Ứng dụng công nghệ biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi ở quy mô trang trại tại huyện vĩnh bảo hải phòng đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi cho 1 - Pdf 36

Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển vượt bậc về kinh tế, trong thời gian qua Việt Nam
đã thu được nhiều kết quả đáng mừng. Bên cạnh đó Việt Nam cũng đang đứng
trước một vấn đề bức xúc, đó là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở
nên nghiêm trọng. Nông nghiệp là nghề chiếm chủ yếu ở Việt Nam. Trong
những năm trở lại đây với việc áp dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất
nông nghiệp đã đem lại hiệu quả rất cao. Tuy nhiên cũng như các ngành nghề
khác như công nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải… các chất thải từ ngành
nông nghiệp đang là nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường sống của chúng ta,
trong đó chất thải từ chăn nuôi chiếm một phần không nhỏ. Chăn nuôi ở quy
mô trang trại đang thu hút sự quan tâm lớn của các doanh nghiệp cũng như các
hộ gia đình do những hiệu quả kinh tế đạt được từ ngành này rất cao. Tuy
Nhiên mặt trái của nó là nó, là lượng chất thải lớn được tạo ra làm ô nhiễm môi
trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc xử lý nguồn chất thải này,
những năm gần đây nhà nước đã cùng các chủ hộ trang trại áp dụng nhiều biện
pháp vào xử lý nguồn thải này, trong đó việc xây dựng các công trình khí sinh
học là biện pháp xử lý hữu hiệu nhằm làm giảm thiểu tác động xấu của ngành
chăn nuôi tới môi trường.
Công nghệ khí sinh học đã được nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam từ
những năm 1960, nhưng chỉ vài năm gần đây công nghệ khí sinh học mới được
phát triển mạnh. Công nghệ khí sinh học không những làm giảm thiểu tình
trạng ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra nguồn năng lượng mới, năng lượng
khí sinh học bổ sung cho nguồn năng lượng không thể tái tạo ( dầu mỏ, than
đá), riêng tiền tiết kiệm chất đốt đã có thể thu hồi vốn đầu tư trong vòng 2-3
năm.
Xuất phát từ thực tiễn trên, trong quá trình làm khoá luận tốt nghiệp tôi
đã chọn đề tài " Ứng dụng công nghệ biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi ở

dạng túi nilon là Tiền Giang với 5000 túi, và dẫn đầu về công trình nắp cố định
là tỉnh Hà Tây với khoảng 7000 công trình, nhiều nhất ở huyện Đan Phượng.
Ở Hải Phòng trước tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi
gây ra, từ năm 1997 trung tâm Khuyến Nông Hải Phòng đã chuyển giao công
nghệ khí sinh học bể biogas và đã làm thử nghiệm 7 hệ thống túi nilon, năm
1998 và 1999 kết hợp hệ thống túi nilon với xây bằng gạch, năm 2000 - 2004
xây hoàn toàn bằng gạch theo công nghệ của Viện Khoa Học - Bộ Công
Nghiệp. Trong khoảng 7 năm từ năm 1997 tới tháng 8/2004 toàn thành phố đã
Đào Công Chính

3

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

xây dựng được 1468 công trình trong đó xây dựng từ năm 2001 - 2004 chiếm
70% - 80%, riêng huyện Thuỷ Nguyên phát triển nhanh và mạnh nhất với 721
công trình, chiếm 49,1% công trình toàn thành phố. Mô hình ứng dụng công
nghệ khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi tại Hải Phòng là một trong nhiều
loại mô hình khuyến nông đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Với vốn đầu
tư ban đầu ít, loại thể tích phù hợp nhất hiện nay chỉ hết 3,5 triệu đồng có độ
bền sử dụng từ 20 –25 năm, một năm trung bình tiết kiệm được 1 triệu đồng
tiền chất đốt. Như vậy, giá trị thu được từ khí gas sinh học gấp khoảng 7 lần
vốn đầu tư ban đầu. Ngoài ra bã thải sinh học là nguồn phân bón sạch, có giá
trị dinh dưỡng cao cho cây trồng và nuôi thuỷ sản, nếu xử lý và chế biến tốt nó
còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc gia cầm, cá nuôi ít bị bệnh và không bị

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

* Bộ phận phân hủy: Là nơi chứa nguyên liệu và đảm bảo những điều kiện
thuận lợi cho quá trình phân hủy kị khí xảy ra. Đây là bộ phận chủ yếu của
thiết bị. Ta gọi thể tích phân hủy của bể (VD) là thể tích của bộ phận này.
* Bộ phận chứa khí: Khí sinh ra từ bộ phận phân hủy được thu và chứa ở đây.
Yêu cầu cơ bản của bộ phận chứa khí là phải kín khí. Gọi thể tích chứa khí của
thiết bị (VG) là thể tích của bộ phận này.
* Lối vào: Là nơi để nạp nguyên liệu bổ sung vào bể phân hủy.
* Lối ra: Nguyên liệu sau khi được phân hủy được lấy ra qua đây để nhường
chỗ cho nguyên liệu mới bổ sung vào.
* Lối lấy khí: Khí được đưa từ bộ tích khí tới nơi sử dụng qua lối lấy khí này.

8
7

6

2

5

VD
1

4

VG

3


Bể điều áp

Nước thải

Ao nuôi

Trong quá trình thu gom phân thường kết hợp với rửa chuồng nuôi nên
kéo theo một lượng nước đủ để khuấy đảo. Hỗn hợp này sau khi tập trung về
hố nạp, ở đây hỗn hợp được máy khuấy đảo thành dịch (có thể dùng thủ công
để khuấy đảo). Dịch được đưa vào bể phân huỷ qua lối vào.
Trong bể phân huỷ các sinh vật yếm khí hoạt động sẽ xử lý dịch đưa
vào.
Dịch thải
Các chất tan
axit hữu cơ
CH4 + CO2

Đào Công Chính

6

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

Các vi sinh vật hoạt động trong điều kiện yếm khí, do đó cần cung cấp



Giai đoạn tạo axit.



Giai đoạn tạo khí CH4.

Đào Công Chính

7

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

+ Giai đoạn hóa lỏng.
Vi sinh vật phân hủy
Chất béo
Chất béo
Các chất tan
Vi sinh vật phân hủy
Hidrocacbon
Xenluloza
Vi sinh vật phân hủy
Protein
Protein


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

Quá trình sản xuất kị khí cũng xảy ra trong đường tiêu hóa của các động
vật. Khí này được tích tụ lại có thể dẫn tới bệnh đầy hơi ở động vật.
1.3.2 Nguyên liệu để sản xuất khí sinh học
Mọi chất hữu cơ đều có thể phân hủy trong điều kiện thực tế nguyên liệu
dùng để sản xuất khí sinh học được chia làm 2 loại chính: nguyên liệu có
nguồn gốc động vật và nguyên liệu có nguồn gốc thực vật.
* Nguyên liệu có nguồn gốc động vật
Thuộc loại này, phân người và phân gia súc, gia cầm là phổ biến vì đã
được xử lý trong bộ máy tiêu hóa nên phân dễ phân hủy và nhanh chóng cho
khí sinh học. Tuy vậy, thời gian phân hủy của phân không dài (khoảng 2–3
tháng) và tổng lượng khí thu được từ 1kg phân không lớn lắm. Hiệu suất tính
theo chất khô từ 0,2 - 0,3 m3 khí/1kg phân.
Phân trâu bò, phân lợn phân hủy nhanh hơn, phân người và phân gà vịt
phân hủy chậm hơn nhưng cho năng suất khí lớn hơn.
* Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật
Các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật gồm phụ phẩm cây trồng như
rơm rạ, thân lá ngô, khoai, đậu... và các loại cây xanh hoang dại như bèo, các
cây cỏ sống ở dưới nước, các loại cây phân xanh...
Các nguyên liệu thực vật có lớp vỏ cứng rất khó phân hủy vì vậy để cho
quá trình phân hủy kị khí xảy ra thuận lợi, những nguyên liệu này cần được xử
lý trước khi đưa vào bể biogas (chặt, băm, đạp nhỏ và ủ sơ bộ hiếu khí) để phá
vỡ lớp vỏ cứng và tăng tiết diện bề mặt cho vi khuẩn tấn công. Quá trình phân
hủy của nguyên liệu có nguồn gốc thực vật lâu hơn so với phân, kéo dài từ 3– 6
tháng.


24-25
Lợn
1,2-4,0
24-33
12-13
Gia cầm
0,02-0,05
25-50
5-15
Người
0,18-0,34
20-34
2,9-10
Thực vật:
Bèo tây tươi
4-6
12-25
Rơm, rạ khô
80-85
48-117

Sản lượng khí
hàng ngày
(lít/kg nguyên
liệu tươi)
15-32
15-32
40-60
50-60
60-70

Than củi
Than cám
Phân trâu bò
Dầu hỏa
Điện
Khí hóa lỏng

Đơn
vị
m3
g
g
g
g
g
lít
Wh
g

Nhiệt trị
(kcal)
4700
3300
3800
6900
5000
2100
9100
860
10900

2,01kg
12,21kg
0,68lit
4,68kwh
0,43kg

b. Thắp sáng
Khí sinh học cháy cho ngọn lửa xanh lơ nên không phát sáng. Để phát
sáng người ta dùng những đèn mạng (măng sông). Đèn mạng tiêu thụ khoảng
80–120lit/h, cho ánh sáng cao hơn bóng đèn điện 80w, đèn sử dụng khí sinh
học sử dụng dễ dàng. Sử dụng khí sinh học không những phục vụ sinh học mà
còn phục vụ sản xuất. Ở Trung Quốc người ta dùng đèn khí sinh học để nuôi tằm vì
chúng đòi hỏi ánh sáng và điều kiện thích hợp
Bảng 1.3. Khí sinh học sử dụng thắp sáng
Lương phân thải
Đào Công Chính

Thể tích bể

Lượng khí thu
11

Thời gian

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

Hình 1.3. Sử dụngkhí sinh học để thắp sáng
c. Chạy động cơ đốt trong
Khí biogas là kết quả phân hủy các chất hữu cơ trong môi trường thiếu
không khí. Động cơ sử dụng khí biogas là sáng chế không mới đối với các
nước trên Thế Giới. Tại các nước phát triển (Mỹ, Pháp, Đức, Đan Mạch...) khí
biogas sử dụng để sản xuất điện năng. Ở Việt Nam hiện nay máy phát điện sử
dụng khí biogas đã xuất hiện nhiều trên thị trường, tuy nhiên các loại máy này
có một nhựơc điểm đó là không có bộ điều tốc phù hợp nên khi chế độ tải bên
ngoài tăng đột ngột động cơ bị chết máy và hỏng. Mới đây đã sản xuất thành
công hệ thống lọc biogas và bộ điều tốc cho các loại động cơ chạy bằng biogas
với những tính năng lọc H2S và CO2 bằng hệ thống lọc đơn giản, rẻ tiền nhưng
đạt hiệu quả cao, hệ thống gồm động cơ đánh lửa cưỡng bức chạy bằng biogas

Đào Công Chính

12

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

với bộ phận phụ kiện GA–7, động cơ diesel chạy bằng biogas với bộ phận
khống chế tốc độ tác động trên đường nạp gas.
Bảng 1.5 - Lượng khí sinh học dùng để chạy động cơ đốt trong.
Mục đích sử dụng
Chạy động cơ đốt trong
Chạy động cơ diezen

phân trâu bò, người ta đo được toàn bộ các axit amin đã tăng 230% sau khi
Đào Công Chính

13

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

phân huỷ. Ngoài ra một lượng B12 đáng kể được tổng hợp trong quá trình phân
hủy. Vì vậy bã thải khí sinh học là một nguồn thức ăn bổ sung cho chăn nuôi
rất có giá trị.
Việc sử dụng bã thải làm nguồn thức ăn bổ sung cho chăn nuôi được ứng
dụng phổ biến ở Trung Quốc. Hầu hết các kết quả đều cho thấy lợn được nuôi
với khẩu phần có bổ sung bã thải khí sinh học ăn và ngủ nhiều hơn, vận động ít
hơn, chúng nhanh lớn và lông óng mượt hơn. Đối với lợn to khẩu phần ăn
thông thường có bổ sung 20– 25% bã thải đạt tỉ trọng 15,8 – 16,7% cao hơn
nhóm đối chứng. Với lợn con khẩu phần có tỷ trọng bổ sung 15 - 18% đạt tỉ lệ
tăng trọng 11,2% so với nhóm đối chứng.
Ngoài ra bã thải còn dùng để nuôi thủy sản. Khi bã thải được đưa vào
các ao cá chất dinh dưỡng kích thích sự phát triển của các loại thực vật phù du
lẫn các động vật phù du là nguồn thức ăn cho cá do vậy sản lượng cá tăng. (Ví
dụ ở Philippin, sản lượng cá rô phi trung bình đạt 25kg/m3).
1.4.3 Lợi ích về môi trường
Lợi ích chính khi sử dụng bể biogas là để xử lý một lượng lớn chất hữu
cơ phát sinh trong quá trình chăn nuôi như: Phân, nước thải của vật nuôi, nước
thải khi rửa chuồng trại, một số rác thải sinh hoạt dễ phân hủy. Sau quá trình


15

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG XỬ LÝ CHẤT THẢI NGÀNH CHĂN NUÔI TẠI
VIỆT NAM
2.1 Quá trình phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam
Chăn nuôi là một trong những ngành được hình thành và phát triển lâu
đời, giữ vị trí rất quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng
như tại Việt Nam.
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi là nền tảng để thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp phát triển. Ngay từ khi mới ra đời, ngành đã góp phần cung cấp lượng
thực phẩm cho cả nước, đã đáp ứng đủ nhu cầu về thực phẩm trong nước với
mức tăng dân số 1,2 triệu người/năm và xuất khẩu nông sản ngày càng tăng.
Trong suốt quá trình đổi mới, cơ cấu công-nông-dịch vụ cả nước chuyển
đổi đúng quy luật, nông nghiệp luôn làm tròn vai trò nền tảng cho công nghiệp
và dịch vụ phát triển. Trước đổi mới, tăng trưởng nông nghiệp rất thấp. Trong
suốt thời kỳ đổi mới (1986-2003), nông nghiệp (cả nông, lâm, ngư nghiệp) liên
tục tăng trưởng giá trị sản lượng với tốc độ bình quân 5,55%/năm và tăng GDP
là 3,63%/năm. Trong gần hai mươi năm qua, chính sách kinh tế đã từng bước
thay đổi theo hướng tạo điều kiện hoạt động thị trường ngày càng thuận lợi và
phù hợp hơn với cơ chế thị trường, với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Sự
thay đổi đó đã giúp nền nông ngiệp Việt Nam đạt đựơc nhiều kết quả đáng

kể, tạo điều kiện cho việc áp dụng những khoa học kỹ thuật mới trong lĩnh vực
chăn nuôi, nhất là xử lý bệnh dịch và giải quyết ô nhiễm môi trường. Hiện nay
loại hình này có xu hướng ngày càng phát triển, trong đó chăn nuôi lợn chiếm
tỉ lệ lớn nhất với 7475 trang trại (chiếm 42,2% tổng số trang trại) kế đến là
chăn nuôi bò với 6405 trang trại, chăn nuôi gia cầm đứng vị trí thứ 3 với 2838
trang trại chiếm 16%...
Ngành chăn nuôi được phát triển rất mạnh ở các vùng nông thôn, ở đó
đất rộng người thưa là một điều kiện thuận lợi cho ngành phát triển. Nhưng
trong thành thị hiện nay cũng có một phần nhỏ người dân tham gia vào hoạt
động chăn nuôi.
*Chăn nuôi ở khu vực thành thị: Ở thành thị diện tích chuồng nuôi nhỏ hẹp,
thường chuồng nuôi nằm sát nhà ở của dân hoặc trong nhà ở của dân. Người
dân ở khu vực này chăn nuôi nhỏ lẻ nhằm tận dụng nguồn thải từ các nhà xung
quanh, hoặc gia đình có nguồn thức ăn thừa lớn (nhà bán hàng cơm, nấu rượu
bia…). Như vậy chăn nuôi trong khu vực thành thị không tập trung và chăn
nuôi với quy mô nhỏ lẻ, không tập trung các trang trại.
*Chăn nuôi ở khu vực nông thôn: Ở nông thôn với điều kiện thuân lợi như (đất
rộng, tận dụng sản phẩm phụ, tận dụng thời gian dảnh dỗi của nhà nông…). Đa
số các gia đình ở khu vực nông thôn đều chăn nuôi với một số lượng nhất định,
chăn nuôi với quy mô lớn hay nhỏ tuỳ điều kiện của mỗi gia đình. Trong
những năm gần đây ngành này đã thu hút rất nhiều nhà đầu tư xây dựng trang
trại nuôi với số lượng lớn.

Đào Công Chính

17

Ngành kỹ thuật môi trường



121
173
190
318
472

483000
562000
568000
597000
510000

2.2. Ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi
Những năm gần đây, ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc
của nhiều địa phương. Nếu như người dân đô thị phải đối mặt với tình trạng
tồn ứ rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, ô nhiễm không khí do khói bụi...
thì người dân ở khu vực nông thôn lại đang phải “sống chung” với tình trạng ô
Đào Công Chính

18

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu, rác thải nông nghiệp, bức xúc hơn cả là ô
nhiễm môi trường do chất thải từ chăn nuôi.

Đào Công Chính

19

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

Với trang trại có quy mô chăn nuôi nhỏ chất thải thường không được xử
lý tốt, do trang trại thường sử dụng chất thải trực tiếp bón cho cây trồng hoặc
thải trực tiếp xuống ao nuôi cá.
Trang trại áp dụng theo mô hình VAC vào sản xuất nhưng còn nhiều hạn
chế về việc xử lý nguồn chất thải nên việc xử lý chưa đem lại hiệu quả. Lượng
chất thải của vật nuôi chưa có biện pháp xử lý kịp thời làm cho lượng phân bị ứ
lại phát mùi hôi thối rất khó chịu, đặc biệt đây còn là môi trường lý tưởng để
cho các vi khuẩn phát triển gây ra nhiều bệnh dịch ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ của người chăn nuôi và vật nuôi. Bên cạnh đấy lượng chất thải được đưa
xuống ao nuôi hoặc tưới trực tiếp cho cây trồng với một lượng lớn chưa qua xử
lý đã làm môi trường nước bị ô nhiễm.
Một số trang trại bán lượng chất thải thì môi trường trong trang trại ít bị
ô nhiễm xong các trang trại này chỉ nhận thấy lợi ích trước mắt đó là thu được
một khoản tiền phục vụ cho chăn nuôi mà chưa nhận thấy được lợi ích lâu dài
của nguồn chất thải này đem lại.
Xã Cảnh Hưng (Tiên Du - Bắc Ninh) là một trong những xã đang bị ảnh
hưởng nặng nề bởi chất thải chăn nuôi. Cả xã có tới 90% số hộ chăn nuôi,
trong đó mật độ lớn nhất ở thôn Rền, bình quân mỗi hộ có 200m 2 đất nhưng
nuôi tới 50-60 con lợn và bò. Bởi chung sống với mùi xú uế ô nhiễm, dân thôn

tiểu và nước rửa chuồng trại). Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (36,5
triệu tấn), 80% chất thải lỏng (20 - 24 triệu m 3) xả thẳng ra tự nhiên, hoặc
không xử lý hết là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Vụ Môi trường mới được Bộ Tài nguyên - Môi
trường giao chủ trì thực hiện dự án quản lý chất thải chăn nuôi ở 2 địa bàn
“điểm” của Hà Tây và Đồng Nai trong 5 năm (2006-2010). Qua bước đầu khảo
sát, ông Nguyễn Văn Tài, Phó vụ trưởng Vụ Môi trường cho biết: “Hiện nay,
phần lớn bà con chăn nuôi theo kiểu phân tán và ít đầu tư đúng mức việc xử lý
môi trường. Bên cạnh chủ trương lớn là quy hoạch lại chăn nuôi theo hướng
quy mô tập trung thì vấn đề đặt ra là gắn tổ chức chăn nuôi tập trung với công
nghệ hầm biogas và tạo lập thị trường phân bón có giá trị cao sau xử lý; nhưng
mũi nhọn vẫn là ứng dụng hầm biogas bởi vừa xử lý triệt để chất thải, vừa tạo
ra nguồn năng lượng khí gas làm chất đốt, chạy máy phát điện vừa có phân bón
phục vụ sản xuất rau quả an toàn”.
Ông Hoàng Kim Giao, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN -PTNT)
cho rằng: “Có 3 nhóm biện pháp cơ bản hạn chế ô nhiễm do chăn nuôi. Thứ
nhất cần quy hoạch lại, đưa chăn nuôi ra xa đô thị, khu dân cư, khu công
nghiệp và nhất thiết phải thực hiện quy định chăn nuôi an toàn gắn với bảo vệ
môi trường. Thứ hai là sử dụng kỹ thuật cho vào thức ăn và chất thải chăn nuôi
các men, các chế phẩm sinh học nhằm hạn chế khí độc hại và vi sinh vật có hại.
Thứ 3 là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thân thiện với môi trường. Tuỳ điều kiện cụ
thể từng nơi để lựa chọn một trong 3 quy trình kỹ thuật xử lý chất thải như: bể
lắng - hầm biogas - ao sinh học, hầm biogas - ao sinh học và hầm biogas thùng sục khí - ao sinh học; trong đó việc định hướng chăn nuôi theo mô hình
sinh thái VAC và sử dụng hầm biogas đang được người chăn nuôi quan tâm
nhất”.
Đào Công Chính

21

Ngành kỹ thuật môi trường

gây bệnh. Ủ phân vừa có tác dụng sử dụng nhiệt độ tương đối cao trong quá
trình phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt hạt cỏ dại và mầm mống côn trùng,
bệnh cây vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ, đẩy nhanh quá trình
khoáng hoá để khi bón vào đất, phân hữu cơ có thể nhanh chóng cung cấp chất
dinh dưỡng cho cây.
Mặt khác trong phân tươi có tỷ lệ C/N cao, là điều kiện thuận lợi cho các
loài vi sinh vật phân huỷ các chất hữu cơ ở các giai đoạn đầu hoạt động mạnh.

Đào Công Chính

22

Ngành kỹ thuật môi trường


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

Chúng sẽ sử dụng nhiều chất dinh dưỡng nên có khả năng tranh chấp chất dinh
dưỡng với cây.
Ủ phân làm cho trọng lượng phân chuồng có thể giảm xuống, nhưng
chất lượng phân chuồng tăng lên. Sản phẩm cuối cùng của quá trình ủ phân là
loại phân hữu cơ được gọi là phân ủ, trong đó có mùn, một phần chất hữu cơ
chưa phân huỷ, muối khoáng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ,
một số enzym, chất kích thích và nhiều loài vi sinh vật hoại sinh.
Nước ta với khí hậu nhiệt đới độ ẩm cao, nắng nhiều, nhiệt độ tương đối
cao, quá trình phân huỷ các chất hữu cơ diễn ra tương đối nhanh… Sử dụng
phân chuồng bán phân giải là tốt nhất, bởi vì ủ lâu phân ủ sẽ mất nhiều đạm.
Chất lượng và khối lượng phân ủ thay đổi nhiều tuỳ thuộc vào thời gian

Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng

Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại,
loại trừ các mầm mống sâu bệnh. Thời gian ủ tương đối ngắn. Chỉ 30 – 40
ngày là ủ xong, phân ủ có thể đem sử dụng. Tuy vậy, phương pháp này có
nhược điểm là để mất nhiều đạm.
b. Ủ nguội: Phân được lấy ra khỏi chuồng, xếp thành lớp và nén chặt. Trên
mỗi lớp phân chuống rắc 2% phân lân. Sau đó ủ đất bột hoặc đất bùn khô đập
nhỏ, rồi nén chặt. Thường đống phân được xếp với chiều rộng 2 – 3 m, chiều
dài tuỳ thuộc vào chiều dài nền đất. Các lớp phân được xếp lần lượt cho đến độ
cao 1.5 – 2.0 m. Sau đó trát bùn phủ bên ngoài.
Do bị nén chặt cho nên bên trong đống phân thiếu oxy, môi trường trở
nên yếm khí, khí cacbonic trong đống phân tăng. Vi sinh vật hoạt động chậm,
bởi vậy nhiệt độ trong đống phân không tăng cao và chỉ ở mức 30 – 35 oC. Đạm
trong đống phân chủ yếu ở dạng amôn cacbonat, là dạng khó phân huỷ thành
amôniac, nên lượng đạm bị mất giảm đi nhiều.
Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5 – 6 tháng phân ủ
mới dùng được. Sử dụng phương pháp này cho chất lượng phân tốt hơn ủ
nóng.
c. Ủ nóng trước, nguội sau: Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp không nén chặt
ngay. Để như vậy cho vi sinh vật hoạt động mạnh trong 5 – 6 ngày. Khi nhiệt
độ đạt 50 – 60oC tiến hành nén chặt để chuyển đống phân sang trạng thái yếm
khí.
Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt. Để
5- 6 ngày cho vi sinh vật hoạt động. Khi đạt đến nhiệt độ 50 – 60 oC lại nén
chặt.
Cứ như vậy cho đến khi đạt được độ cao cần thiết thì trát bùn phủ chung
quanh đống phân. Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra như sau: ủ
nóng cho phân bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt
lớp phân để giữ cho đạm không bị mất.

cây trồng.
Trùn quế còn gọi là trùn đất có tên khoa học là Peryonyx excavatus.
Trùn quế là một loại giun có khả năng phân huỷ chất hữu cơ. Tập tính ăn của
chúng là trên bề mặt đất với tất cả các loại chất hữu cơ, rác thải, xác và chất
thải các loại động vật.
Lượng phân thải từ đàn gia súc, gia cầm được tập trung về một chỗ cao
ráo và được lợp mái che sau đó đưa trùn vào. Sau khoảng một tháng sinh khối
trùn được nhân lên gấp đôi, lúc này trùn được bắt ra để làm thức ăn bổ sung
đạm cho đàn gia xúc, gia cầm của chúng ta và sau một tuần lượng trùn mới lại
xuất hiện. Sau khi ăn các loại chất thãi hữu cơ, trùn quế sẽ cho ra nguồn phân
hữu cơ (vermicompost) sạch và đồng nhất; Phân trùn có màu nâu sẫm, dạng đất
mùn, có lẫn trứng và ấu trùng của trùn quế. Phân trùn là loại phân hữu cơ tự
nhiên duy nhất hiện nay có chứa đầy đủ hàm lượng các chất cần thiết cho các
loại cây trồng, đặc biệt cho các loại cây ngắn ngày như đậu, bắp, hay các loại
cây lá – ghim khác.
Vermicompost được coi là phần sản phẩm cuối cùng của quá trình xử lý
rác thải hữu cơ với tác nhân phân giải chính là trùn quế nên chúng còn có tên là
Đào Công Chính

25

Ngành kỹ thuật môi trường



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status