Nghiên cứu đặc tính hoá sinh dược của cây cam thảo đất (Scoparia dulcis L.) (LV00645) - Pdf 29

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Do sự phát triển của xã hội hiện nay kéo theo nhịp sống công nghiệp hiện
đại của con người, sự không phù hợp về thay đổi lối sống, các chế độ ăn uống
mất cân đối dinh dưỡng là nguyên nhân dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm như:
bệnh đái tháo đường (Diabetes mellitus), bệnh béo phì (Obesity), ung thư, tim
mạch. Trong đó đái tháo đường (ĐTĐ) là căn bệnh phát triển nhanh nhất hiện nay
của xã hội.
Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa gây tăng đường huyết
mãn tính do thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối của tuyến tụy, nếu không kiểm
soát tốt sau một thời gian tiến triển kéo dài có thể gây nhiều biến chứng nguy
hiểm. Bệnh có tính chất dân tộc, chủng tộc đã và đang trở thành vấn đề mang tính
xã hội, bởi sự bùng phát nhanh chóng, mức độ nguy hại đến sức khỏe, tốn kém
cho người bệnh và kinh tế cộng đồng.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): năm 1994, thế giới có 98.9 triệu người
mắc bệnh đái tháo đường, cuối năm 2002 có khoảng 177 triệu người, con số này
đã tăng lên 300 triệu người vào năm 2025. Riêng châu Á, số liệu công bố tại hội
nghị đái tháo đường quốc tế tổ chức vào tháng 12 năm 1997 tại Singapo: Năm
1995 châu Á có khoảng 62 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, cuối năm 2002 con số
này là 89 triệu người. Theo đánh giá của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế (IDF) năm 2005
số người mắc bệnh đái tháo đường tại châu Á tăng lên 1.7 lần.WHO đã cảnh báo
có thể xuất hiện đại dịch ĐTĐ ở châu Á vào thế kỷ 21 [4], [2].
Việt Nam, năm 1990 tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở Hà Nội là 1.2%, Huế là 0.96%
và thành phố Hồ Chí Minh là 2.5%, năm 2000 Viện Nội tiết Trung ương điều tra
tại khu vực nội thành Hà Nội tỷ lệ ĐTĐ là 4% dân số và 7% ở tuổi > 35 tuổi.
Cuộc điều tra do Viện Nội tiết tiến hành năm 2001 tại 4 thành phố Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh đã cho thấy tỷ lệ ĐTĐ trong độ
tuổi 30- 64 tuổi là 4.9% [4], [2].
Sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ người mắc bệnh làm cho ĐTĐ trở thành một
vấn đề lớn cho sức khỏe vì bệnh có tỷ lệ mắc, chết trầm trọng trong quá trình trị

đổi lipid của các phân đoạn dịch chiết từ lá cây cam thảo đất (Scoparia dulcis L.)
trên mô hình chuột ĐTĐ mô phỏng type 2. 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

mô mềm vỏ hình tròn hay bầu dục, xếp tạo những khuyết rất lớn. Nội bì khung
Caspary rõ. Trụ bì 1-2 lớp , một vài tế bào bị hóa mô cứng. Libe 2 tế bào bị ép
dẹp, vách uốn lượn. Gỗ 2 chiếm tâm. Mô mềm gỗ vách rất dày. Mạch gỗ kích
thước lớn, phân bố đều và nhiều hơn ở thân. Tia tủy 1-2 dãy tế bào. Thân: Vi
phẫu gần như vuông. Các mô gồm: biểu bì là 1 lớp tế bào xếp đều đặn, cutin có
răng cưa, mang lỗ khí và rải rác lông tiết chân đa bào hay đơn bào, đầu đa bào. Ở
thân già, 2-3 lớp bần xuất hiện ngay dưới lớp biểu bì. Mô dày góc tập trung ở 4
góc thân, ở cạnh rất ít, thỉnh thoảng gặp sợi trong mô dày. Ở thân già, mô dày ở 4
góc bị hóa mô cứng. Mô mềm vỏ là mô mềm khuyết, 3-6 lớp tế bào hình tròn hay
bầu dục, kích thước không đều. Nội bì khung Caspary rõ. Trụ bì 1-2 lớp tế bào,
hóa mô cứng riêng lẻ hay thành đám nhỏ. Libe 2-gỗ 2 thành vòng liên tục. Gỗ 1
phân bố đều. Mô mềm gỗ vách rất dày. Tia tủy 1-2 dãy tế bào, vách mỏng hơn
mô mềm gỗ. Mô mềm tủy hình tròn, kích thước không đều. Lá: Gân giữa: Lồi rõ
ở mặt dưới, mặt trên phẳng. Biểu bì trên và biểu bì dưới tế bào xếp không đều,
mang lông tiết chân đa bào và đơn bào, đầu đa bào. Biểu bì dưới mang lỗ khí.
Lớp cutin có răng cưa. Dưới biểu bì là 1-2 lớp mô dày góc. Mô mềm tế bào hình
cầu, kích thước không đều, xếp chừa những khuyết nhỏ. Các bó libe-gỗ xếp thành
hình vòng cung. Phiến lá: biểu bì trên tế bào lớn hơn biểu bì dưới, kích thước
6
không đều, nhiều tế bào nhô lên thành đỉnh nhọn tù. Lông tiết chân ngắn, đầu đa
bào và lỗ khí ở cả 2 biểu bì. Lớp cutin có răng cưa cạn. Mô mềm giậu gồm 1 lớp
tế bào kích thước không đều. Mô mềm khuyết tế bào vách mỏng, kích thước
không đều.
1.1.2. Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây Cam thảo đất
Phân bố, sinh học và sinh thái: Gốc ở nhiệt đới Châu Mỹ, được thuần hóa
trong tất cả các vùng nhiệt đới của thế giới. Ở nước ta, cây mọc khắp nơi từ Bắc
vào Nam. Thường gặp trên đất hoang, dọc bờ đường, trên các dải cát của các
sông và trong các ruộng khô, ở vùng thấp.
1.1.3. Thành phần hóa học
Cây chứa một alcaloid và một chất đắng; còn có nhiều acid silicic và một

triphenol (pyrogalol, oxyhydroquynol…).
 Nhóm hợp chất phenolic phức tạp: Trong thành phần cấu trúc phân tử
của chúng ngoài vòng thơm benzene (C
6
) chúng còn có dị vòng, mạch nhánh. Đại
diện nhóm này có axid cyamic, axid ceramic.
 Nhóm hợp chất phenolic đa vòng: Là nhóm đa dạng nhất trong các hợp
chất phenol, có cấu trúc phức tạp do sự liên kết hoặc trùng hợp của các đơn phân.
Ngoài gốc phenol còn có các nhóm phụ dị vòng mạch nhánh hoặc đa vòng.
Nhóm này có flavonoid, tannin và coumarin.
Hợp chất phenolic được hình thành một cách dễ dàng trong tất cả các cơ
quan thực vật từ những sản phẩm đường phân và chu trình pentose phosphate qua
acid sikimic hay theo con đường acetate manolate qua acetyl – SCoA. Trong số
các chất polyphenol tự nhiên, flavonoid là nhóm chất quan trọng nhất vì chúng
phổ biến ở hầu hết các loài thực vật và mang nhiều hoạt tính sinh dược học có giá
trị.
8
b. Flavonoid
Flavonoid là những sắc tố, phần lớn có màu vàng (flavus - nghĩa là màu
vàng). Tuy nhiên một số sắc tố khác như xanh, đỏ, tím,…hoặc không màu cũng
xếp vào nhóm flavonoid vì chúng có chung đặc điểm cấu tạo.
• Cấu tạo hóa học và phân loại
Về cấu tạo hóa học, khung cacbon của flavonoid là C
6
- C
3
- C
6
, gồm 15
nguyên tử cacbon, hai vòng benzene A và B nối với nhau qua dị vòng C, trong đó

các nhóm phụ sau: Flavon và flavonol, flavanol (đihidro flavon), chalcol, aurol,
leucoantoxianidin, catechin, isoflavonoid, rotenoid và neoflavonoid.
• Hoạt tính sinh học của flavonoid
* Tác dụng chống oxy hóa (antioxidant)
Flavonoid có khả năng kìm hãm các quá trình oxy hóa dây truyền gây ra
bởi các gốc tự do hoạt động. Tuy nhiên hoạt tính này mạnh hay yếu còn phụ
thuộc vào đặc điểm của từng flavonoid cụ thể.
Gốc tự do sinh ra trong quá trình sinh lý bình thường của cơ thể hay do tác
động bên ngoài là nguyên nhân gây phá hủy ADN, protein, lipid làm phát sinh
nhiều bệnh tật nguy hiểm và sự lão hóa cho cơ thể. Flavonoid có bản chất
polyphenol nên dễ dàng biến đổi dưới tác động của các enzyme có trong tế bào
động, thực vật. Đặc biệt flavonoid có nhóm hyđroxyl ở vị trí ortho dễ dàng bị oxy
hóa bởi xúc tác của enzyme polyphenoloxydase và peroxydase tạo semiquynol
hoặc quynol [27]. Đây là các gốc tự do bền vững chúng có thể nhận điện tử và trở
thành dạng hidroquynol. Bởi vậy các chất này có khả năng phản ứng với các gốc
9
tự do hoạt động và loại chúng ra khỏi cơ thể. Quá trình được tóm tắt qua sơ đồ
sau:

O
2
+ Flavonoid (khử) Flavonoid (oxy hoá)

(Hiđroquynol) (semiquynol hoặc quynol)

Ngoài ra flavonoid còn có tác dụng bảo vệ các hệ thống sinh học nhờ khả
năng tạo phức với các kim loại chuyển tiếp như Fe
+2
, Cu
+2

15
) là những flavonoid có hàm lượng cao trên
họ cam chanh (Rutaceae) đã được nhiều nhà nghiên cứu chiết xuất và thử tác
Polyphenoloxydase

P
eroxydase

Polyphenoloxyase
Peroxydase
10
dụng trên mô hình chuột béo phì cho kết quả tốt trong việc làm hạ các chỉ số lipid
máu [36], [40].
* Tác dụng hạ glucose huyết
O
O
OH
OH
OH
OH
OH

O
OH
OH
OH
CH
3
O
O

hợp chất vô định hình, có màu trắng, màu vàng nhạt hoặc gần như không màu, có
hoạt tính quang học, vị chát, dễ bị oxy hóa khi đun nóng hay khi để ngoài ánh
sáng.
Tác dụng sinh học của tannin là chất bảo vệ cây trồng trước sự tấn công
của vi sinh vật gây bệnh và côn trùng ăn lá [42], [50]. Trong y học, tannin được
sử dụng làm thuốc cầm máu, chữa đi ngoài, ngộ độc kim loại nặng, chữa trĩ, viêm
miệng, viêm xoang, điều trị cao huyết áp và đột quỵ [1].
11
OOH
OH
OH
OH
OH
O
OH
OH
O
H
OH
OH

Procyanidin Quebracho
d. Hợp chất coumarin
Coumarin là dẫn chất của α- purone có cấu trúc C
6
- C
3
dị vòng chứa oxy.
Coumarin kết tinh không màu hoặc màu vàng nhạt, vị đắng, cay, có mùi thơm
[31]. Tính chất hóa học đặc trưng là dễ dàng kết hợp với đường glucose tạo thành

3
CH
3
O
O
C affein

O
N H
H
O
H
OH
M orphine

N
N
CH
3
NicotinAlkaloid có tính kiềm yếu, do các mạch cacbon chứa nitơ quyết định.
Chúng có thể liên kết với kim loại nặng tạo phức và phản ứng với một số thuốc
thử đặc trưng như: Bouchardat (kết tủa màu nâu sẫm), Vans-Mayer (kết tủa trắng
ánh vàng) hay Dragendroff (màu da cam, nâu đỏ).
Loài người có lịch sử hơn 2000 năm nghiên cứu và sử dụng alkaloid. Cho
tới nay có hơn 12000 alkaloid khác nhau được phân lập. Chúng không phổ biến
trong tự nhiên mà chỉ tập trung ở một số loài thực vật có hoa (khoảng 20% loài
thực vật có hoa có khả năng sinh alkaloid). Với cây trồng alkaloid là chất hóa học

1.3.1. Khái niệm và phân loại béo phì
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa béo phì (Obesity) là tình trạng tích
lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng hay toàn bộ cơ thể gây ảnh
hưởng tới sức khỏe.
Để nhận định tình trạng béo gầy WHO thường dùng chỉ số khối cơ thể
(BMI- Body Mass Index). Chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức như sau: Trong đó: W: Khối lượng (kg )
H: Chiều cao (m )

Bảng 1.1. Phân loại BMI của người trưởng thành châu Âu và châu Á [4]
Mức độ thể trọng
Người trưởng thành
châu Âu
Người trưởng thành
châu Á
Nhẹ cân < 18.5 < 18.5
Bình th
ư
ờng

18.5
-

24.9

18.5
-


Chứng thừa cân và bệnh béo phì gây nhiều tác hại cho cuộc sống con
người như mất thoải mái trong sinh hoạt, giảm hiệu suất lao động, khối lượng cơ
thể nặng nề kém lanh lợi.
Người béo phì có nguy cơ bệnh tật cao hơn so với người thường do nhiễm
độc mỡ máu, tiêu biểu như:
 Bệnh tim mạch: Do mỡ tạng làm tim khó co bóp và mỡ máu làm xơ
cứng mạch vành và các mạch máu khác gây nhồi máu cơ tim tăng huyết áp.
15
 Rối loạn lipid máu: Tình trạng này rất hay gặp ở người béo bụng và có
biểu hiện đặc trưng là tăng triglycerid và lipid có hại (LDL-c), giảm lipid có lợi
(HDL-c).
 Tiểu đường: Béo phì toàn thân có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2.
 Đột quỵ: Những người có BMI > 30 dễ bị tử vong do bệnh liên quan
đến mạch máu não.
 Ngoài ra béo phì còn làm gia tăng nguy cơ của nhiều bệnh khác: xấu đi
tình trạng rối loạn tiền mãn kinh ở phụ nữ, suy giảm chức năng hô hấp, rối loạn
hoạt động cơ xương, ung thư, sỏi mật và các vấn đề bệnh lý tâm thần khác [1],
[38].
1.3.4. Nguyên nhân và giải pháp phòng, điều trị béo phì
Nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân béo phì là do khẩu phần và thói quen
dinh dưỡng không hợp lý, hoạt động thể lực kém dẫn đến năng lượng hấp thụ
vào cơ thể vượt quá mức cần thiết và tích lũy dưới dạng mỡ. Ngoài ra một số
bệnh lý nội tiết như: Hội chứng Cushing (do hormone cortisosteroid trong cơ
thể tăng quá cao), bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh trứng đa nang hoặc có
chứa gen béo phì di truyền.
Để phòng bệnh béo phì có hiệu quả, mỗi cá nhân cần nâng cao nhận thức
về dinh dưỡng và hoạt động thể lực. Trên phạm vi xã hội, việc phòng bệnh cần
tập trung vào nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh này.
Điều trị thừa cân béo phì dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa chế độ ăn uống,
luyện tập và dùng thuốc. Trong đó thuốc và phẫu thuật chỉ dùng trong trường hợp

nề nhất là dẫn đến tử vong hoặc tàn phế gọi là rối loạn chuyển hóa [4]. Ngày nay
người ta đã xem là có rối loạn lipid máu ngay từ khi tỉ lệ thành phần của lipid
máu có sự thay đổi. Khái niệm này chỉ rõ rối loạn lipid máu có thể xảy ra từ rất
sớm, ngay cả khi chưa có tăng các giá trị tuyệt đối nồng độ của các thành phần
trong máu [4]. Rối loạn này có thể tiên phát do di truyền hoặc thứ phát sau các
bệnh khác như: béo phì, đái tháo đường, nghiện rượu, suy giáp trạng. Fredrickson
căn cứ vào kĩ thuật điện di và siêu ly tâm với các thành phần huyết thanh đã phân
loại chứng tăng lipid máu thành 5 type dựa trên những thay đổi thành phần
lipoprotein. Cách phân loại này đã được WHO chính thức sử dụng vào năm 1970
[25]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh người mắc bệnh béo phì có nguy cơ cao
17
mắc các bệnh rối loạn lipid máu dẫn đến xơ vữa động mạch (liên quan chủ yếu
đến các lipoprotein) hoặc hiện tượng “nhiễm độc mỡ tế bào” [21], [25].
1.4. Bệnh đái tháo đường (Diabetes mellitus)
1.4.1. Khái niệm và phân loại
Danh từ đái tháo đường (Diabetes mellitus) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp
(Diabetes: nước chảy trong ống syphon) và tiếng Latinh (mellitus: ngọt) [65].
Khoảng 1550 năm trước công nguyên các thầy thuốc Hy Lạp đã mô tả bệnh này
với các triệu chứng ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, nước tiểu có đường và sút
cân nhanh [4]. PGS. TS Tạ Văn Bình định nghĩa đái tháo đường là một hội chứng
có đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu, do hậu quả của việc mất hoàn toàn
insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của
insulin. Bệnh ĐTĐ được xác định dựa vào những tiêu chí trong bảng 1.2 [4].
Bảng 1.2. Các tiêu chí để chuẩn đoán ĐTĐ theo WHO
Kết luận
Đường huyết
lúc đói
(mmol/l)
Đường huyết 2 giờ
sau khi làm nghiệm

18
 ĐTĐ type 2: Chiếm 80% - 90% bệnh nhân, có tính quy tụ gia đình và
hay gặp ở những người trên 30 tuổi. Hai yếu tố chính đóng vai trò quan trọng
trong cơ chế sinh ĐTĐ type 2 là khiếm khuyết chức năng tế bào β tuyến tụy và
tình trạng kháng insulin [4], [38]. Hai yếu tố này luôn có tác động qua lại với
nhau và không thể kết luận yếu tố nào xuất hiện trước. Kháng insulin có thể do
bất thường ở hậu thụ thể insulin, bất thường về số lượng receptor insulin hoặc ái
lực gắn hormon của insulin và cũng có thể do acid béo tự do tăng cao gián tiếp
làm ảnh hưởng quá trình truyền tin nội bào của insulin ở tế bào đích. Bởi vậy,
bệnh béo bệu là một trong những nguyên nhân môi trường được đề cập đến nhiều
nhất vì chính béo bệu làm gia tăng tình trạng kháng insulin [18].
Sinh bệnh học ĐTĐ type 2 diễn biến qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Mặc dù nồng độ glucose trong máu vẫn bình thường, nhưng
có hiện tượng kháng insulin vì insulin tăng cao hơn mức bình thường trong máu.
- Giai đoạn 2: Tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần do có hiện
tượng tăng glucose huyết sau ăn.
- Giai đoạn 3: Kháng insulin không đổi nhưng bài tiết insulin suy giảm gây
tăng glucose huyết lúc đói, bệnh ĐTĐ biểu hiện ra bên ngoài.
 Ngoài ra còn có ĐTĐ thai nghén và một số type ĐTĐ đặc biệt khác như
thiếu hụt chức năng tế bào β, thiếu hụt di truyền về tác động của insulin, bệnh tụy
ngoại tiết,
1.4.2. Thực trạng đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
Cùng với các bệnh không lây nhiễm khác bệnh ĐTĐ đang phát triển với
tốc độ nhanh chóng cùng sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Năm 1994, toàn thế
giới có 98,9 triệu người mắc ĐTĐ. Năm 1995 đã tăng lên 135 triệu người chiếm
4% dân số thế giới, cuối năm 2002 có khoảng 177 triệu người [2] . Dự đoán đến
năm 2010 có khoảng 222 triệu và năm 2025 có khảng 300 triệu bệnh nhân chiếm
5,4% dân số thế giới [2]. Đặc biệt ngày nay tỉ lệ người mắc bệnh ở châu Á đã
vượt xa châu Âu - nơi vẫn được xem là ổ bệnh [1]. Tại Tây Thái Bình Dương có
12 quốc gia có tỉ lệ ĐTĐ type 2 trên 8%, cá biệt có quốc đảo có tỉ lệ bệnh vượt

+ Thuốc làm tăng tính nhạy cảm của thụ thể với insulin như: Biguanid,
nhóm thiazolidinedion…
20
+ Các thuốc chống tăng glucose huyết sau bữa ăn: thuốc ức chế enzyme α-
glucosidase…
1.4.5. Chuyển hóa glucose và sự điều hòa glucose huyết
Glucose trong cơ thể có nguồn gốc chủ yếu từ thức ăn thông qua quá trình
tiêu hóa. Vào các thời điểm xa bữa ăn hoặc khi glucid thức ăn không đủ, cơ thể sẽ
huy động nguồn glucose thứ hai nhờ sự thoái hóa glycogen ở gan, cơ. Ngoài ra
glucose còn có được nhờ quá trình tân tạo glucose nhờ hệ thống enzyme đặc hiệu
riêng biệt (xảy ra ở gan, thận, ruột) từ pyruvat, lactat hay các sản phẩm trung gian
của chu trình Krebs.
Glucose sau khi được hấp thu hoặc tạo thành trong cơ thể sẽ tan trong máu
và được vận chuyển vào trong tế bào nhờ các protein vận chuyển. Cuối cùng
glucose sẽ thoái hóa để tạo năng lượng hay các sản phẩm trung gian thông qua
quá trình đường phân, chu trình pentose phosphat hay con đường tạo uronic và
ascorbic. Glucose dư thừa khi nhu cầu năng lượng của cơ thể thấp lại được
chuyển thành dạng glucid dự trữ là glycogen ở gan [29].
Để duy trì nồng độ glucose ổn định trong máu cơ thể phải huy động nhiều
cơ chế, có sự xúc tác của nhiều loại enzyme khác nhau nhằm cân bằng giữa
lượng glucose đi vào máu và lượng glucose được thu nạp bởi các tổ chức. Trong
đó quan trọng nhất là việc điều hòa quá trình tân tạo glucose và quá trình thoái
hóa glucose có sự tham gia của nhiều protein vận chuyển glucose qua màng tế
bào [19].
Glucose trong cơ thể được điều hòa ổn định bởi các hormon mà chủ yếu là
các hormon tuyến tụy nội tiết. Insulin là hormon tiết bởi các tế bào β của đảo tụy
Langerhans có tác dụng làm giảm glucose máu do làm tăng dự trữ glycogen ở
gan, cơ, ức chế quá trình tân tạo đường mới. Glucagon là hormon tiết bởi tế bào α
đảo tụy, có tác dụng ngược với insulin, nghĩa là làm tăng sự phân giải glycogen
và tăng tân tạo đường mới do đó giảm glucose huyết.

của rối loạn chuyển hóa lipid trong ĐTĐ là sự tăng triglycerid, giảm HDL-c và
LDL-c vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Tuy nhiên ở ĐTĐ type 1 rối loạn
tăng triglycerid sẽ mất đi khi kiểm soát được glucose máu khác với type 2,
rối loạn này có thể vẫn kéo dài mặc dù có sự điều trị giảm glucose máu thích
hợp. LDL-c của type 2 cũng có thể tăng nhẹ và xuất hiện nhiều LDL-c với
22
kích thước nhỏ và nặng hơn khi việc kiểm soát glucose kém. Đây chính là
yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh xơ vữa động mạch [21].
1.6. Phương pháp gây đái tháo đường thực nghiệm bằng STZ
Streptozotocin (STZ:2 – deoxy – 2 - (3 – metyl – 3 - nitrosoureido) – D -
glucopyranose) là chất có hoạt tính chống ung thư được chiết xuất từ nấm
Streptomyces achromogens. Khả năng gây ĐTĐ của STZ đã được phát hiện vào
năm 1963. Kể từ đó STZ được sử dụng rộng rãi trong mô hình động vật ĐTĐ
type 1 và type 2 phục vụ trong các nghiên cứu về thuốc [20], [47], [60]. Tùy vào liều lượng STZ và cách thức tiến hành người ta có thể gây ĐTĐ
type1 hay type 2.
ĐTĐ type 1: Với chuột cống trưởng thành, tiêm liều duy nhất từ 40 – 60
mg/kg thể trọng hoặc cao hơn. Với chuột nhắt trưởng thành, tiêm liều 100 –
150mg/kg thể trọng.
ĐTĐ type 2: Với chuột cống, tiêm STZ liều 100mg/kg vào ngày đầu tiên
sau khi sinh. Với chuột nhắt có thể nuôi với chế độ dinh dưỡng giàu lượng mỡ
sau đó tiêm STZ với liều 50 - 100mg/kg.

anion superoxyde (O
2
-
). Cuối cùng anion superoxyde sinh ra hydrogen peroxide
(H
2
O
2
) và gốc hydroxyl (OH
-
). Các dạng oxy phản ứng này cũng tập trung phá
hủy ADN và gây ra những thay đổi bất lợi cho tế bào. NO và các dạng oxy hoạt
động còn có thể tạo thành peroxynitrate (ONOO) có độc tính cao. Tổn thương
ADN gây ra bởi STZ làm tăng cường quá trình trùng hợp ADP (Poly ADP -
ribosylation) dẫn đến làm mất NAD
+
, xa hơn nó phá hủy ATP dự trữ và sau đó ức
chế sự tổng hợp và tiết insulin của tế bào β, [47].

Aconitase

MIT ATP
XOD
O
2
-

H
2
O
Hình 1.1. Cơ chế gây độc của STZ lên tế bào β của tụy đảo chuột
(MIT – Ty thể, XOD – xanthine oxidase) [47].
24
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Mẫu thực vật
Cây Cam thảo đất (Scoparia dulcis L). Được thu tại huyện Mê Linh - tỉnh
Vĩnh Phúc, do Bộ môn Thực vật học - Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2 phân loại.
. Thời gian thu mẫu: tháng 10/2010. Rửa sạch và tiến hành sấy khô ở 50
0
C
sau đó nghiền thành bột mịn.

Hình 2.1. Hình thái cây Cam thảo đất (Scoparia dulcis L).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status