I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGUYN VN NGUYấN Tờn ti:
Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rác thải
sinh hoạt tại trờng Đại học Nông Lâm Thái nguyên
khóa luận tốt nghiệp đại học H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Khoa hc Mụi trng
Khoa : Ti nguyờn & Mụi trng
Khoỏ hc : 2009-2013
Ging viờn hng dn : TS. Phan Th Thu Hng Thỏi Nguyờn, nm 2013 LỜI CẢM ƠN
Đươc sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn TS. Phan Thị Thu
Hằng và các cán bộ UBND phường Túc Duyên - TP. Thái Nguyên trong thời
gian thưc tập từ ngày 20/2/2013 - 01/05/2013 em đã hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp với đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rác
thải sinh hoạt tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên ”.
Để có đươc kết quả này em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các
thầy cô giáo các bộ môn trong khoa Tài Nguyên và Môi trường, cung như các
thầy cô giáo trong các bộ môn liên quan trong nhà trường đã nhiệt tình dạy dỗ
em trong suốt 4 năm học qua. Trong thời gian học tập tại trường em đã tích
lũy được rất nhiều kiến thức chuyên môn, xã hội và nhân văn, do các thầy cô
truyền đạt lại. Những kiến thức đó đã góp phần rất lớn vào công việc thực tập
cuối khóa của em để có kết quả như hôm nay.
Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn tới cô giáo TS. Phan Thị Thu Hằng đã
quan tâm giúp đỡ, vạch kế hoạch hướng dẫn em hoàn thành một cách tốt nhất
khóa luận tốt nghiệp trong thời gian qua.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ
UBND phường Túc Duyên - TP. Thái nguyên đã nhiệt tịnh giúp dỡ, tạo điều
kiên tốt nhất trong suốt thời gian thực tập tại Phường.
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của
trọng điểm của trường 36
Bảng 4.5. Số lượt xe cơ giới phục vụ công tác vận chuyển rác thải sinh hoạt
tại trường Nông Lâm. 37
Bảng 4.6. Đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên trường Đại học Nông Lâm
về rác thải sinh hoạt. 37
Bảng 4.7 .Đánh giá nhận thức của sinh viên trong trường về việc phân loại rác
thải. 38
Bảng 4.8. Tỷ lệ sinh viên trong trường biết cách phân loại rác thải. 38
Bảng 4.9. Việc phân loại rác thải của sinh viên trước khi đi đổ rác. 39
Bảng 4.10. Cách thức thu gom rác thải sinh hoạt của sinh viên trong trường. 39
Bảng 4.11. Đánh giá ý thức của sinh viên về việc thu gom rác của sinh viên
trong trường hiện nay. 40
Bảng 4.12. Đánh giá nguyên nhân không phân loại rác của sinh viên trường
Đại học Nông Lâm 41 Bảng 4.13. Điều tra đánh giá ý thức tìm hiểu các chương trình bảo vệ môi
trường, vấn đề rác thải sinh hoạt qua các nguồn 41
Bảng 4.14. Đánh giá phản ứng của sinh viên khi nhìn thấy người khác đổ rác
mà không phân loại 42
Bảng 4.15. Đánh giá về các chương trình giữ gìn vệ sinh môi trường hiện nay
của trường. 43
Bảng 4.16. Đánh giá ý thức tham gia tuyên truyền hay đi nghe những buổi tập
huấn tuyên truyền về rác thải sinh hoạt. 43
Bảng 4.17. Đánh giá mật độ tổ chức những buổi tập huấn tuyên truyền về rác
thải sinh hoạt của trường. 44
Bảng 4.18. Đánh giá ý thức tham gia dọn vệ sinh khu vực mình sinh sống của
sinh viên trong trường. 45
Bảng 4.19. Đánh giá mức độ tham tham gia dọn vệ sinh khu vực mình sinh
sống của sinh viên trong trường. 45
COD : (Chemical Oxygen Demand) Nhu cầu oxy hóa học
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.3. Mục đích của đề tài. 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Khái niệm về chất thải 4
2.1.2. Khái niệm về rác thải sinh hoạt 4
2.1.3. Khái niệm về quản lý rác thải sinh hoạt 4
2.1.4. Nguồn gốc phát sinh chất thải sinh hoạt. 5
2.1.5. Thành phần rác thải sinh hoạt 6
2.1.6. Phân loại rác thải sinh hoạt 6
2.1.7. Tốc độ phát sinh chất thải thải sinh hoạt 9
2.2. Ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt 9
2.2.1. Ô nhiễm môi trường không khí 9
2.2.2. Ô nhiễm môi trường đất 10
2.2.3. Ô nhiễm môi trường nước 11
2.2.4. Tác hại của rác thải sinh hoạt lên mỹ quan đô thị và sức khoẻ con người 12
2.3. Cơ sở pháp lý 13
2.4. Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới và ở Việt Nam 14
nhà trường. 46
4.5.1. Các mặt đã đạt được 46
4.5.2. Hạn chế 46
4.6. Các giải pháp đề xuất trong quản lý rác thải sinh hoạt tại trường Đại
học nông lâm Thái Nguyên 47
4.6.1. Giải pháp về quy hoạch về thu gom rác, xử lý rác 47
4.6.2. Nâng cao nhận thức về quản lý rác thải sinh hoạt 48
4.6.3. Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ 49
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
5.1. Kết luận 52
5.2. Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ trong công cuộc công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước đã đem lại bộ mặt thật sự khởi sắc. Đặc biệt sau khi chính
thức trở thành thành viên của WTO thì đất nước ta đã chính tỏ được khả năng phát
triển và hòa mình vào xu thế đi lên của toàn cầu, tuy nhiên mặt trái của sự phát triển
là môi trường sinh thái bị hủy hoại, hàng loạt các vấn đề về môi trường bức xúc nảy
sinh. Ở nước ta, trong những năm gần đây chính phủ rất coi trọng việc bảo vệ môi
trường. Hiện nay việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị đang là vấn
đề nan giải gây khó khăn đối với nhiều địa phương trong cả nước. Với khối lượng
phát sinh lớn nhưng tỷ lệ thu gom còn hạn chế, chất thải rắn sinh ra chưa được thu
gom và xử lý triệt để là nguồn gây ô nhiễm cả ba môi trường: đất, nước và không
khí. Tại các bãi đổ rác, nước rò rỉ và khí bãi rác là mối đe dọa đối với nguồn nước
lý rác thải còn nhiều bất cập, đang ở giai đoạn thí điểm; chưa thu hút được sự
tham gia của các đơn vị tư nhân trong quản lý chất thải rắn; các dự án đầu tư
quản lý chất thải rắn nông thôn chưa được quan tâm đúng mức; ý thức bảo vệ
môi trường thấp kém.
Đại học Thái Nguyên là một Đại học vùng, đa cấp, đa ngành và là một
Đại học trọng điểm của Việt Nam. Đại học Thái Nguyên có 8 trường Đại học
thành viên và 2 khoa trực thuộc, 5 trung tâm, 3 viện nghiên cứu. Là một trong
số 5 đại học theo mô hình đại học hai cấp, đại học được giao trọng trách. Là
trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh, các trường đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn, đồng thời thực hiện nhiệm
vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, góp phần quan trọng trong
việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng trung du, miền núi phía Bắc - vùng có
nhiều đồng bào các dân tộc sinh sống. Hàng năm, Đại học Thái Nguyên tuyển
sinh hàng chục nghìn sinh viên hệ chính quy và không chính quy, đồng thời
cũng "cho ra lò" hàng vạn sinh viên có trình độ đại học và trên đại học ra
phục vụ xã hội. Với quy mô lớn như vậy lượng rác thải hàng ngày của các
trường Đại học Thái Nguyên chiếm tỷ rất cao trong toàn thành phố Thái
Nguyên và cần có những giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt phù hợp tại các
trường đảm bảo môi trường sống tại đây.
Để đánh giá đúng thực trạng rác thải tại các trường học, dưới sự hướng
dẫn của TS. Phan Thị Thu Hằng, tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Đánh
giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt tại
trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng công tác quản quản lý rác thải sinh hoạt của
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. 3
hoạt và bảo vệ môi trường. 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Khái niệm về chất thải
- Luật môi trường Việt Nam đã đưa ra định nghĩa tại Khoản 10 Điều 3
Luật Bảo vệ Môi Trường năm 2005 như sau: “ chất thải là chất ở thể rắn,
lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
- Chất thải là toàn bộ các loại vất chất được con người loại bỏ trong các
hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt đồng sản xuất hoạt
động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…) trong đó quan trọng nhất là
các loại rác thải sinh ra từ hoạt động sản xuất và hoạt động sống.
2.1.2. Khái niệm về rác thải sinh hoạt
Có rất nhiều định nghĩa rác thải sinh hoạt được đưa ra. Một số khái
niệm sau đây là minh chứng cho thấy tính đa dạng trong định nghĩa về rác
thải sinh hoạt:
Rác thải là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động
sản xuất của con người và động vật. Rác thải đô thị bao gồm các loại rác thải phát
sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, các công trình xây dựng,
khu xử lý chất thải…, trong đó, rác thải sinh hoạt sinh ra từ các hộ gia đình thường
được gọi là rác sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất.
Theo Nguyễn Văn An (2005) [1], RTSH (hay chất thải rắn sinh hoạt) được
định nghĩa: Là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được sinh ra từ mọi người và mọi nơi
như: gia đình, trường học, chợ, nơi mua bán, nơi công cộng, nơi vui chơi giải trí,
cơ sở y tế, cơ sở sản xuất kinh doanh, bến xe, bến đò.
Theo Nguyễn Văn An (2005) [1], RTSH là chất thải do con người thải ra sau
Nhà riêng, nhà tập thể, nhà
cao tầng, khu tập thể…
Rác thực phẩm, giấy thải,
các loại chất thải khác
Thương mại
Nhà hàng, khách sạn, nhà
nghỉ, các cơ sở buôn bán,
sửa chữa…
Rác thực phẩm, giấy thải,
các loại chất thải khác
Công nghiệp, xây dựng
Từ các nhà máy, xí nghiệp,
các công trình xây dựng…
Rác thực phẩm, xỉ than,
giấy thải, vải, đồ nhựa,
chất thải độc hại
Khu trống
Công viên, đường phố, xa
lộ, sân chơi, bãi tắm, khu
giải trí…
Các loại chất thải bình
thường
Nhờ việc đánh giá, tìm hiểu các nguồn phát sinh ra chất thải sinh hoạt,
góp phần cho việc ứng dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật giảm thiểu ảnh
hưởng của chất thải sinh hoạt đến môi trường không khí. 6
2.1.5. Thành phần rác thải sinh hoạt
7
2.1.6.1. Phân loại theo phương pháp xử lý.
Bảng 2.3. Phân loại rác thải sinh hoạt theo công nghệ xử lý
Loại Nguồn gốc Ví dụ
1. Các chất cháy
được
( Rác hữu cơ)
- Các vật liệu làm từ giấy
- Có nguồn gốc từ các sợi
- Các chất thải ra từ đồ ăn thực
phẩm
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ gỗ, rơm, tre…
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ chất dẻo
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ da và cao su
- Các túi giấy, các mảnh bìa,
giấy vệ sinh…
- Vải len, tì tải, bao bì nilon…
- Các cọng rau, vỏ quả, thân
cây, lõi ngô…
- Đồ dùng bằng gỗ như bàn,
ghế, thang, giường, đồ chơi,
vỏ dừa…
- Phim cuộn, túi chất dẻo,
chai, lọ dẻo, dây bện, bao bì
nilon…
- Bóng, giày, ví, cao su…
2.1.6.2. Phân loại theo quan điểm thông thường
- Rác thải thực phẩm: Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa,
rau, quả… loại chất thải này mang bản chất dễ bị thiêu hủy tạo ra các chất có 8
mùi khó chịu, đặc biệt trong thời tiết nóng ẩm. ngoài các loại thức ăn dư thừa
từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp tập thể, các nhà hàng, khách sạn
ký túc xá chợ…
- Rác rưởi bao gồm các loại chất cháy được và chất không cháy được
sinh ra từ các hộ gia đình, công sở, hoạt động thương mại, các chất cháy
được như giấy carton, plastic, vải, cao su, và các chất không cháy được như
thủy tinh, vỏ hộp kim loại,
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác: bao gồm các loại vật liệu sau khi
đốt cháy, các sản phẩm đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác
trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than.
- Các chất thải xây dựng: là các phế thải như cát, gạch ngói, bê tông vỡ
do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình chất thải xây dựng bao gồm:
+ Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng.
+ Đất đá do việc đào móng trong xây dựng.
+ Các loại vật liệu như kim loại chất dẻo.
+ Các chất thải từ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước
thiên nhiên, nước thải sinh hoạt, bùn căn từ các cống thoát nước.
- Chất thải rắn công nghiệp: Là các chất thải phát sinh từ các hoạt đống
sản xuất công nghiệp, các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm:
+ Các phế thải vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ
trong các nhà máy nhiệt điện.
+ Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất.
+ Các phế thải trong quá trình công nghệ.
giống như phương pháp xác định tổng lương rác. Người ta sử dụng một số loại
phân tích sau để phân tích lương rác thải ra ở một số khu vực đó là:
+ Đo khối lượng.
+ Dựa tên các đơn vị thu gom rác ( ví dụ thùng chứa rác).
+ Phương pháp xác định tỷ lệ rác thải.
+ Tính chất cân bằng vật chất.
2.2. Ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt
2.2.1. Ô nhiễm môi trường không khí
Các chất thải rắn một phần có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô
nhiễm không khí. Cũng có thể có những chất thải có khả năng phát tán vào
không khí gây ô nhiễm không khí trực tiếp, cũng có loại rác dễ phân hủy
(thực phẩm, trái cây hư hỏng…) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp
(nhiệt độ tốt nhất là 35
0
C và độ ẩm thích hợp là 70 - 80%) sẽ được các vi sinh
vật phân hủy tạo mùi hôi, nhiều loại khí ô nhiễm có tác động xấu đến môi
trường đô thị, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người. 10
- Khí thoát ra từ các hố hoặc các chất làm phân, chất thải chôn lấp rác
chứa CH
4
, H
2
S, CO
2
, NH
3
, các khí độc hại hữu cơ
Nitơ Cacbonic Mêtan Khí khác
1 0 - 3 5,2 88 0,5 1,8
2 3 - 6 3,8 76 15 5,2
3 6 - 12 0,4 65 29 13,6
4 12 - 18 1,1 52 40 6,9
5 18 - 24 0,4 53 45 1,6
6 24 - 32 0,2 50 48 1,8
7 30 - 36 1,3 46 51 1,7
8 36 - 42 0,9 50 47 2,1
9 42 - 48 0,4 51 48 0,6
( Nguồn: URENCO - 2002)
2.2.2. Ô nhiễm môi trường đất
- Đất bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân chủ yếu sau:
+ Do thải vào đất một khối lượng lớn chất thải công nghiệp như xỉ
than, khai khoáng, hóa chất… Các chất ô nhiễm không khí lắng đọng trên bề
mặt sẽ gây ô nhiễm đất, tác động đến các hệ sinh thái đất.
+ Do thải ra mặt đất những rác thải sinh hoạt, các chất thải của quá
trình xử lý nước. 11
+ Do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm
bệnh ký sinh trùng, vi khuẩn đường ruột… đã gây ra các bệnh truyền từ đất
cho cây sau đó sang người và động vật…
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất công
nghiệp,
nông
nghiệp khi đưa vào môi trường đất sẽ làm thay đổi thành phần cấp hạt,
tăng độ chặt, giảm tính thấm nước, giảm lượng mùn, làm mất cân bằng dinh
dưỡng làm cho đất bị chai cứng không còn khả năng sản xuất.Tóm lại rác
12
- Các chất gây ô nhiễm trong rò rỉ gồm các chất được hình thành trong
quá trình phân hủy sinh học, hóa học, … nhìn trung mức độ ô nhiễm chất rò rỉ
rất cao (COD: từ 3000 - 45000mg/l; từ 10 - 800 mg/l; BOD
5
: từ 2000 -
30000mg/l; TOC (cacbon hữu cơ tổng hợp): 1500 - 20000mg/l; phospho tổng
cộng; 1 - 70mg/l;…và lượng lớn các vi sinh vật)
- Đối với bãi rác thông thường (lớp bãi rác không lớp chống thấm, sụt
lún hoặc lớp chống thấm bị thấm…) các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu vào nước
ngầm gây ô nhiễm cho nguồn nước ngầm và sẽ rất nguy hiểm cho con người
khi sử dụng tầng nước này phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt. Ngoài ra chúng
còn rỏ rỉ ra bên ngoài bãi rác gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
- Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng lên men
acid humic và acid fulvic có thể tạo phức với Feralit, Pb, Cu, Cd, Mn, Zn…
hoạt động của các vi khuẩn kị khí khử sắt có hóa trị 3 thành Feralit có hóa trị
2 sẽ kéo theo sự hòa tan các kim loại như: Ni, Cd, Pb, Zn. Vì vậy khi kiểm
soát chất lượng nước ngầm trong khu vực bãi rác phải kiểm tra xác định nồng
độ kim loại nặng trong thành phần nước ngầm.
- Ngoài ra nước rò rỉ chứa các hợp chất hữu cơ độc hại: Chất hữu cơ bị
halogen hóa, các hyrocacbon đa vòng thơm chúng có thể gây đột biến gen,
gây ung thư. Các chất này nếu thấm vào tầng nước ngầm hoặc nước mặt sẽ
xâm nhập vào chuỗi thức ăn gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe
tính mạng của con người ở hiện tại và cả thế hệ con cháu mai sau.
- Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước
làm lạnh tro xỉ, nước làm sạch khí của các lò thiêu làm ô nhiễm nước ngầm.
- Nước chảy tràn khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, nước
- Luật BVMT, 2005 ban hành ngày 29/11/2005 có hiệu lực ngày
01/07/2006.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật BVMT, 2005.
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 về xử lý
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm
2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết va hướng dẫn thi hành một số
điều của luật bảo vệ môi trường.
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTCP ngày 21/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về
thu gom và quản lý chất thải rắn đã ghi: “Khuyến khích 100% đô thị thực hiện công
tác xã hội hóa công tác quản lý, xử lý chất thải rắn thông qua cơ chế đặt hàng hay
đấu thầu dịch vụ trên cơ sở đảm bảo và an ninh môi trường’’ 14
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí
BVMT đối với chất thải.
- Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 18/1/2007 của Chính phủ về sửa
đổi bổ sung một số điều của nghị định số 67/2003.
- Nghị định 174/2007/NĐ-CP phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
rắn ngày 29 tháng 11 năm 2007 Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với
chất thải rắn; mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi
trường đối với chất thải rắn.
- Nghị định 59/2007/NĐ-CP Quản lý chất thải rắn ngày 09 tháng 04
năm 2007 quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể liên quan đến chất thải rắn.
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 25/12/2006 của Bộ Tài
Nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại.
ngân sách hàng năm. Cơ sở hạ tầng tiêu hủy an toàn rác thải thường rất thiếu
thốn. Khoảng 30 - 60% rác thải đô thị không được cung cấp dịch vụ thu gom.
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải
mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn
minh, dân cư ở mỗi khu vực. Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng
chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng
nhiều. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB,2004) [12], tại các thành
phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8kg/người/ngày,
Singapore, Hồng Kông là 0,8 - 10 kg/người/ngày.
Bảng 2.5. Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước
Tên nước
Dân số đô thị hiện nay
(% tổng số)
LPSCTRĐT hiện nay
(kg/người/ngày)
Nước thu nhập thấp 15,92 0,40
Nepal
13,70 0,50
Bangladesh 18,30 0,49
Việt Nam 20,80 0,55
Ấn Độ 26,80 0,46
Nước thu nhập trung bình 40,80 0,79
Indonesia 35,40 0,76
Philippines 54,00 0,52
Thái Lan 20,00 1,10
Malaysia 53,70 0,81
Nước có thu nhập cao 86,3 1,39
Hàn Quốc 81,30 1,59
Singapore 100,00 1,10
Nh
về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là
thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý
giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường
xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn
gốc vô cơ. Trong thành phần các loại sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4%
và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7%. Như vậy rác thải sinh hoạt các loại ở 17
Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không
phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%) (Lê Văn
Nhương, 2001) [13].
Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các vật liệu, nguyên liệu hay
nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại
các vật liệu thành phần. Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý hỗn
hợp mà phải xử lý theo phương pháp nhất định. Chính phủ có thể yêu cầu các
nhà chế tạo và nhập khẩu không sử dụng các vật liệu tận dụng để bảo vệ môi
trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó. Tuy nhiên cần phải
tham khảo và thương lượng để có sự nhất trí cao của các tổ chức, nghiệp đoàn
khi áp dụng các yêu cầu này.
Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế
giới. Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom,
vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc
làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn. Rác thải ở Singapore được thu
gom và phân loại bằng túi nilon. Các chất thải có thể tái chế được, được đưa
về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác
để thiêu hủy. Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử
lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư
nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại. Tất cả các công ty
này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp