Tom tat lv nga Nghiên cứu một số đặc tính hóa sinh dược của dịch chiết từ rễ củ cây Trạch tả (Alisma phantagoaquatica L.) - Pdf 24

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế nước nhà hiện nay đang có những bước chuyển
mình mạnh mẽ do đó đời sống vật chất và tinh thần của con người
ngày càng được nâng cao. Phát triển kinh tế kéo theo sự thay đổi lối
sống, giảm các hoạt động thể lực, mức sống cao với sự dồi dào về
thực phẩm gắn liền với tình trạng thừa cân – béo phì.
Béo phì là trạng thái thừa cân do tăng khối lượng mỡ. Nếu
mỡ thừa phân phối đều toàn thân, đó là trường hợp béo phì toàn thân.
Nếu mỡ thừa tập trung chủ yếu ở bụng, mông đùi, đó là béo phì
hướng tâm, rất nguy hiểm vì dễ dẫn đến rối loạn lipid máu [18].
Ngoài ra hiện tượng thừa cân và béo phì là nguyên nhân chính liên
quan đến các rối loạn về chuyển hoá, tăng huyết áp, tăng nguy cơ
mắc các bệnh đái tháo đường(ĐTĐ), tim mạch và các bệnh mãn tính
khác [28], [32].
ĐTĐ là một bệnh mãn tính, trong giai đoạn mới phát thường
làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước.
ĐTĐ là một trong những nguyên nhân chính của những căn bệnh
hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não,
bệnh về mắt, suy thận liệt dương, hoại thư,…gây ảnh hưởng lớn đến
sức khoẻ cộng đồng, cũng như kinh tế của quốc gia [5], [6].
Điều đáng lo ngại là ĐTĐ tăng nhanh ở các nước đang phát
triển. Cùng với ung thư và tim mạch, ĐTĐ là một trong 3 bệnh có tốc
độ phát triển nhanh chóng nhất. Hiện trên thế giới ước lượng có hơn
190 triệu người mắc bệnh tiểu đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước
tính năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu).
2
Theo WHO và liên đoàn ĐTĐ thế giới(IDF), Việt Nam là một trong
những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới( khoảng
8% -10%/ năm). So sánh giữa số liệu thống kê của năm 2002 và năm

Xuất phát từ thực tế, cùng với mong muốn góp phần vào
việc nghiên cứu, phát hiện thêm những đặc tính sinh dược học về
cây thuốc tự nhiên để dự phòng và chữa bệnh, chúng tôi chọn đề
tài: "Nghiên cứu một số đặc tính hóa sinh dược của dịch chiết từ
rễ củ cây Trạch tả (Alisma phantago-aquatica L.)".
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tác dụng của một số phân đoạn dịch chiết từ rễ
củ cây Trạch tả (Alisma phantago-aquatica L.) đến trọng lượng, chỉ số
lipid, nồng độ glucose huyết của chuột béo phì thực nghiệm .
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Tách, chiết các phân đoạn từ của rễ củ cây Trạch tả
(Alisma phantago-aquatica L.).
3.2. Khảo sát thành phần hoá học của rễ củ cây Trạch tả
(Alisma phantago-aquatica L.).
3.3. Xây dựng mô hình chuột béo phì thực nghiệm, chuột
ĐTĐ type 2.
3.4. Đánh giá tác dụng của các phân đoạn dịch chiết đến
trọng lượng, nồng độ glucose huyết và một số chỉ số lipid máu của
chuột béo phì thực nghiệm, trên mô hình chuột ĐTĐ mô phỏng type
2.
4
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Khảo sát thành phần hoá học của rễ củ cây Trạch tả (Alisma
phantago-aquatica L.) và nghiên cứu tác dụng của các phân đoạn
dịch chiết đến trọng lượng, nồng độ glucose huyết và một số chỉ số
lipid máu của chuột béo phì thực nghiệm, trên mô hình chuột ĐTĐ
mô phỏng type 2.
5. Đóng góp mới của luận văn
5.1. Cung cấp các dẫn liệu khoa học về thành phần hoá học
trong rễ củ cây Trạch tả.

sống
1.2. Bệnh béo phì (Obesity)
1.2.1. Khái niệm và phân loại bệnh béo phì
Bệnh béo phì (Obesity) được tổ chức y tế thế giới WHO định
nghĩa là: tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại
một vùng cơ thể hay toàn thân tới mức ảnh hưởng tới sức khỏe[28].
1.2.2. Thực trạng béo phì trên thế giới và Việt Nam
*Trên thế giới
Thừa cân – béo phì đang gia tăng trên toàn cầu, không những ở
người lớn mà cả ở trẻ em. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện
nay số người béo phì đã lên tới hơn 1.7 tỉ người [32], M• là nước có
số dân mắc bệnh cao nhất thế giới khoảng hơn 60 triệu người (chiếm
gần 35% dân số), tăng gấp 3 lần so với điều tra năm 1991. Ở Châu
6
Âu, Anh là quốc gia có số người thừa cân béo phì đứng thứ 2 trên thế
giới có hơn 20% số dân mắc bệnh.
*Ở Việt Nam
Năm 2007, Viện dinh dưỡng Quốc gia điều tra trên đối tượng
người trưởng thành 25-64 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân béo phì là
16.8% và còn có xu hướng tăng lên. Trẻ em Việt Nam cũng có 16.3%
mắc thừa cân béo phì [24]. Hà Nội có 4.9% trẻ 4-6 tuổi mắc bệnh,
Thành Phố Hồ Chí Minh 6% trẻ dưới 5 tuổi và 22.7% học sinh tiểu
học cũng mắc vào tình trạng này[6].
1.2.3. Nguyên nhân gây ra bệnh béo phì
1.2.4. Các tác hại và nguy cơ của bệnh béo phì
1.2.5. Rối loạn trao đổi lipid máu
Rối loạn lipid máu là tình trạng tăng cholesterol, triglycerides
(TG) huyết tương hoặc cả hai, hoặc giảm nồng độ lipoprotein phân tử
lượng cao, tăng nồng độ lipoprotein phân tử lượng thấp làm gia tăng
quá trình xơ vữa động mạch[18].

Ngọc Khuê - Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh - tỷ lệ ĐTĐ
trên toàn quốc là 5,7% dân số (theo kết quả điều tra năm 2012). Theo
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF), Việt
Nam là một trong những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất
thế giới (khoảng 8 - 10%/năm).
1.3.3. Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ
1.3.4. ĐTĐ với y học cổ truyền
1.4. Mối quan hệ giữa béo phì và ĐTĐ
* Mối quan hệ giữa béo phì và ĐTĐ
*Các biến chứng liên quan đến ĐTĐ và béo phì
8
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Mẫu thực vật
Trạch tả (Alisma phantago-aquatica L.) hay gọi là Mã đề nước, thuộc
chi Alisma, một chi nằm trong họ Trạch tả - Alismataceae.
2.1.2. Mẫu động vật
Chuột nhắt trắng Mus musculus (chủng Swiss) có trọng lượng 18-
20g .
2.1.3. Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm
*Dụng cụ
*Hóa chất
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Xử lý mẫu
2.2.2. Khảo sát thành phần các hợp chất tự nhiên có trong rễ củ
cây Trạch tả
2.2.2.1. Định tính một số nhóm hợp chất tự nhiên
*Định tính flavonoid
* Định tính tannin

Lô 7: Chuột béo phì-ĐTĐ, điều trị cao phân nước
Lô 8: Chuột béo phì-ĐTĐ, điều trị metformin
2.2.5. Thử độc tính cấp xác định LD
50
bằng đường uống
2.2.6. Phương pháp định lượng một số chỉ số hóa sinh( glucose,
lipid máu)
* Phương pháp định lượng glucose huyết.
*Tiến hành lấy mẫu thử nghiệm sau khi kết thúc đợt thí nghiệm
*Định lượng một số chỉ số lipid trong huyết thanh.
2.2.7. Phương pháp xử lý thống kê
10
Chương 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Quy trình tách chiết các phân đoạn từ rễ củ cây Trạch tả
(Alisma phantago-aquatica L.)
Từ 5000 gam rễ củ cây Trạch tả khô được ngâm kiệt 3 lần trong
ethanol 96% tinh khiết ở nhiệt độ phòng, lọc chiết 3 lần liên tiếp, loại
dung môi dưới áp suất giảm thu được tổng khối lượng mẫu cao cồn
tổng số là 298g. Giữ lại 50g dùng cho quá trình phân tích và điều trị
cho chuột (chiếm 16,78% tổng khối lượng cao cồn tổng số), khối
lượng cao cồn còn lại (248g) dùng để tách chiết qua các dung môi
hữu cơ có độ phân cực tăng dần: n-hexan, chloroform, ethylacetate
theo quy trình chiết rút trên. Cụ thể là hòa tan cao cồn tổng số vào
nước ấm rồi chiết, lọc 3 lần qua dung môi n-hexan tỷ lệ 1:1 theo thể
tích. Thu phân lớp n-hexan cô loại bỏ dung môi được 97g cao phân
đoạn n-hexan. Phân lớp nước còn lại hòa tan với CHCl
3
tỷ lệ 1:1 theo
thể tích(cũng chiết , lọc 3 lần), thu phân lớp CHCl

các phân đoạn dịch chiết rễ củ cây Trạch tả
3.2.1. Định tính một số hợp chất tự nhiên có trong rễ củ cây Trạch
tả
Chúng tôi tiến hành thử định tính bằng các phản ứng hóa học
đặc trưng. Kết quả được trình bày trong bảng 3.2.
Bảng 3.2 .Bảng kết quả định tính một số hợp chất tự nhiên
trong các phân đoạn dịch chiết từ rễ củ cây Trạch tả
Nhóm chất Thuốc thử
Mẫu
EtOH n-hexan CHCl
3
EtOAc

nước
Flavonoid
Shinoda +++ +++ + + +
Diazo ++ ++ + + -
H
2
SO
4
đặc +++ +++ - + +
Tannin
Vanilin/HCl(đ) + + + - -
Vanilin +++ +++ + + +
Gelatin/NaCl ++ + + ++ +
Acetat chì +++ +++ +
Polyphenol
khác
NaOH 10% +++ ++ -

phun đều trên bản mỏng. là cho kết quả rõ nét nhất và được chúng tôi
lựa chọn là dung môi phù hợp.
Màu sắc các băng vạch gồm các màu chủ yếu như: Màu vàng
(flavonoid), màu tím (tecpen), màu xanh (tanin) chứng tỏ trong các
phân đoạn dịch chiết từ rễ củ cây Trạch tả chứa thành phần các hợp
chất tự nhiên khá phong phú. Đây là cơ sở bước đầu cho phép chúng
ta tiếp tục khảo sát các tác dụng của các hoạt chất có trong rễ củ cây
Trạch tả lên trọng lượng, nồng độ đường huyết và chỉ số lipid trên
chuột, béo phì và ĐTĐ
13
3.3. Định lượng polyphenol tổng số theo phương pháp Folin-
Ciocalteau
Đường chuẩn gallic acid được xây dựng bằng cách chuẩn bị các
dung dịch gallic acid ở các nồng độ 0; 50; 100; 250; 500; 1000mg/l,
tiến hành so màu trên máy quang phổ UV VIS 1000 ở bước sóng
λ=760nm. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3.4: Kết quả xây dựng đường chuẩn gallic acid
STT Acid gallic (mg/l) OD 760nm
1 0 0,031
2 50 0,069
3 100 0,101
4 250 0,238
5 500 0,506
6 1000 1,073
Định lượng polyphenol của dịch chiết các phân đoạn bằng
phương pháp Folin-Ciocalteau. Dịch chiết mẫu cho phản ứng với
thuốc thử Folin-Ciacalteau tạo ra sản phẩm có màu xanh lam. So màu
trên máy quang phổ UV VIS 1000 ở bước sóng λ = 760nm, dùng
chất chuẩn là gallic acid để tính lượng polyphenol. Kết quả được
trình bày ở bảng 3.5.

3.5. Kết quả tạo mô hình chuột béo phì thực nghiệm và mô hình
ĐTĐ type 2
3.5.1. Kết quả tạo mô hình chuột béo phì thực nghiệm
Bảng 3.7. Trọng lượng trung bình (tính theo gam)
Nhóm
chuột
Ban
đầu
Trọng lượng trung bình của các lô chuột
sau mỗi tuần
Tỷ lệ %
(sau 6
tuần so
với ban
đầu)
Tuần
1
Tuần
2
Tuần
3
Tuần
4
Tuần
5
Tuần
6
Nhóm
ăn
thường

± 1,79
189,25%
15
(**) (*) (*) (*) (*) (*) (*)
của hai nhóm chuột nuôi bằng hai chế độ dinh dưỡng khác nhau.
(Số liệu trong bảng là giá trị trung bình của các lô với sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa nhóm ăn béo so với nhóm ăn thường: (*) : p <
0,05; (**) : p > 0,05)
Sau 6 tuần nuôi, chuột nuôi với thức ăn thường trọng lượng cơ thể
chỉ tăng thêm 16,81g ứng với 92,10% so với ban đầu, trong khi chuột
nuôi với thức ăn có hàm lượng lipid và cholesterol cao trọng lượng cơ
thể tăng thêm 36,25g ứng với 189,98% so với ban đầu. Như vậy, chuột
ăn thức ăn có hàm lượng lipid và cholesterol cao đã tăng trọng hơn so
với chuột ăn thức ăn thường là 19,44 g hay gấp 2,15 lần. Đây là kết quả
khả quan, phù hợp với thực nghiệm nuôi béo phì dòng chuột nhắt trắng
chủng Swiss
Bảng 3.8. So sánh một số chỉ số hóa sinh máu giữa
nhóm chuột ăn thường và nhóm chuột ăn béo thực nghiệm.
Chỉ số
(mmol/l)
Nhóm ăn
thường
Nhóm ăn
béo
Sự thay đổi %
của nhóm ăn
béo
Cholesterol tổng (TC)
3,46 ± 0,18 5,42* ± 0,24 ↑56,65%
Triglycerid (TG)

pH 4,5), chúng tôi đã thành công trong việc gây ĐTĐ type 2 thực
nghiệm.
Bảng 3.9. Nồng độ glucose huyết lúc đói của các lô chuột thí nghiệm
trước và sau khi tiêm STZ 72 giờ
Các lô chuột
Nồng độ glucose huyết (mmol/l)
Trước khi tiêm Sau khi tiêm 72h
Chuột thường tiêm đệm 6,18 ± 0,21 6,62 ± 0,38(*)
Chuột thường tiêm STZ
(110mg/kg)
6,20 ± 0,34 8,20 ± 0,25(**)
Chuột béo phì tiêm đệm 8,35 ± 0,36 8,66 ± 0,45(*)
17
Chuột béo phì tiêm STZ
(110mg/kg)
8,74 ± 0,42 22,52 ± 1.25(**)
(Ghi chú: (*)với p=0,109; 0,752 > 0,05. (**) với p < 0,05)
Kết quả ở bảng 3.9 cho thấy rằng ở chuột thường tiêm STZ thì
nồng độ glucose huyết thay đổi rất ít. Điều này có thể do chuột ăn
thức ăn chuẩn có thể tự điều chỉnh nồng độ glucose huyết nhờ lượng
insulin tiết ra điều hoà lượng glucose huyết.
Trong khi đó chuột béo phì tiêm STZ sau 72 giờ có sự thay đổi
nồng độ glucose huyết lớn (tăng từ 8,74 mmol/l lên tới 22,52
mmol/l). Nồng độ glucose huyết tăng cao chứng tỏ: những rối loạn về
chuyển hóa lipid rất dễ dẫn đến rối loạn về chuyển hóa gluxit. Kết
quả là chúng tôi đã có được lô chuột với nồng độ glucose huyết cao
hơn 18 mmol/l chứng tỏ chúng bị ĐTĐ. Kết quả thu được phù hợp
với nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Liên và cộng sự (2006), Phùng
Thanh Hương, Trần Thị Chi Mai và nhiều nghiên cứu khác khi tiến
hành gây ĐTĐ bằng STZ trên mô hình chuột béo, đều có glucose

M
0
: Trọng lượng (g) chuột trước khi điều trị
M
21
: Trọng lượng (g) chuột sau 21 ngày điều trị
Từ kết quả bảng 3.10 chúng tôi nhận thấy với lô chuột ăn thức
ăn thường và lô chuột ĐTĐ type 2 không điều trị mà chỉ cho uống
nước thì trọng lượng cơ thể sau 21 ngày vẫn tăng lên. Ở lô ăn thức ăn
thường tăng 7,5%, lô ĐTĐ type 2 không điều trị tăng 13,10%. Còn
đối với các lô chuột ĐTĐ type 2 có trọng lượng cơ thể khá cao nhưng
sau khi chúng được điều trị bằng cách cho uống các dịch chiết từ các
phân đoạn rễ củ cây Trạch tả với liều dùng là 2000mg/kg thể trọng
thì kết quả thu được cho thấy trọng lượng cơ thể chuột sau 21 ngày
điều trị đã có xu hướng giảm xuống. Cụ thể là: lô chuột uống
Metformin giảm 5,61%, lô chuột uống cao phân đoạn CHCl
3
giảm
6,51%, lô chuột uống cao phân đoạn EtOAc giảm 5,77%, lô uống n-
hexan giảm khá cao 8,14%, lô uống cao phân đoạn EtOH cho kết quả
giảm trọng lượng cơ thể chuột mạnh nhất 9,62% còn lô uống cao
phân đoạn nước giảm thấp nhất 2,70%.
Từ số liệu trên ta có thể nhận xét: Trong các dịch chiết từ rễ củ
cây Trạch tả đều có khả năng làm giảm trọng lượng cơ thể chuột ở
các mức độ khác nhau. Trong đó, chuột ĐTĐ type 2 uống EtOH là
19
cho kết quả giảm lớn nhất, rồi đến lô chuột uống n-hexan. Giảm ít
nhất là lô chuột uống phân đoạn nước sau 21 ngày điều trị.
3.6.2. Tác dụng hạ glucose huyết trên mô hình chuột ĐTĐ type 2
Bảng 3.11. Kết quả nồng độ glucose huyết lúc đói của các lô chuột

Lô 2
(Không ĐT)
22,34
± 3,70
23,07
± 1,38
24,18
± 1,30
25,02
± 1,42
↑ 11,99 %
Lô 3
( EtOH)
21,58
± 3,28
18,08*
± 1,46
14,55*
± 2,06
11,19*
± 1,32
↓ 48,15 %
Lô 4
(n-hexan)
23,19
± 2,63
19,67*
± 2,60
15,54*
± 2,14

± 1,71
17,72*
± 1,84
16,47*
± 1,25
↓ 27,57 %
Lô 8
(Metf)
21,98
± 2,88
16,49*
± 2,16
13,66*
± 2,79
9,19*
± 1,47
↓ 58,19 %
Ở lô chuột thường uống nước cất nồng độ glucose huyết hầu như
không thay đổi nhiều (p > 0,05). Tuy nhiên ở lô chuột ĐTĐ type 2
20
không điều trị nồng độ glucose đã có sự tăng từ 22,34 mmol/l ở ngày
thứ 0 điều trị lên 25,02 mmol/l ở ngày thứ 21 điều trị (tăng tương ứng
11,99% so với trước khi ĐT), hiện tượng này cho thấy là chuột ĐTĐ
type 2 không được điều trị thì hàm lượng đường huyết ngày càng tăng
chính là biểu hiện của bệnh ĐTĐ thực sự ngày một nghiêm trọng hơn.
Cao phân đoạn EtOH và n- hexan cho thấy có tác dụng giảm mạnh
nhất với nồng độ glucose huyết sau 21 ngày điều trị lần lượt là: (11,19
mmol/l (giảm tương ứng 48,15% so với trước ĐT) và 11,87 mmol/l
(giảm tương ứng 48,81% so với trước ĐT), với mức ý nghĩa (p< 0,05)).
Tiếp theo là cao phân đoạn EtOAc giảm từ 23,08mmol/l xuống

lên một số chỉ số lipid ở chuột ĐTĐ type 2 sau điều trị 21 ngày
p
< 0,05 khi so sánh với chuột điều trị.
Lô điều trị bằng EtOH hàm lượng cholesterol giảm từ 5,42
mmol/l xuống 4,23mmol/l (tương ứng giảm 21,95% so với trước khi
Chỉ số
hóa sinh
(mmol/l)
Trước ĐT
Sau 21 ngày điều trị
Cao PĐ
EtOH
Cao PĐ
n-hexan
TC
5,42 ±0,24 4,23 ± 0,20 4,56 ± 0,19
↓ 21,95 % ↓ 15,87 %
TG
2,81 ± 0,20 1,45 ± 0,24 1,67 ± 0,18
↓ 48,40 % ↓ 40,57 %
HDL-c
0,85 ± 0,18 2,16 ± 0,21 2,03 ± 0,28
↑ 154,12 % ↑ 138,83 %
LDL-c
1,09 ± 0,24 0,72 ± 0,38 0,81 ± 0,23
↓ 33,94 % ↓ 25,69 %
22
điều trị), tỷ lệ này giảm mạnh hơn so với lô điều trị bằng cao phân
đoạn n-hexan (giảm 15,87% so với trước khi điều trị). Hàm lượng
triglycerid ở lô điều trị EtOH giảm 48,40% mạnh hơn so với lô điều

Từ các kết quả nghiên cứu trong quá trình thực nghiệm,
chúng tôi rút ra những kết luận sau:
1. Thành phần các hợp chất thứ sinh trong dịch chiết từ rễ củ
cây Trạch tả khá phong phú, bao gồm: Flavonoid, alkaloid,
glycoside và tanin.
2. Tác dụng giảm trọng lượng cơ thể của một số phân đoạn
dịch chiết sau 21 ngày điều trị là rất rõ rệt. Lô uống cao phân đoạn
EtOH cho kết quả giảm trọng lượng cơ thể chuột mạnh nhất 9,62%,
các lô điều trị bằng phân đoạn n-hexan, CHCl
3
, EtOAc giảm lần lượt
là 8,14%; 6,51%; 5,77% còn lô uống cao phân đoạn nước giảm thấp
nhất 2,70% so với trọng lượng cơ thể trước điều trị.
3. Một số phân đoạn dịch chiết từ rễ củ cây Trạch tả có khả
năng hạ đường huyết trên mô hình chuột ĐTĐ type 2: Hàm lượng
glucose huyết của lô chuột uống phân đoạn cao EtOH tổng số giảm
48,15%; lô chuột uống cao n-hexan giảm 48,81%; lô chuột uống cao
phân đoạn EtOAc nồng độ glucose huyết giảm 39,43% và lô chuột
uống cao CHCl
3
giảm 37,41% lô uống cao phân đoạn nước giảm thấp
nhất 27,57% so với lô nuôi thường. Kết quả điều trị cho thấy lô chuột
uống phân đoạn n-hexan và EtOH có tác dụng hạ đường huyết tốt
nhất.
24
4. Tác dụng chống rối loạn trao đổi lipid được thể hiện ở hàm
lượng cholesterol, triglycerid, LDL-c của lô chuột uống phân đoạn
EtOH lần lượt giảm 21,95 %; 48,40 %; 33,94 % còn đối với lô chuột
uống cao phân đoạn n-hexan lần lượt giảm 15,87 %; 40,57 %; 25,69
% so với trước khi điều trị. Trong khi đó chỉ số HDL-c ở cả 2 lô uống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status