ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN BÁ NINH
Tên đề tài:
"ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GCNQSDĐ TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ TỨC TRANH HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2011- 2013”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2012 - 2014
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Dương Thị Thanh Hà
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan trọng của mỗi sinh viên trong quá
trình học tập. Qua đó giúp cho mỗi sinh viên củng cố lại kiến thức đã học
trong nhà trường và ứng dụng trong thực tế, đồng thời nâng cao trình độ
chuyên môn, năng lực công tác có thể vững vàng khi ra trường.
Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa
Quản Lý Tài Nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em đã tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất trên địa bàn xã Tức Tranh - Huyện Phú Lương - Thái Nguyên
giai đoạn 2011 - 2013”.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ban giám hiệu, ban chủ nhiệm
Quản Lý Tài Nguyên cùng các thầy cô giáo đã giảng dạy cho em trong suốt
quá trình học tập. Đặc biệt là cô giáo Th S. Dương Thị Thanh Hà, cô đã trực
tiếp hướng dẫn để em hoàn thành khoá luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ UBND xã Tức Tranh đã nhiệt tình
chỉ bảo, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em làm quen với thực tế và hoàn thành bản
báo cáo tốt nghiệp này.
Em xin cảm ơn tất cả bạn bè, người thân và gia đình đã giúp đỡ em
trong suốt quá trình nghiên cứu khoá luận.
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khoá luận của
em không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong muốn nhận được những ý
TT-TCĐC : Thông tư - Tổng cục Địa chính
UBND : Uỷ ban nhân dân
V/v : Về việc
VPĐK : Văn phòng đăng ký
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai thì công việc cần
thiết đầu tiên là phải hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (GCNQSDĐ). GCNQSDĐ là chứng từ pháp lý xác nhận mối
quan hệ hợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng đất. Đây là yếu tố quan
trọng góp phần vào việc nắm chắc quỹ đất đai của từng địa phương, giúp cho
việc quy hoạch sử dụng hợp lý từng loại đất tạo điều kiện nâng cao hiệu quả
sản xuất.
Trên thực tế việc cấp GCNQSDĐ ở nước ta từng bước tạo cơ sở pháp lý,
giúp người sử dụng đất thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, yên tâm đầu tư
sản xuất phát huy tốt tiềm năng của đất và sử dụng đạt hiểu quả kinh tế cao nhất.
Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện công tác cấp GCNQSDĐ còn
chậm và không đồng đều, ở những vùng khác nhau thì tiến độ thực hiện cũng
khác nhau. Một số địa phương đã cơ bản hoàn thành nhưng một số địa
phương vẫn còn chậm và chưa đáp ứng kịp xây dựng và đổi mới đất nước.
Vì vậy để khắc phục những tồn tại đó thì việc làm cần thiết là thực hiện
tốt công tác quản lý cấp GCNQSDĐ, quy chủ cho các thửa đất để quản lý và
sử dụng đất đai có hiệu quả và theo đúng quy định của pháp luật.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường,
- Các số liệu điều tra phải chính xác, phản ánh trung thực khách quan.
- Kiến nghị và đề xuất đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với thực
trạng và điều kiện của địa phương.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.1.1. Khái niệm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo Khoản 20 Điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định: “ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là giấy do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người
sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng” [4].
Như vậy, GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp
pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất. Quá trình tổ chức và thực hiện
việc cấp GCNQSDĐ là quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ để giải quyết
mọi quan hệ về đất đai. Thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất người
sử dụng đất sẽ yên tâm đầu tư và cải tạo sử dụng đất có hiệu quả cao nhất trên
diện tích đất được Nhà nước giao cho.
2.1.2. Vai trò của công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ
2.1.2.1. Đối với người sử dụng đất
- Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính Phủ quy định về việc
giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
vào mục đích lâm nghiệp.
- Nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính Phủ về việc đăng ký
đất đai cấp GCN sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị.
- Nghị định số 85/1999/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của bản
quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối
cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài.
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho
tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài.
- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/01/2000 của Chính phủ quy
định về điều kiện được cấp xét và không được cấp GCNQSDĐ.
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/02/2004 của Chính phủ về
hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003.
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định về việc bổ sung cấp GCNQSDĐ,
thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
5
- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 quy định về cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Để đạt được hiệu quả toàn diện hơn nữa trong quản lý đất đai đến từng
thửa đất và từng chủ sử dụng đất thì một yếu tố không thể thiếu được là công
tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ. Đảng và nhà nước ta đã có sự quan
tâm, chỉ đạo đúng đắn về công tác trên thể hiện ở các văn bản:
- Quyết định số 499/QĐ-ĐC ngày 27/01/1995 của Tổng cục địa chính
quy định mẫu sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp GCNQSDĐ, sổ theo dõi biến
động đất đai.
- Thông tư số 364/1998/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của Tổng cục địa
chính hướng dẫn về thủ tục Đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ.
Đưa ra các biện pháp nhằm quản lý đất đai phù hợp.
- Yêu cầu:
Chấp hành đầy đủ các chính sách đất đai của Nhà nước, theo quy trình,
quy phạm hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Thực hiện mọi thủ tục pháp lý cần thiết trong quá trình đăng ký cấp
GCNQSDĐ và đảm bảo sự đầy đủ chính xác theo hiện trạng được giao.
- Đối tượng:
Mọi tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia
đình, cá nhân (bao gồm cả trong nước và nước ngoài) đều được Nhà nước
giao đất ổn định lâu dài hoặc thuê đất của Nhà nước (gọi là người sử dụng
đất) đều được kê khai ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ. Tất cả đều phải đăng ký đất
đai tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo tên tổ chức khi
người đại diện tổ chức đó đi kê khai đăng ký đất đai được Nhà nước có
thẩm quyền cho phép. Đối với hộ gia đình, cá nhân thì cấp cho chủ sử
dụng đất.
- Điều kiện cấp GCNQSDĐ:
Điều 49 Luật Đất đai 2003 quy định [4]:
Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho những trường hợp sau đây:
1. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất
nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
2. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến
trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp GCNQSDĐ.
7
3. Người đang sử dụng đất theo quy định tại điều 50 của Luật này mà
chưa được cấp GCNQSDĐ.
4. Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận
tặng cho, người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo
lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ, tổ chức sử dụng đất là pháp nhân
mới được hình thành do góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
cho người sử dụng đất, một bản lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì
GCNQSDĐ phải ghi cả họ tên vợ và họ tên chồng.
Trường hợp đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng thì
GCNQSDĐ được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức đồng
quyền sử dụng.
Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng dân cư
thì GCNQSDĐ được cấp cho cộng đồng dân cư và trao cho người đại diện
hợp pháp của cộng đồng dân cư đó.
Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cơ sở tôn giáo thì
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho cơ sở tôn giáo và trao cho
người có trách nhiệm cao nhất của cơ sở tôn giáo đó.
4. Trường hợp người sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ, giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị thì không phải đổi
GCNQSDĐ đó sang GCNQSDĐ theo quy định của Luật Đất đai 2003 khi
chuyển quyền sử dụng đất thì người nhận quyền sử dụng đất đó được cấp
GCNQSDĐ theo quy định tại luật Luật Đất đai năm 2003.
2.2.4. Trình tự, thủ tục hành chính cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất tại xã, thị trấn.
Điều 135 Nghị định 181/2004 NĐ-CP quy định [1]:
Hộ gia đình, cá nhân nộp tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất (01)
bộ hồ sơ gồm có:
- Đơn xin cấp GCNQSDĐ.
- Một trong các loại giấy tờ (nếu có) về quyền sử dụng đất quy định tại
khản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai.
- Văn bản uỷ quyền xin cấp GCNQSDĐ (nếu có).
Việc cấp GCNQSDĐ được quy định như sau:
a) UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thẩm tra, xác nhận vào
đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất
9
thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và 7 huyện: Phú Lương, Đại Từ,
Định Hóa, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình và Phổ Yên.
10
Tổng diện tích tự nhiên trên toàn tỉnh vào khoảng 354.156 ha, trong đó
theo số lệu thống kê năm 2012 thì diện tích đất nông nghiệp có khoảng
265.386,65 ha, đất phi nông nghiệp vào khoảng 88.769,35 ha.
Phần lớn các xã, phường của tỉnh Thái Nguyên đã được đo vẽ và lập
bản đồ địa chính chính quy, do vậy việc đăng ký và cấp GCNQSDĐ cho các
tổ chức cá nhân đều dựa chủ yếu vào bản đồ địa chính thành lập và đo vẽ năm
1995 có độ chính xác đáng tin cậy, số ít trường hợp cấp theo bản đồ 299 được
đo vẽ năm 1989 có độ chính xác không cao.
Thực hiện chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 09/02/2004 của Thủ tướng Chính
phủ, chỉ thị số 19/2004/CT-UB ngày 29/10/2004 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về việc đẩy nhanh công tác đăng ký, cấp GCNQSDĐ tính đến nay
công tác này đã cơ bản được hoàn thành.
Trong những năm qua, công tác tài nguyên và môi trường được đặc biệt
quan tâm và chú trọng, trong đó công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói
chung, công tác cấp GCNQSDĐ cũng là một trọng tâm lớn, thu hút được sự
quan tâm của các vị lãnh đạo tỉnh Ủy, UBND tỉnh, HĐND tỉnh, các ban,
ngành, đoàn thể, các tổ chức và cá nhân sử dụng đất trong toàn tỉnh.
Kể từ khi Luật Đất đai 2003 ra đời và có hiệu lực thi hành, công tác
tuyên truyền, phổ biến và thực thi pháp luật về đất đai không ngừng được đẩy
mạnh, thực hiện xuyên suốt đến tận cơ sở, 100% các xã phường có tủ sách
pháp luật. Công tác cải cách thủ tục hành chính được coi trọng và được xem
như là chìa khóa quan trọng giải quyết các vướng mắc và tồn tại trong công
tác quản lý Nhà nước về đất đai, trong đó có công tác cấp GCNQSDĐ. Với
việc ra đời của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đai thí điểm tại UBND
thành phố Thái Nguyên cuối năm 2006 đầu năm 2007 là một minh chứng cụ
thể. Mọi công việc liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường khi qua
văn phòng “một cửa” này đều được giải quyết nhanh chóng, chính xác, rút
lớn cho các địa bàn trọng điểm: thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công,
huyện Phổ Yên, v.v Cùng với việc đôn đốc các cấp, các ngành, các địa
phương đẩy mạnh công tác cấp GCNQSDĐ, để đạt mục tiêu kế hoạch đề ra,
tỉnh Thái Nguyên cũng yêu cầu cá nhân lãnh đạo các ngành chức năng phải
chịu trách nhiệm trước tỉnh về kết quả cấp GCNQSDĐ cho các tổ chức,
doanh nghiệp, các nông lâm trường, ban quản lý rừng; đồng thời ưu tiên kinh
phí cho công tác đo đạc, chỉnh lý bản đồ phục vụ công tác cấp GCNQSDĐ
năm 2013 [15].
12
Hiện nay, công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã
có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc
cần giải quyết kịp thời để đảm bảo tiến độ cấp GCNQSDĐ như: hệ thống bản
đồ không đồng bộ; các huyện Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Đồng Hỷ có diện
tích đất lâm nghiệp lớn nhưng chưa đo đạc bản đồ địa chính đất lâm nghiệp
mà mới đo bản đồ đất rừng dẫn tới việc đo bao nhiều thửa đất, nhiều loại đất
khác nhau; việc xác định vị trí, số liệu quy hoạch 3 loại rừng chưa chính xác,
thiếu đồng bộ, không rõ vị trí ranh giới; đội ngũ cán bộ văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất cấp huyện còn thiếu, hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ
dẫn tới việc hướng dẫn chủ sử dụng đất kê khai cấp GCN còn nhiều sai sót.
Trong thời gian tới, UBND tỉnh yêu cầu ngành Tài nguyên và Môi
trường cần phải có tầm nhìn chiến lược, đảm bảo tính lâu dài trong việc lập
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; công khai việc cấp GCNQSDĐ cho nhân
dân trên các phương tiện thông tin đại chúng; làm tốt công tác bồi dưỡng cán
bộ chuyên môn về cả mặt đạo đức lẫn khả năng nghiệp vụ chuyên môn.
2.3.2. Tình hình công tác cấp GCNQSDĐ của huyện Phú Lương
Theo báo cáo của huyện Phú Lương, đến thời điểm hiện tại, 16/16 xã,
thị trấn của huyện đã hoàn thành việc đo đạc, lập bản đồ địa chính chính
quy. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cơ bản
hoàn thành. Đặc biệt, từ năm 2011, sau khi phương án “Đẩy nhanh tiến độ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính chính quy”
14
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã Tức Tranh, huyện
phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trên địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong giai
đoạn 2011 - 2013.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: UBND xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian: Từ ngày 24 tháng 2 năm 2014 đến ngày 24 tháng 5 năm 2014.
tập. Trên cơ sở đó tổng hợp các số liệu theo các chỉ tiêu nhất định để khái
quát kết quả cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã Tức Tranh giai đoạn 2011 -
2013. Tổng hợp phân tích các số liệu trên máy tính bằng các phần mềm
Word, Excel
16
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã
4.1.1. Điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên
4.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Xã Tức Tranh là một xã có vị trí thuộc phía Đông của huyện Phú
Lương thuộc tỉnh Thái Nguyên, nằm cách trung tâm huyện khoảng 9,0km,
giáp ranh với xã là các đơn vị hành chính khác trực thuộc huyện.
Trong đó cụ thể là:
+Phía Bắc giáp xã Yên Lạc.
+Phía Nam giáp xã Vô Tranh.
+Phía Đông giáp xã Phú Đô.
+Phía Tây giáp xã Phấn Mễ.
Với vị trí địa lý là trung tâm của các xã lân cận như Phú Đô, Vô
Tranh là những xã có cùng đặc điểm về khí hậu và sản xuất nông nghiệp. Bên
cạnh đó với địa hình có nhiều sông suối, phía Đông Nam giáp với sông Cầu
cho nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Kết hợp với có không gian tự
C, thấp nhất là tháng
1 có nhiệt độ là 15,6
0
C. Số giờ nắng trung bình 1 năm là 1.628 giờ, năng
lượng bức xạ khoảng 115 kcal/cm
2
.
Lượng mưa trung bình từ 2.000mm đến 2.100 mm/năm. Từ tháng 4 đến
tháng 10 mưa nhiều, chiếm trên 90% lượng mưa trong năm. Tháng 7 có lượng
mưa lớn nhất (Bình quân từ 410 đến 420mm/tháng) và có số ngày mưa nhiều
nhất từ 17 đến 18 ngày/tháng. Tháng 11 và tháng 12 ít mưa, lượng mưa trung
bình chỉ từ 24 đến 25mm/tháng và mỗi tháng chỉ có khoảng 8 đến 10 ngày mưa.
Năm 1960 có lượng mưa cao nhất (3.008,3mm), năm 1985 có lượng mưa thấp
nhất (977mm). Lượng bốc hơi trung bình hàng năm khoảng 985,5mm, mùa lạnh
lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa, độ ẩm (k) dưới 0,5 nên thường xuyên sảy ra
khô hạn. (Trích nguồn: Cổng TTĐT tỉnh Thái Nguyên).
* Thủy văn
Do địa hình có nhiều đồi núi dốc, và nằm phân bố rải rác trên khắp địa
bàn của xã, kết hợp với lượng mưa lớn và tập chung cho nên đã tạo cho Tức
Tranh một hệ thống sông suối khá dày đặc. Có tốc độ dòng chảy lớn và lưu
lượng nước thay đổi theo từng mùa. Mùa khô nước cạn, mùa mưa dễ gây lũ
lụt cục bộ ở các vùng ven suối. Tuy nhiên phía Đông Nam của xã tiếp giáp
với sông cầu, cho nên có thể kết hợp với các hệ thống sông suối nhỏ trên địa
bàn để tiêu lũ nếu như có biện pháp khai thông và quản lý tốt hệ thống thoát
nước trên địa bàn.
* Địa chất
Khu vực xã Tức Tranh hiện tại chưa có khoan thăm dò địa chất công
trình và thuỷ văn. Do vậy khi đầu tư xây dựng công trình lớn cần tiến hành
khoan thăm dò địa chất để có phương án sử lý nền móng công trình.
* Các nguồn tài nguyên
Đất lâm nghiệp 892,33ha, công tác trồng và bảo vệ rừng được tập trung chỉ
đạo. Trong 5 năm qua diện tích trồng rừng mới là 233ha.
- Chăn nuôi:
Chăn nuôi phát triển khá, năm 2005 sản lượng thịt hơi là 297 tấn, đến 2009
tăng lên 514 tấn. Thực hiện đề án phát triển trang trại, nhiều hộ đã tập trung
19
chăn nuôi theo hướng phát triển mô hình trang trại vừa và nhỏ đã đem lại hiệu
quả cao. Giá trị thu nhập từ các mô hình trang trại đạt từ 30 đến 100 triệu
đồng/ năm.
- Nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản:
Tổng diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản của toàn xã là 41,89 ha, giá trị
đem lại từ thuỷ sản cũng đạt ở mức độ cao. Tuy nhiên chưa được khai thác
triệt để, đầu tư chưa tập trung, mô hình nhỏ lẻ. Chưa phát huy sự gắn kết giữa
nuôi trồng thuỷ sản với thuỷ lợi trong sản xuất nông nghiệp.
* Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Giá trị sản xuất CN-TTCN năm 2005 là 15 tỷ đồng, năm 2009 đạt 23,5
tỷ đồng, tăng 56%. Toàn xã có 11 cơ sở sản xuất và chế biến gia công, được
tập trung vào các ngành nghề: Cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến chè, chế
biến gỗ….Tính cho đến nay trên địa bàn xã đã có 4 doanh nghiệp được thành
lập.
* Thương mại dịch vụ
- Chợ xã đã được đầu tư xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu
thông hàng hoá đưa các sản phẩm của địa phương ra thi trường. Tuy nhiên
cần đầu tư nâng cấp hơn nữa, tỷ lệ ngày giao dịch trong tháng vẫn còn ít chưa
bảo đảm sự lưu thông hàng hoá. HTX công-nông-thương nghiệp của xã hoạt
động chưa hiệu quả. Nhu cầu đáp ứng dịch vụ cho nhân dân địa phương chưa
cao.
4.1.2.2. Văn hóa xã hội
* Dân số
Dân số toàn xã Tức Tranh năm 2013 là 8766 người với 2282(hộ), bình
18 Xóm Thác Dài 71 275
19 Xóm Gốc Gạo 100 398
20 Xóm Gốc Cọ 79 371
21 Xóm Đồng Lường 96 385
22 Xóm Đồng Tâm 175 594
23 Xóm Đồng Tiến 119 474
24 Xóm Gốc Mít 56 272
(Trích nguồn: UBND xã Tức Tranh)
* Lao động
Số người lao động trong độ tuổi năm 2013 là 5,283 người. Trong đó số
lao động trong các ngành nghề Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 71,9%, số còn
lại là lao động trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng, tiểu thủ
công nghiệp và trong các cơ quan quản lý hành chính sự nghiệp. 21
* Dân tộc
Trên địa bàn xã hiện đang tập trung nhiều dân tộc anh em bao gồm: Kinh,
Sán Chí, Mông… Mỗi dân tộc có 1 truyền thống và lối sống riêng. Trong đó tỷ
lệ dân tộc thiểu số chiếm khoảng 30% đến 40% tổng dân số toàn xã.
* Văn hóa
Do trên địa bàn xã tập trung nhiều dân tộc cho nên nền văn hoá rất đa
dạng, các loại hình văn hoá ở đây hầu như vẫn còn được gìn giữ. Trong đó
các loại hình văn hoá tiêu biểu nhất bao gồm: Văn hoá làng nghề, văn hoá
truyền thống như Hát Ví, Múa Tắc Xình…
- Làng nghề trồng và sản xuất chè sạch ở xóm Thác Dài, xã Tức Tranh,
huyện Phú Lương. Đây là nơi diễn ra các hoạt động văn hoá lễ hội của địa
phương, và là nơi triển khai thực hiện mô hình trồng và sản xuất chè sạch theo
dạng sản xuất cổ truyền của địa phương.