Nghiên cứu một số cây thuốc dân gian của cộng đồng người Tày tại xã Quang Thuận - huyện Bạch Thông - tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HỨA VIẾT HUÂN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CÂY THUỐC DÂN GIAN
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY TẠI XÃ QUANG THUẬN
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠNCHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Lớp : K9 - LT LN
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2012 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đàm Văn Vinh

Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN


Em xin chân thành cảm ơn!
Bắc Kạn, ngày tháng năm 2014
Sinh viên Hứa Viết Huân
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT STT

Viết tắt

Giải thích
1 UBND Uỷ Ban Nhân Dân
2 KT-XH Kinh Tế - Xã Hội
3 CT Cây Thuốc
4 BT Bài Thuốc
5 YHCT Y Học Cổ Truyền
6 YHHĐ Y Học Hiện Đại


3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu 18
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 18
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 19
3.1.3 Cơ sở hạ tầng của xã Quang thuận 21
3.1.4 Tình hình văn hóa – y tế của xã 22
3.2. Kết quả nghiên cứu các bài thuốc của cộng đồng
người Tày tại xã Quang Thuận 24
3.2.1 Các bài thuốc theo nhóm bệnh của cộng đồng người Tày 24
3.2.2 Nhóm bài thuốc chữa bệnh xương khớp 25
3.2.3 Nhóm bài thuốc chữa bệnh đường hô hấp 27
3.2.4 Nhóm bài thuốc chữa bệnh cho phụ nữ 29
3.2.5 Nhóm bài thuốc chữa đau bụng tiêu chảy, kiết lỵ, thương hàn 31
3.2.6 Nhóm bài thuốc bồi bổ sức khỏe, an thần, trị mất ngủ 33
3.2.7 Nhóm bài thuốc chữa mụn nhọt, đau răng, thanh nhiệt, tiêu viêm 35
3.2.8 Nhóm bài thuốc chữa sốt, hạ nhiệt 37
3.2.9 Nhóm các bài thuốc chữa bệnh khác do các loài rắn hay ong,rết cắn 38
3.3. Danh mục các cây thuốc phát hiện được tại cộng đồng. 39
3.4. Đặc điểm hình thái và phân bố của các loài cây thuốc tại xã Quang Thuận 41
3.5. Lựa chọn các loài thuốc quan trọng để nhân rộng và bảo tồn. 58
PHẦN 4. KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 61
4.1. Kết luận 61
4.2. Tồn tại 62
4.3. Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 DANH MỤC CÁC BẢNG

cung cấp cho lĩnh vực dược học… Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên
thực vật giàu có bậc nhất Đông Nam Á, là nơi tập trung nhiều cây thuốc quý
hiếm, với 54 dân tộc sinh sống và họ có truyền thống lâu đời trong việc sử
dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có tài nguyên cây thuốc.
Xã Quang Thuận,huyện Bạch Thông,tỉnh Bắc Kạn là một xã miền núi
có các dân tộc thiểu số sinh sống như: Tày, Nùng,Dao đời sống của họ còn
gặp nhiều khó khăn, cuộc sống của họ còn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài
nguyên thiên nhiên trong đó có rừng. Rừng là cái nôi sản sinh ra họ, cung cấp
cho họ các loài cây cho thực phẩm, các loài cây có thể tạo ra các sản phẩm
như gỗ, cây làm thuốc, … Đặc biệt trước đây khi sống gần với tự nhiên như
vậy, cộng đồng dân tộc nơi đây đã có những kinh nghiệm, những kiến thức
quý báu trong việc sử dụng các loại cây rừng để tạo nên các bài thuốc phòng
và chữa trị các bệnh tật hàng ngày mà họ gặp phải, không cần sử dụng các
loại thuốc tây y. Ngày nay giao thông đi lại thuận tiện, sự giao lưu của cộng
đồng với bên ngoài thuận lợi hơn, đời sống của người dân nơi đây dần được
cải thiện, người dân tiếp cận với y học hiện đại vì vậy họ dần chuyển sang sử
dụng thuốc tây từ trạm y tế xã cho nên việc sử dụng cây để làm thuốc ít đi.
Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc hiện nay tập trung ở sự hiểu biết của người
già,các thầy lang, người lớn tuổi vì vậy khi thế hệ này qua đời thì những bài
thuốc này cũng có thể bị lãng quên và mất đi nhưng bài thuốc quý.
Vấn đề thực tế đặt ra là làm thế nào ghi nhận lại vốn kiến thức quý báu
trong việc sử dụng các cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng người Tày và tìm
ra các biện pháp để bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc có giá trị. Xuất
phát từ lý do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ

2
nhiệm khoa Lâm Nghiệp- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo TS.Đàm Văn Vinh tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:“Nghiên cứu một số cây thuốc dân gian của cộng đồng người Tày tại xã
Quang Thuận,huyện Bạch Thông,tỉnh Bắc Kạn”.

Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc rút lại cho biết người Ai
Cập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để trị bệnh và ướp xác các
vua chúa hoặc làm nước thơm từ khoảng 4000 năm TCN. Người Trung Quốc
đã biết sử dụng tinh dầu làm thuốc chữa bệnh từ lâu. Tại Đông Á, người Nhật
Bản đã biết sử dụng cây bạc hà làm thuốc chữa bệnh từ 2000 năm trước
đây… (dẫn lời từ Lã Đình Mới và các tác giả, 2001).
Theo Ahmad, U & M.N Nabi (1967) đã nghiên cứu và tổng kết rằng : Nền
y học cổ truyền của Trung Quốc và Ấn Độ đều được ghi nhận trong lịch sử sử
dụng cây cỏ làm thuốc cách đây 3000 – 5000 năm (dẫn từ Trần Văn Ơn, 2003).
Qua các nghiên cứu về lịch sử sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế
giới cho thấy, mỗi dân tộc trên thế giới đều có tri thức sử dụng cây thuốc để
chữa bệnh từ lâu đời và đặc sắc tùy thuộc vào từng nền văn hóa.
1.5.1.2. Y học cổ truyền ở một số nước trên thế giới
Y học cổ truyền có lịch sử phát triển lâu đời ở một số nước: Trung Quốc,
Ấn Độ, Triều Tiên, các nước Châu Mỹ Latinh, Châu Phi… Y học cổ truyền
đóng vai trò to lớn trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu của các cộng đồng
dân tộc đặc biệt ở các nước đang phát triển và các nước nghèo đói.
Sử dụng y học cổ truyền để chữa bệnh ở các nền văn hóa khác nhau trên
thế giới rất phong phú và đặc sắc tùy thuộc và tín ngưỡng, phong tục của mỗi
dân tộc đó. Trong các bài thuốc cổ truyền của một số cộng đồng bản địa, thì
các loài cây thuốc thường được sử dụng cùng với các bài hát thánh ca, các vũ
điệu và các lễ hội cầu nguyện để tiêu trừ những linh hồn ốm yếu và an ủi
người ốm vượt qua khỏi hoàn cảnh của họ. Tuy nhiên, cây thuốc mới chính là
yếu tố chủ đạo trong các nghi thức tế lễ đó.
Tài nguyên cây thuốc trên thê giới và kho tàng tri thức sử dụng cây cỏ
làm thuốc của các nền văn hóa khác nhau đã, đang được khai thác , sử dụng

4
triệt để vào các hoạt động nghiên cứu nhằm phục vụ công tác chăm sóc sức
khỏe và phát triển kinh tế.

5
+ Các nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên cây thuốc
- Tàn phá thảm thực vật
- Hoạt động du canh du cư
- Khai thác quá mức và sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên cây thuốc
- Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên
- Khai thác không có kế hoạch và thay đổi cơ cấu cây trồng
- Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hóa và bị thất
truyền
+ Hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc
Bảo tồn nguyên vị (In situ conservation) : Chỉ có một số nước tham gia.
Một trong những nước này là Sri Lanka, với 50 khu bảo tồn cây thuốc. Tại Ấn
Độ có 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị. Tại Trung Quốc các khu bảo tồn tài
nguyên cây thuốc cũng được thành lập.
Bảo tồn chuyển vị (Ex situ conservation) : Năm 1989, Tổ chức bảo tồn
các Vườn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với IUCN và WWF xây dựng
“Chiến lược bảo tồn ở các Vườn thực vật”. Trên thế giới có khoảng 1.500
Vườn thực vật đã xây dựng, trong đó 152 vườn của 33 quốc gia chuyên trồng
cây thuốc hay trồng kết hợp với các cây kinh tế khác. Vườn thực vật ở Tokyo có
khoảng 1.600 loài; Vườn thực vật dân tộc Mexico; Vườn thực vật ở Bungari,
Séc, Ba Lan.
Trồng cây thuốc đã có một số nước gây trồng cây thuốc phục vụ công
tác y tế và bảo tồn với quy mô lớn: Trung Quốc, Ấn Độ (Trần Văn Ơn, 2003).
Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, bảo tồn cây thuốc nói riêng
đang được nhiều quốc gia và các Tổ chức Quốc tế quan tâm.
1.5.2. Tài nguyên cây thuốc Việt Nam
1.5.2.1. Vài nét Y học cổ truyền Việt Nam
Y học cổ truyền (YHCT ) Việt Nam ra đời rất sớm và gắn liền với sự
phát triển của lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc (YHCT bao gồm


(bằng thơ) và 10 khoa chữa bệnh , vơi 3.932 phương thuốc nam ứng trị 184
loại bệnh, kèm theo môn thuốc chữa bệnh gia súc.

7
“Nam dược chính bản”, do vua Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1705 – 1719)
sai các quan nội thị phủ chúa Trịnh, các quan y viện duyệt lại và bổ sung sắp
xếp thành chương mục thứ tự và đổi tên thành “Hồng nghĩa giác tư y thư” in
lại năm 1717 gồm quyển thượng và quyển hạ. Quyển thượng gồm: “Nam dược
quốc ngữ phú” (danh từ dược học 590 vị thuốc nam). “Trực giải chỉ nam dược
tính phú” (220 vị thuốc nam) và một thiên y luận về lý luận cơ bản, âm dương
ngũ hành, tạng phủ, kinh mạch. Quyển hạ gồm “Thập tam phương gia giảm” và
“Bổ âm đơn” đã được đời sau diễn dịch ra ca nôm và in năm 1723 (Nguyễn Bá
Tĩnh, 1998).
Danh y Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có vị trí quan trọng trong nền
YHCT Việt Nam. Lê Hữu Trác (1725 – 1792) người làng Liêu Xá, huyện
Đường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Trong
cuộc đời làm y thuật ông tổng kết tinh hoa của y học Trung Quốc và y học
dân tộc cổ truyền, biên soạn bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66
quyển bao gồm lý, pháp, phương dược và biện chứng lí luận trị về nội khoa,
ngoại khoa, phụ sản, sản khoa, khoa nhi, đậu sởi… đạo đức y học, vệ sinh
phòng bệnh (Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, 1998). Bộ sách “Hải Thượng
y tông tâm lĩnh” của Lê Hữu Trác được đánh giá cao trong và ngoài nước. Bộ
sách đã đánh dấu một bước tiến mới của YHCT dân tộc, góp phần xây dựng
và phát triển nền YHCT đất nước ta.
Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác có công to lớn trong việc chăm sóc, bảo vệ sức
khỏe nhân dân trong giai đoạn này, đồng thời ông đã thống kê ghi chép lại các
kinh nghiệm chữa bệnh dân gian quý báu và đúc rút ra những bài thuốc chữa
bệnh hiệu nghiệm để viết thành sách lưu truyền hậu thế. Tuy nhiên, các tác
phẩm chỉ tập trung nghiên cứu về công dụng chữa bệnh của các cây thuốc,
các phương pháp chữa bệnh… mà chưa có điều kiện nghiên cứu về phân bố,

nhiều cho những nghiên cứu về cây thuốc của Việt Nam sau này.
+ Sau cách mạng tháng tám đến nay
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc được giải
phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc
sưu tầm, nghiên cứu các cây cỏ được sử dụng làm thuốc trên cả nước.

9
Trong thời kỳ kháng chiến các nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu
thống kê, hệ thống lại, tìm hiểu số lượng, khu phân bố các loại cây thuốc.
Công việc này được tiến hành trong suốt một thời gian dài với sự tham gia
của nhiều nhà khoa học đầu ngành: Đỗ Tất Lợi, Vũ Văn Chuyên, Võ Văn
Chi…
Trong các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam có một công trình nghiên
cứu điển hình như: Cuốn sách “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất
Lợi gồm 6 tập được in từ năm 1962 – 1965. Tác giả đã trình bày khoảng 430
loài cây thuốc thuộc 116 họ, đã thống kê các cây thuốc và vị thuốc bằng tên
khoa học, tên phổ thông, tên dân tộc của một số cây thuốc, ông đã ghi chép
một cách tỉ mỉ các thông tin: Đặc điểm nhân biết, đặc tính sinh học và sinh
thái học, phân bố địa lý, công dụng, cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị
thuốc này, các công trình khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến
cây thuốc. Theo I.I Brekhman, A.F Hammerman, I.V Gruxvitxki, A.A
Taxenko – khmelepxki (1967) nhận xét bộ sách “Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi có thể sánh ngang với bất kỳ một công trình
nào khác về dược liệu nhiệt đới (dẫn từ Đỗ Tất Lợi, 2006).
Bộ sách“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” có một ý nghĩa quan
trọng trong nền y dược học Việt Nam. Cuốn sách được các nhà khoa học và
nhân dân đón nhận rất lớn. Từ khi xuất bản đầu tiên năm 1962 – 1965 đến
năm 2006 cuốn sách đã được tái bản 14 lần, trong quá trình tái bản cuốn sách
có chỉnh sửa bổ sung ngày càng hoàn thiện các thông tin cập nhật và hình ảnh
minh họa về cây thuốc.

triển một quần thể thực vật hết sức phong phú. Cây thuốc là một thực vật
được hình thành trong môi trường đó nên cây thuốc của Việt Nam rất phong
phú và đa dạng về số lượng và chủng lại.
Công tác điều tra nghiên cứu của Viện dược liệu – Bộ y tế ở tất cả các
địa phương trên toàn quốc (kết quả điều tra từ năm 1961 đến cuối năm 2004)
đã ghi nhận ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực
vật (kể cả Nấm). Cụ thể, nhóm Tảo (Algae) có 52 loài, thuộc 19 họ. Nhóm
Nấm (Fungi) 22 loài, 12 họ. Ngành rêu (Bryophyta) có 4 loài, 2 họ. Ngành Lá
thông (Psilotophyta) 1 loài, 1 họ. Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) 25 loài,
2 họ. Ngành Cỏ bút tháp (Equisetophyta) 3 loài, 1 họ. Ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta) 128 loài, 26 họ. Ngành Thông hay còn gọi là ngành Hạt trần

11
(Pinophyta/Gymnospermae) có 38 loài, 11 họ và ngành Ngọc lan hay còn gọi
là ngành Hạt kín (Magnoliophyta/Angiospermae) có 3.675 thuộc 231 họ
(Nguyễn Tập, 2007).
Hiện nay, đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng,
thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10.000 – 20.000 tấn mỗi năm,
cung cấp thị trường trong nước và xuất khẩu, Các loài cây thuốc đang được
khai thác với khối lượng lớn như: Vàng đắng (Coscinium fenestratum), Thiên
nhiên kiện (Homalomena spp.), Cẩu tích (Cibotium barometz), Hoằng đắng
(Fibrauea recia Pierre), Chè dây (Ampelopsis cantoniensis)… Phần lớn các
cây thuốc trên được đưa vào sử dụng trực tiếp trong nền YHCT. Một số loài
đã được đưa vào chiết xuất hoạt chất để dùng làm thuốc, như Thanh cao
(Artemisia annua) chiết xuất artemisinin làm thuốc chữa sốt rét; Rừa cạn
(Catharanthus roseus) chiết xuất alcaloid làm thuốc hạ huyết áp và dãn mạch
máu não; Bình vôi (Stephania spp.) chiết xuất L.tetrahydro palmatin làm
thuốc an thần, giảm đau; Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium) chiết xuất
saponin làm thuốc chữa sỏi thận… Hàng chục các loài cây thuốc quý như: Ba
kích (Morinda officinalis), thạch xương bồ (Acous gramineus solan), thổ phục

Có tới 90% cây thuốc được khai thác trong tự nhiên, tập quán trồng cây
thuốc bị lãng quên. Người dân không có ý thức khai thác cây thuốc bền vững,
họ quen khai thác theo lối “đào tận gốc, chốc tận rễ” (Đỗ Nguyên Phương, 1998).
- Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên
Hiện nay, đang có xu hướng quay trở lại phương pháp chăm sóc sức
khỏe bằng phương pháp cổ truyền. Hơn nữa, nguồn nguyên liệu cây thuốc
được thu mua để bào chế chữa các bệnh như các thuốc kháng sinh, hooc môn,
các chất quinin…các dược phẩm chữa bệnh ung thư: vincristin, balastin…
- Các tri thức sử dụng cây thuốc bị thất truyền
Hiện nay, thế hệ trẻ không mấy quan tâm tới việc sử dụng cây thuốc
chữa bệnh của cộng đồng dân tộc mình.
Do khai thác liên tục trong nhiều năm, ít chú ý tới bảo vệ tái sinh đã làm
cho cây thuốc tự nhiên ở Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng. Theo Đỗ
Nguyên Phương (1998) cho biết cho đến năm 1998 ở Việt Nam có tới 80 loài
cây thuốc đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, sẽ mất đi vĩnh viễn.

13
Nhiều vùng ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hà Giang và nhất là ở Tây
Nguyên…trước đây phát hiện nhiều cây thuốc mọc tập trung, hiện nay không
còn nữa.
Triệu Văn Hùng và các tác giả (2007) cho biết: Hầu hết các loài cây
thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng phân bố rộng khai
thác nhiều hiện không còn khả năng khai thác lớn và thậm chí trở nên hiếm rõ
rệt. Nghiêm trọng hơn làm một số loài cây thuốc quý vón có phạm vi phân bố
hẹp và số cá thể không nhiều như: Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis) loại
sâm này chỉ phân bố ở núi Ngọc Linh (Lâm Đồng), Hoàng liên gai (Berberis
wallichiana) loại Hoàng liên này chỉ có ở quanh thị trấn Lào Cai…chúng bị
tìm kiếm khai thác gay gắt nên có nguy cơ tuyệt chủng rất cao. Từ các thông
tin trên cho thấy, hiện nay các loài cây thuốc ở Việt Nam đang bị khai thác rất
mạnh mẽ và có xu hướng suy giảm về số lượng và chất lượng rất đáng báo động.

15
PHẦN 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tương chính của đề tài là tìm hiểu và phát hiện những cây thuốc
dân gian trong cộng đồng người Tày tại xã Quang Thuận-huyện Bạch Thông-
tỉnh Bắc Kạn.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Những vấn đề liên quan đến cây thuốc dân gian trong cộng đồng
người Tày tại xã Quang Thuận-huyện Bạch Thông- tỉnh Bắc Kạn.
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu và thời gian tiến hành
2.1.4. Địa điểm
- Nghiên cứu tại UBND xã Quang Thuận,huyện Bạch Thông,tỉnh Bắc Kạn.
2.1.5. Thời gian
- Bắt đầu:từ ngày 31/5/2014
- Kết thúc:ngày 7/8/2014
2.2. Nội dung nghiên cứu:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, tình hình dân sinh kinh tế xã hội của địa
phương.
- Điều tra phát hiện các bài thuốc, cây thuốc dân gian đang được sử dụng
trong cộng đồng.
+ Công dụng của từng bài thuốc, cây thuốc.
+ Bộ phận cây sử dụng làm thuốc chữa bệnh.
+ Cách pha chế và sử dụng cây thuốc, bài thuốc.


17
- Phiếu phỏng vấn
Sử dụng phiếu điều tra bài thuốc, cây thuốc trong phiếu có xác định tên
cây thuốc, công dụng, thành phần cây thuốc, bộ phận sử dụng và cách pha chế
sử dụng.
+ Phiếu phỏng vấn điều tra dành cho thầy Lang, người buốc thuốc
nam.(Phụ lục 1)
+ Phiếu phỏng vấn điều tra dành cho người già có kinh nghiệm và
người đi rừng nhiều.( Phụ lục 2)
* Phương pháp thảo luận so sánh và đánh giá
- Sử dụng mẫu vật cùng người dân nhận diện cây thuốc, mô tả đặc điểm
hình thái, phân bố sinh thái. Thảo luận với các lang y có kinh nghiệm tại địa
phương.
- Thảo luận cùng người dân xác định tên địa phương sau đó tra cứu tên
phổ thông, tên khoa học.
- Cùng người dân lựa chọn các cây thuốc quý có tiềm năng để bảo tồn
và nhân rộng.
+ Tập trung những người am hiểu về cây thuốc, chủ yếu là những người có
kinh nghiệm trong sử dụng cây thuốc, quan tâm nhiều đến thuốc để thảo luận.
+ Ghi tất cả những cây thuốc đã được tổng hợp được lại cùng người dân
lựa chọn sau đó xếp thứ tự ưu tiên thành các loại: Quan trọng, trung bình, ít
quan trọng.
18
PHẦN 3

C

19
+ Nhiệt độ trung bình là 21.4
0
C
- Lượng mưa trung bình trong năm là 1373.5mm
+ Năm cao nhất đạt 3316.2 mm
+ Năm thấp nhất là 920.5 mm
- Lượng mưa phân bố không đều trong năm:
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm 77% lượng mưa cả năm, thậm
chí có tháng không có mưa. Sương mù, sương muối thường xuất hiện từ tháng
11 đến tháng 2 âm lịch, gây ảnh hưởng lớn đến cây trồng vật nuôi, vào tháng
cao điểm là tháng 12 âm lịch cây trồng mất trắng và vật nuôi chết gây ảnh
hưởng đến đời sống nhân dân trong xã.
+ Về nguồn nước Quang Thuận có một con sông chạy dọc theo suốt chiều
dài của xã con sông này được nhân dân trong xã tận dụng triệt để phục vụ cho
phát triển nông nghiệp và chăn nuôi gia súc tưới tiêu hoa màu cho toàn xã.
* Thổ nhưỡng:
Nhìn chung thổ nhưỡng xã Quang Thuận cho phép phát triển đa dạng
các loại cây trồng, phù hợp với các loại cây trồng nhiệt đới, tuy nhiên theo kết
quả phân tích cho thấy phần lớn đất xã Quang Thuận là đất đồi núi thấp đất
sau nhiều năm canh tác đã giảm mạnh về chất lượng nên cần được cải tạo
nhiều để trồng cây ăn quả và trồng hoa màu.
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
* Dân cư lao động của xã:
Xã Quang thận có 485 hộ,1998 khẩu,được chia lam 12 thôn với 06 dân
tộc cùng chung sống:Kinh, Tày, Dao, Nùng, Thổ, Hoa.
Nhìn chung, đời sống của nhân dân khá ổn định, tỷ lệ đói nghèo giảm
rõ rệt do có đội ngũ cán bộ lãnh đạo tận tình năng động, tận tình với nhân dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status