Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm BIO-TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi gà quy mô hộ gia đình tại xã Phương Linh – huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HÀ MINH SƠN

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM BIO – TMT TRONG
XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI GÀ QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH
TẠI XÃ PHƯƠNG LINH – HUYỆN BẠCH THÔNG -
TỈNH BẮC KẠN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Lớp : K42A - KHMT
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Huệ Thái Nguyên, năm 20142

3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

Chữ viết tắt Diễn giải
1 ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
2 E.M Effective Microorganisms ( vi sinh vật hữu
hiệu)
3 GS.TS Giáo sư. Tiến sỹ
4 K Kali
5 N Nitơ
6 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
7 P Photpho
8 NN Nông nghiệp
9 PNN Phi nông nghiệp
10 UBND Uỷ ban nhân dân 4
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 4.1. Khí hậu của khu vực xã Phương Linh 47
Bảng 4.2. Thể hiện sự thay đổi độ ẩm của phân gà trước và sau khi sử dụng
chế phẩm BIO - TMT làm đệm lót 60
Bảng 4.3. Thể hiện số lượng vi khuẩn E.coli có mặt trong phân gà trước và
sau khi xử lý bằng chế phẩm BIO - TMT 63
Bảng 4.4. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu dinh dưỡng trong phân gà trước
và sau khi sử dụng đệm lót sinh học 64

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 14
2.1. Cơ sở lí luận 14
2.1.1 Khái niệm chất thải 14
2.1.2 Khái niệm chất thải chăn nuôi 14
2.1.3. Giới thiệu về chế phẩm E.M 14
2.1.4. Những thành phần cơ bản của chế phẩm E.M 18
2.2. Cơ sở thực tiễn 21
2.3. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm E.M trên thế giới và ở
Việt Nam 24
2.3.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm E.M trên thế giới 24
2.3.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tại Việt Nam 27
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 29

7
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 29
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 29
3.3. Nội dung nghiên cứu 29
3.3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại xã Phương Linh –
huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn 29
3.3.2. Khái quát tình hình sản xuất chăn nuôi trên địa bàn xã Phương Linh. 30
3.3.3. Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm BIO – TMT làm đệm lót sinh học
trong chăn nuôi. 30
3.3.4. Đánh giá kết quả áp dụng mô hình sử dụng chế phẩm BIO – TMT trong
xử lý chất thải chăn nuôi gà tại địa phương. 30
3.3.5. Những định hướng và giải pháp nhằm mở rộng các mô hình sử dụng

đệm lót xử lý chất thải chăn nuôi gà tại địa phương 57
4.4.2. Đánh giá hiệu quả nghiên cứu về khả năng xử lý phân thải của gà bằng
mô hình đệm lót sinh học 58
4.4.3.Ý kiến của người dân khi sử dụng mô hình sử dụng chế phẩm BIO –
TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi 66
4.4.4. Phân tích chi phí 70
4.5.Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm mở rộng các mô hình sử
dụng chế phẩm sinh học vào xử lý chất thải chăn nuôi 75
4.5.1. Những định hướng 75
4.5.2. Những giải pháp 75
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76
5.1. KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

9

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, các ngành nghề sản
xuất nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, tạo
công ăn việc làm ổn định lâu dài cho đời sống của nhân dân cả nước, nghề
nông lâm nghiệp đang chiếm phần lớn trong tỷ lệ lao động xã hội so với các
ngành nghề dịch vụ khác. Nông nghiệp nông thôn có đóng góp cho nền kinh tế
quốc dân với 20% GDP, trên 25% giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước. [11]
Trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi được coi là một trong những
nghề chính, chủ yếu là hình thức chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình riêng lẻ. Tuy
với số lượng gia súc, gia cầm mỗi nhà ít, chỉ vài ba con nhưng qua vài năm
sau cũng sẽ có nhiều điều bất ổn như: chuồng trại thiếu sự quy hoạch, các

Tại xã Phương Linh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn thì nền kinh tế
chủ yếu là phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, cùng với sự gia
tăng đàn vật nuôi – cụ thể là đàn gia cầm thì tình trạng ô nhiễm môi trường do
chất thải chăn nuôi cũng đang ở chiều hướng báo động, do vậy lượng chất
thải phát sinh ra môi trường là rất lớn, đó là vấn đề thực sự cấp bách cần được
mọi người quan tâm và chú trọng giải quyết. Để khắc phục được tình trạng
trên phải đề ra các biện pháp quy hoạch cải tạo, xử lý chất thải đối với từng
hộ gia đình để đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo cân bằng sinh thái môi
trường và tiết kiệm cho người nông dân.
Từ thực tiễn trên, cũng như thông qua việc nghiên cứu thực trạng môi
trường chăn nuôi gia cầm tại xã Phương Linh. Bằng những kiến thức đã học
trên giảng đường và trải nghiệm thực tế, em muốn góp phần giải quyết được
các vấn đề nan giải về môi trường trên mà còn đóng góp cho nền kinh tế địa
phương cũng như đề ra các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả, em
nhận thấy mô hình sử dụng chế phẩm BIO-TMT cần được nhân rộng ra nhiều
địa phương, góp phần thúc đẩy việc chăn nuôi phát triển theo chiều hướng có
lợi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nông thôn. Được sự đồng

11
ý của ban chủ nhiệm khoa Môi Trường và dưới sự hướng dẫn của cô giáo
Th.S Nguyễn Thị Huệ, em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng
chế phẩm BIO - TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi gà quy mô hộ gia đình
tại xã Phương Linh – huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn ”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung:
- Đưa ra những nhận xét chi tiết về hiệu quả của chế phẩm BIO - TMT
trong xử lý chất thải chăn nuôi khi áp dụng tại địa phương.
- Ứng dụng các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi, đặc biệt là chế
phẩm sinh học BIO –TMT trong xử lý môi trường.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:

tác nghiên cứu sau này.
- Việc thực hiện trong thực tế giúp nâng cao việc áp dụng các tiến bộ
trong nghiên cứu đến với người nông dân.
- Nâng cao trình độ tay nghề, là những bước đầu quan trọng trong việc
trải nghiệm thực tế đến với công việc tương lai sau này, tạo kỹ năng làm việc
độc lập, phát huy tinh thần tự giác, trách nhiệm đối với công việc được giao.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí do chất thải chăn nuôi theo
hướng thân thiện với môi trường.
- Cải thiện môi trường xung quanh về hiện trạng đất, nước, không khí.
- Đẩy lùi được nhiều bệnh dịch nguy hiểm đối với con người và sinh
vật xung quanh.
- Chi phí lợi ích có lợi cho người chăn nuôi, làm giảm thời gian và công
sức lao động.

13
- Đưa các chế phẩm sinh học có lợi đến với người nông dân có tham
gia sản xuất, chăn nuôi, hiểu về những vướng mắc chưa được giải quyết trong
chăn nuôi của người nông dân tại địa phương.
- Áp dụng rộng rãi việc sử dụng chế phẩm BIO - TMT trong hoạt động
chăn nuôi tại địa phương.

14
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1 Khái niệm chất thải
Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng
và thải ra môi trường, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có

+ Nấm men.
+ Xạ khuẩn.
Năm nhóm vi khuẩn này tạo ra axit amin tự do, axit hữu cơ, vitamin
hòa tan trong nước, kháng sinh tự nhiên và tạo ra các hoóc môn tự nhiên. Vì
thế khi các vi khuẩn này được sử dụng vào trong tự nhiên sẽ tạo ra mối liên
kết nhằm khống chế các vi khuẩn gây hại đối với các loại cây trồng và vật
nuôi, giúp xử lý hiệu quả mùi hôi, thối từ chất thải chăn nuôi.[10]
* Công nghệ E.M
Là công nghệ sản xuất và sử dụng chế phẩm E.M, là nội dung kỹ thuật
quan trọng trong và cốt lõi của “Nông nghiệp thiên nhiên cứu thế” do các nhà
khoa học Nhật Bản mà đứng đầu là tiến sỹ nông học Teruo Higa của trường đại
học Ryukyus (Nhật bản) phát minh và khởi xướng với bốn mục tiêu lớn là:
- Sản xuất đủ lương thực và thực phẩm cho xã hội.
- Sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch và an toàn cho sức khoẻ con người.
- Sản xuất có hiệu quả kinh tế và tinh thần cho cảc người sản xuất và
tiêu dùng.
- Đảm bảo sự bền vững của nông nghiệp và môi trường. [14,15]

16
* Nguyên lý dẫn đến sự ra đời của chế phẩm E.M
Với quan điểm sử dụng các chủng vi sinh vật có ích trong nông nghiệp
chế phẩm E.M ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên lý thứ nhất:
Sản xuất nông nghiệp bắt đầu bằng quá trình quang hợp của cây xanh.
Để tiến hành quá trình quang hợp thì cây xanh cần phải ánh sáng mặt trời,
nước và khí cacbonic (CO
2
).
Những nguyên liệu này hoàn toàn có sẵn trong tự nhiên, nhưng hiện tại
nông nghiệp vẫn còn ở tình trạng hiệu quả thấp do hiệu suất sử dụng năng

Khoa Tài nguyên và môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã nghiên cứu và ứng dụng thành công đệm lót sinh học bằng chế
phẩm Bio - TMT áp dụng tại nhiều địa phương như: Thái Nguyên, Bắc
Giang, Hà Nội…Nhiều tỉnh và các doanh nghiệp trong thời gian qua đã hợp
tác với Khoa để áp dụng sản phẩm và quy trình này vào giải quyết các vấn đề
thực tiễn. Trong buổi làm việc với các đồng chí cán bộ Sở Khoa học và Công
nghệ tỉnh Vĩnh Phúc; Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại VMC
(Veterinary Medicine an Nutrition for Animals) Việt Nam vừa qua các đoàn
đã đánh giá cao sản phẩm này và nhất trí phối hợp áp dụng tại địa phương.
Về cơ bản đệm lót sinh học bằng chế phẩm Bio- TMT đơn giản chỉ là
một lớp đệm lót chuồng được làm từ các nguồn phụ phẩm trong nông nghiệp
như rơm, trấu, mùn cưa cộng thêm một chút thức ăn hữu cơ: cám ngô, cám
gạo và chế phẩm Bio – TMT được trộn theo một tỷ lệ phù hợp rải xuống nền
chuồng trại. Chế phẩm BIO – TMT là một tổ hợp các chủng vi sinh vật hữu
hiệu khi được trộn lẫn trong đệm lót sẽ phân hủy hết phân của gia súc, gia
cầm khử mùi hôi khí độc trong chuồng trại bảo vệ gia súc, gia cầm đối với
các bệnh thông thường. Với các nguyên liệu dễ kiếm, dễ làm các hộ chăn nuôi

18
chỉ cần được hướng dẫn qua về quy trình hoặc tự nghiên cứu bằng tài liệu
cũng có thể làm đệm lót sinh học cho mô hình chăn nuôi của gia đình, chi phí
làm tấm đệm lót sinh học cũng phù hợp với các hộ chăn nuôi và thời gian sử
dụng có thể kéo dài từ 6 tháng đến hơn 1 năm.
Chế phẩm BIO - TMT có dạng bột và dạng dung dịch có tác dụng:
- Phân giải nhanh các chất hữu cơ có trong chất thải rắn và nước thải
như: xenluloza, lignin, tinh bột, protein, lipit…
- Thúc đẩy nhanh quá trình phân huỷ rác và làm sạch nước thải.
- Chuyển hóa tinh bột, celluloza thành đường đơn ủ thức ăn cho gia
súc, gia cầm, trâu, bò thúc đẩy quá trình tiêu hóa của vật nuôi, giảm mùi hôi
thối từ chất thải trong quá trình chăn nuôi…

sinh học khác. Tất cả chúng đều thức đẩy sự sinh trưởng của thực vật do quá
trình hấp thu trực tiếp vào cơ thể. Mặt khác các sản phẩm trao đổi chất của vi
khuẩn quang hợp đồng thời là chất dinh dưỡng cho các sinh vật khác. Như
vậy vi khuẩn quang hợp được bổ sung vào trong đất phát triển tốt sẽ góp phần
vào quá trình thúc đẩy các vi sinh vật hữu ích và làm tăng thêm hiệu quả quả
của các vi sinh vật đó.[12]
2.1.4.2. Vi khuẩn lactic
Vi khuẩn lactic thuộc nhóm vi khuẩn Gram dương (+) là nhóm vi
khuẩn có thể tạo nên lactic axit, không bào tử, hầu hết không di dộng, có hình
thái khác nhau. Vi khuẩn lactic lên men kỵ khí bắt buộc, tuy nhiên chúng có
thể sinh trưởng được cả khi có mặt oxy. Vi khuẩn lactic thu nhận năng lượng
nhờ quá trình phân giải kỵ khí đường, hydrat cacbon với sự tích luỹ acid
lactic trong môi trường. Người ta nghiên cứu quá trình lên men lactic rất rộng
rãi để chế biến thức ăn chua, ủ thức ăn cho gia súc gia cầm, sản xuất acid
lactic, đó là quá trình chuyển hóa đường thành axit lactic nhờ vi sinh vật, điển
hình là vi khuẩn lactic- đó là loại hình lên men phổ biến và phát triển nhất
trong thiên nhiên, có hai kiểu lên men lactic chính là lên men đồng hình và
lên men dị hình. Chính vì vậy acid lactic được đưa vào chế phẩm E.M với
mục đích của chủ yếu để chuyển hoá thức ăn khó tiêu thành thức ăn dễ tiêu.
Sau đây là hoạt động của vi khuẩn lactic trong chế phẩm E.M:
+ Chuyển hoá tức ăn khó tiêu thành thức ăn dễ tiêu.

20
+ Vi khuẩn lactic sinh acid lactic, là chất khử trùng mạnh, nó tiêu diệt
vi sinh vật có hại và làm tăng sự phân huỷ của các chất hữu cơ.
+ Vi khuẩn lactic làm tăng sự phân cắt các hợp chất hữu cơ như
cellulose sau đó lên men mà chúng không gây ảnh hưởng có hại nào từ các
chất hữu cơ không phân huỷ.
+ Vi khuẩn lactic có khả năng tiêu diệt sự hoạt động và truyền giống
của Fusarium, là nguồn gây bệnh cho mùa màng.[12]

quá trình trao đổi chất của vi khuẩn quang hợp. Các chất hữu cơ có hoạt tính
sinh học như hormone và enzym do nấm men tạo ra thúc đẩy tế bào hoạt
động. Nhưng các chất này được tạo thành trong quá trình trao đổi chất thì lại
là nguồn dinh dưỡng cho các vi sinh vật hữu hiệu khác như vi khuẩn lactic và
xạ khuẩn. Ngoài hoạt tính sinh lý, bản thân nấm men có rất nhiều vitamin và
acid amin, đặc biệt là acid amin không thay thế.[12]
2.1.4.5. Vi khuẩn Bacillus
Lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1901 tại Nhật Bản bởi nhà sinh
vật học Shigente Ishiwarti, khi ông tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết đột
ngột của một số sâu tơ. Là các vi khuẩn Gram dương, cơ thể vi khuẩn bacillus
có khả năng cạnh tranh sinh học, gây tê liệt ấu trùng của một số loài côn trùng
gây hại, giảm sự phát triển của Vibrio, vi khuẩn có hại cho nguyên sinh động
vật. Vi khuẩn Bacillus sản sinh ra các enzym protease và amylase có vai trò
tích cực trong phân giải các sản phẩm protein, tinh bột dư thừa trong môi
trường chăn nuôi, giúp cải thiện môi trường. Mặt khác các sản phẩm của sự
phân giải đường, acid amin lại còn có vai trò dinh dưỡng đối với cây trồng vật
nuôi cũng như hệ vi sinh vật có lợi trong chế phẩm.[12]
2.2. Cơ sở thực tiễn
Phương Linh là một xã vùng cao thuộc huyện Bạch Thông tỉnh Bắc
Kạn Cách trung tâm huyện 1 km, đường giao thông đi thuận tiện vì đây có
quốc lộ 3 và đường 258 đi qua là nơi giao lưu kinh tế với các xã bạn.

22
Do vị trí địa lý, địa hình phức tạp việc giao lưu phát triển kinh tế với
các xã bạn gặp nhiều trở ngại. Đời sống của người dân trong xã còn gặp nhiều
khó khăn, trình độ dân trí ở đây chưa cao, cuộc sống của người dân còn phụ
thuộc chủ yếu vào phát triển nông- lâm nghiệp là chính, đặc biệt là việc chăn
nuôi ngày càng được người nông dân chú trọng và phát triển nhằm tạo ra
nguồn thực phẩm và thu nhập. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm được phổ biến
rộng rãi là do ở nông thôn các hộ gia đình đều có diện tích đất sinh hoạt tương

với xã Phương Linh mà còn với các địa phương khác trong cả nước.
Việc áp dụng các biện pháp, tiến bộ khoa học vào chăn nuôi và xử lý
môi trường là công việc quan trọng và cần thiết phải thực hiện ngay, nhưng
với một xã vùng cao, địa hình đồi núi, kinh tế chậm phát triển nên việc áp
dụng các mô hình cần phải đảm bảo những yếu tố như đơn giản, dễ thực hiện,
chi phí đầu tư thấp, hiệu quả xử lý cao, sản phẩm sau xử lý có thể tận dụng để
trồng trọt, . . .thì mô hình đó mới có thể tạo niềm tin nơi người nông dân, mới
có thể áp dụng rộng rãi và lâu dài.
Việc xử lý chất thải chăn nuôi băng biện pháp sinh học mà cụ thể là sử
dụng chế phẩm BIO - TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi không chỉ là một
biện pháp hữu hiệu mà còn là giải pháp giải quyết được các khó khăn nêu trên.
Bởi vì:
Các thành phần của chế phẩm sinh học BIO – TMT là một lớp đệm lót
chuồng được làm từ các nguồn phụ phẩm trong nông nghiệp, luôn sẵn có
trong địa phương như rơm, trấu, mùn cưa và các loại thức ăn hữu cơ như:
Cám ngô, cám gạo chúng ta đem trộn đều rồi ủ theo một tỷ lệ thích hợp để lên
men sau đó rải xuống nền chuồng trải với mùn cưa, trấu rơm đã được trải sẵn
trước đó. Chế phẩm BIO – TMT là một tổ hợp các chủng vi sinh vật hữu hiệu

24
khi được trộn lẫn trong đệm lót sẽ phân hủy hết phân của gia súc, gia cầm khử
mùi hôi khí độc trong chuồng trại bảo vệ gia súc, gia cầm đối với các bệnh
thông thường. Với các nguyên liệu dễ kiếm, dễ làm các hộ chăn nuôi chỉ cần
được hướng dẫn qua về quy trình hoặc tự nghiên cứu bằng tài liệu cũng có thể
làm đệm lót sinh học cho mô hình chăn nuôi của gia đình, chi phí làm tấm
đệm lót sinh học cũng phù hợp với các hộ chăn nuôi và thời gian sử dụng có
thể kéo dài từ 6 tháng đến hơn 1 năm. Qua đó các hộ gia đình có thể thấy rõ
được hiệu quả của việc thực hiện mô hình tác động tới việc xử lý môi trường
và phát triển kinh tế.
Môi trường đất, nước, không khí của địa phương ngày càng bị ô nhiễm,

lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. cũng như xử lý môi trường, . . .
Chế phẩm E.M đã được thử nghiệm tại nhiều quốc gia : Mỹ, Nam Phi, Thái
Lan, Trung Quốc, Braxin, Nhật Bản, Singapore, Indonexia, Srilanca, Nepal, Việt
Nam, Triều Tiên, Belarus. . . . và cho thấy những kết quả khả quan.[12]
Do bước đầu có được những kết quả ứng dụng hiệu quả của công nghệ
E.M, do đó nhiều nước đã triển khai dưới sự hỗ trợ của nhà nước như:
Pakistan, Myanmar, Thái Lan, Ai cập và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân
Triều Tiên.[12]
Ở một số nước do các tổ chức phi chính phủ có uy tín chủ trì như
Braxin, Nepal, Bỉ, Hà Lan . . . Những nước khác cũng có các công ty, hoặc
trường đại học đứng ra tổ chức các công việc đào tạo, huấn luyện, nghiên cứu,
ứng dụng, chuyển giao công nghệ hoặc bán sản phẩm E.M.[12]
2.3.1.2. Ứng dụng của chế phẩm E.M
- Trong trồng trọt :
E.M có tác dụng đối với nhiều loại cây trồng (cây lương thực, cây rau
màu, cây ăn quả . . .) ở mọi giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau.

Trích đoạn Hiện trạng chăn nuôi tại địa phương Các biện pháp đã đang được áp dụng để xử lý chất thải chăn nuôi trên Đánh giá hiệuquả nghiên cứu về khả năng xử lý phân thải của gà bằng Phân tích chi phí
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status