là steroid C
23

chuỗi bên vòng là α, β lacton 5 cạnh không no và một nhóm C
14
hydroxyl như
strophanthidin, oleandrigenin. Bufadienolid là steroid C
24
, chuỗi bên và vòng
- 22 -
lacton 6 cạnh, 2 lần không no và nhóm hydroxyl 14, hướng β hoặc nhóm

Với tiêu chuẩn này, chỉ số BMI được xem là cần phải can thiệp khi ≥
23 (kg/m
2
) và béo phì khi ≥ 25 (kg/m
2
). Đối với người trưởng thành Châu Âu,
chỉ số BMI cao hơn so với các vùng khác (bảng 1.1):
Bảng 1.1. Phân loại BMI của người trưởng thành Châu Âu và Châu Á
Theo Tạ Văn Bình, 2007 [1].
Mức độ thể
trọng
BMI Yếu tố nguy cơ mắc
bệnh
Châu Âu Châu Á
Nhẹ cân < 18,5 < 18,5 Thấp (nhưng tăng nguy
cơ bệnh lý khác).
Bình thường 18,5 – 24,9 18,5 – 22,9 Bình thường
Qúa cân ≥ 25 – 29,9 ≥ 23 Nguy cơ tăng cân
Béo phì độ I 30 – 34,9 > 23 – 24,9 Nguy cơ cao của bệnh
béo phì
Béo phì độ II 35 –39,9 25 – 29,9 Nguy cơ nặng của bệnh
béo phì
Béo phì độ III ≥ 40 > 30 Nguy cơ rất nặng của
bệnh béo phì
Béo phì (obesity) là tình trạng tăng khối lượng mỡ trong cơ thể quá
mức, dẫn đến cơ thể tăng trên 25% thể trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe. Dựa
vào nguyên nhân gây bệnh, người ta chia béo phì thành 2 loại là béo phì đơn
thuần và béo phì bệnh lý.
1.3.3. Thực trạng béo phì trên thế giới và Việt Nam [1]
Theo tổ chức Y tế thế giới, hiện nay số người bị béo phì trên thế giới đã

1.3.4.1. Béo phì là yếu tố nguy cơ cho bệnh tim mạch
- Bệnh tim: mỡ bọc lấy tim, làm tim khó co bóp. Mỡ cũng làm hẹp
mạch vành, cản trở máu đến nuôi tim, gây nhồi máu cơ tim.
- 25 -
- Bệnh tăng huyết áp: các nghiên cứu cho thấy ở Châu Âu tăng huyết áp
có tỉ lệ cao ở nhóm người có BMI trên 25, ở Châu Á là trên 23, ở Việt Nam
trên 22,6 đã liên quan đến tỷ lệ tăng huyết áp.
- Rối loạn lipid máu: béo phì làm tăng nồng độ triglycerid và LDL-
cholesterol, làm giảm nồng độ HDL- cholesterol trong máu nên người béo phì
dễ bị rối loạn lipid máu.
- Đột quỵ: người có có BMI lớn hơn 30 dễ bị tử vong do bệnh mạch
máu não. Nếu có thêm các yếu tố nguy cơ khác (tiểu đường typ 2, tăng huyết
áp, rối loạn lipid máu) thì đột quỵ có thể xảy ra với người có BMI thấp hơn.
1.3.4.2. Béo phì và đái tháo đường typ 2.
Béo phì toàn thân và béo bụng là yếu tố nguy cơ cho tiểu đường typ 2.
Phụ nữ béo phì có nguy cơ tiểu đường cao gấp 2,5 lần so với người bình
thường.
1.3.4.3. Giảm khả năng sinh sản ở phụ nữ
Ở người béo phì, có thể gặp rối loạn quá trình rụng trứng, hàng tháng
trứng không lớn và rụng được, chất lượng kém, rối loạn kinh nguyệt. Mỡ quá
nhiều lấp kín buồng trứng và gây vô kinh. Béo phì cũng dễ gây hội chứng đau
u nang, khó thụ tinh, dễ sảy thai. Khi bước vào tuổi mãn kinh phụ nữ dễ béo
bụng hơn.
1.3.4.4. Giảm chức năng hô hấp
Mỡ tích ở cơ hoành, làm cơ hoành kém uyển chuyển, sự thông khí giảm,
gây khó thở khiến não thiếu oxy, gây ra hội chứng Pickwick (ngủ cách quãng
suốt ngày đêm, lúc ngủ lúc tỉnh). Ngừng thở khi ngủ cũng là vấn đề hay gặp ở
người béo phì nặng, nhất là béo bụng và béo cổ.
1.3.4.5. Tăng nguy cơ viêm xương khớp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status