Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM CHẨU VĂN BỔ

Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM CHẨU VĂN BỔ


động đáp ứng với nhu cầu của xã hội, để đạt được mục tiêu đó thì phương
châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn với thực tiễn”, “Nhà trường gắn
với xã hội” luôn được các trường vận dụng linh hoạt. Quá trình thực tập tốt
nghiệp là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tiễn, áp dụng lý thuyết vào
thực tiễn, củng cố kiến thức, kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng nhu
cầu nghề nghiệp sau khi ra trường.
Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa
Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo: TS. Vũ Thị Quý, em tiến hành
thực hiện đề tài: “Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ
quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên
Quang ”. Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn,
giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể. Tôi xin trân trọng cảm ơn sự
đóng góp ý kiến của các Thầy Cô giáo trong khoa Môi trường. Đặc biệt, tôi
xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo TS. Vũ Thị Quý, người
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện để tài này.
Xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên phòng Tài Nguyên Môi trường
huyện Lâm Bình, các cán bộ xã Thượng Lâm cùng bạn bè và gia đình đã giúp
đỡ, động viên tôi hoàn thành khóa luận này.
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa
luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý, phê bình
cùng các bạn đồng nghiệp để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên Chẩu Văn Bổ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Thành phần rác thải sinh hoạt 5

MỤC LỤC
Trang

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2. Yêu cầu của đề tài 2

1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4



2.4.2. Nuôi trên đồng ruộng có mái che 19

2.4.3. Nuôi trên đồng ruộng không có mái che 20

2.4.4.Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp 20

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 21

3.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21

3.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 21

3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21

3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.4.1. Vật liệu thí nghiệm 21

3.4.2. Bố trí thí nghiệm 22

3.5. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU 25

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25


gia đình 43

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 KẾT LUẬN 45

5.2 KIẾN NGHỊ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 471
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
“Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân
loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói
giảm nghèo của mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội
trên phạm vi toàn thế giới”
Đó là lời mở đầu của chỉ thị số 36-CT/TW Ngày 25/06/1998 của Bộ
Chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII về Tăng cường công
tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị trên, các nghành, các cấp
trong cả nước đã và đang đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, chống ô
nhiễm và suy thoái môi trường.
Cùng với cả nước, ban lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang trong những năm
gần đây đã có những chủ trương chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề
về môi trường như: Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường;
Ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất sạch hơn

1.2.1 Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là xây dựng mô hình nuôi giun đỏ xử lý rác thải
hữu cơ trên địa bàn xã Thượng Lâm để từ đó làm cơ sở khoa học và cơ sở
thực tiễn để hưỡng dẫn cộng đồng khu dân cư xây dựng mô hình nuôi giun tại
nhà từ đó dần hình thành nên ý thức và thói quen thu gom, phân loại rác tại
nguồn nhằm làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá điều kiện tự nhiên tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thượng
Lâm, huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang.
- Xác định lượng rác thải hữu cơ phát sinh tại địa bàn xã Thượng Lâm,
huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang.
- Đánh giá khả năng xử lý các loại rác thải hữu cơ khác nhau của giun đỏ.
- Đánh giá ưu, nhược điểm của mô hình nuôi giun đỏ xử lý rác hữu cơ
quy mô hộ gia đình.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục
vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.

3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xử lý rác hữu cơ, tạo nguồn phân bón cho cây trồng, tận dụng làm
nguồn thức ăn cho cá, gia cầm.
- Xử lý nguồn rác thải hữu cơ hộ gia đình bằng biện pháp sinh học
không gây độc hại.
- Tạo nguồn phân bón cho cây trồng như rau sạch, cây cảnh…
- Tận dụng sinh khối giun làm thức ăn cho gia cầm, gia súc, cá.

4

động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi

5
trường. Thống kê của Ngân hàng Thế giới và Bộ TN&MT năm 2003 cho
thấy, nước ta phát sinh hơn 15 triệu tấn rác thải từ nhiều nguồn khác nhau,
trong đó 80% là rác thải sinh hoạt, bao gồm: Rác thải từ hộ gia đình, nhà
hàng, chợ và các cơ sở kinh doanh, khu công nghiệp… Đến năm 2010, con số
này tăng lên hơn gấp 2 lần.
Bảng 2.1: Thành phần rác thải sinh hoạt
Thành phần chất thải % khối lượng
Rau, thực phẩm thừa, chất hữu cơ dễ phân hủy 64.7
Cây gỗ 6.6
Giấy, bao bì 2.1
Plastic khó tái chế 9.1
Cao su, đế giày dép 6.3
Vải sợi, vật liệu sợi 4.2
Đất đá, bê tông 1.6
Thành phần khác 5.4
(Howadico, 6/2002)[17]
Phân loại rác sinh hoạt tại nhà (Kỷ yếu Hội Thảo Quản lý Chất Thải
Rắn Tp. Hồ Chí Minh, 2002)[7]
Ngày nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong từng lĩnh vực thực tế đã
góp phần giảm thiểu chi phí cho các công đoạn thừa trong các quá trình xử lý.
Việc phân chia rác thải rắn theo công nghệ quản lý xử lý là một bước tiến quan
trọng, giúp hiệu quả của quy trình xử lý tăng lên, giảm thiểu lượng ô nhiễm.
∗ Mục tiêu
Tách rác ra làm hai thành phần riêng biệt nhằm nâng cao hiệu quả của
các hoạt động xử lý tiếp theo.
∗ Phân loại rác
Rác chia làm hai loại chính: chất hữu cơ dễ phân hủy và các chất còn

6.400.000
Chất thải rắn nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm 128.400 125.000 3.400
Chất thải rắn không nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm 2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải nguy hại phát sinh từ nông nghiệp (tấn/năm 8.600 - -
Lượng hóa chất tồn lưu (tấn) 37.000
Chất thải y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000
Tỷ lệ thu gom trung bình (%) 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải theo người (kg/người) 0,4 0,8 0,3
Số lượng các cơ sở tiêu huỷ chất thải rắn
- Bãi rác và bãi chôn lấp không hợp vệ sinh
- Bãi chôn lấp hợp vệ sinh
74
17

(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam 2006)[14]

7
Lượng chất thải sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát
sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ tăng
cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về
quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ
(19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%),
Cao Lãnh (12,5%) Ví dụ tại Hà Nội, khối lượng rác thải sinh hoạt tăng
trung bình 15%/năm, vởi tổng lượng ước tính 5.000 tấn/ngày đêm, và dự đoán
chỉ sang năm (2012) có thể không còn chỗ để đổ rác. Thành phố Hồ Chí Minh
mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt, mỗi năm cần 235 tỷ đồng để xử
lý (Vietnamnet,2011)[15]
Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta phát sinh ngày
càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10-15% .Tỷ lệ tăng cao tập
trung ở các đô thị đang mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và

Thành
phần hữu

Đô thị ( toàn quốc) 0,7 50
55
- Tp. Hồ Chí Minh 1,3 9
- Hà Nội 1,0 6
- Đà Nẵng 0,9 2
Nông thôn ( toàn quốc ) 0,3 50 60 - 65
(Nguồn : Tổng cục BVMT, 2009)[16]
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô
thị vùng Đông Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất tới
6.713 tấn/ngày hay 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh
chất thải rắn sinh hoạt các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các
đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
đô thị là 4.441 tấn/ngày hay 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị
khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị
thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc
các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị
là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Lê Văn Khoa, 2010) [4](bảng 2.4).
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong quá trình hoạt động, sinh sống
của con người. Hiện nay đời sống của người dân đã được nâng cao, đặc biệt là
người dân đô thị. Quá trình hiện đại hóa công nghiệp hóa các ngành dịch vụ,
mua sắm, ăn uống,… đã tạo ra một lượng rác thải sinh hoạt khổng lồ. Đó là
một thách thức không nhỏ đối với nước ta trong quá trình phát triển. 9
Bảng 2.4: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007
STT Đơn vị hành chính

chủ yếu là giun Quế. Mỹ đã có lịch sử nuôi và sử dụng giun từ hơn 80 năm
nay. Năm 1980, ở Mỹ đã có hơn 90.000 trang trại nuôi giun. Ở Manila
(Philipin) có hơn 50.000 hộ nuôi giun. Trung Quốc bắt đầu nuôi giun từ cuối
thập kỉ 70.

10
Wormtech Limited là một công ty đóng tại hạt Monmouthshire (Anh)
chuyên thu thập rác thải để tái chế. Hiện nay, Wormtech đang gấp rút sửa
sang năm căn nhà chứa máy bay ở Caerwent thành xưởng cho các "công nhân
giun" làm việc, cần tuyển khoảng 18 tỷ giun đất cho dự án tái chế của mình.
Theo dự tính, phải có khoảng 30.000 tấn giun đất, nhờ đó tạo được công ăn
việc làm cho khoảng 20 lao động địa phương. Giun cần khoảng một tháng để
làm phân hủy toàn bộ chỗ rác, cung cấp nguyên liệu để sản xuất khoảng 12
loại sản phẩm hữu cơ. Owen cho biết: “Trên khắp nước Anh có khoảng 700
trại nuôi giun, và họ sẽ cung cấp giun cho chúng tôi. Còn trong tương lai,
chúng tôi sẽ tự mình nuôi lấy giun đất. Với một loại máy nhặt giun đặc biệt,
chúng tôi sẽ đảm bảo sao cho không có bất cứ con giun nào lọt được vào sản
phẩm cuối cùng”[19].
Sử dụng giun để sản xuất phân bón phổ biến tại Vancouver (Canada)
từ những năm 80. Đối với các cư dân đô thị có ý thức về môi trường, chẳng
có căn bếp nào hoàn thiện nếu vắng một thùng giun! Bên trong thùng, giun
biến thức ăn thừa thành một loại mùn hữu ích cho cây, đồng thời giúp giảm
lượng rác ở bãi chôn lấp. Trên mười năm qua, chính quyền thành phố
Vancouver đã tài trợ cho một chương trình sản xuất phân bón từ giun. Vào
thứ bảy hàng tuần, 25 người quan tâm tới sản xuất phân bón từ giun tham
dự một lớp học kéo dài 1 giờ tại khu vườn thí nghiệm của City Farmer. Tại
đó, họ học cách chăm sóc và quản lý giun. Đối tượng tham gia rời khu
vườn với một chiếc thùng, lớp lót đáy, khoảng 0,5 kg giun Quế và sách
hướng dẫn. Đó là tất cả đồ nghề họ cần để ''vận hành'' giun tại nhà. Cho tới
nay, chương trình đã phân phát khoảng 3.500 thùng giun. Mỗi thùng như

Đề tài : “ Nuôi giun xử lý rác thải” TS.Huỳnh Thị Kim Hối (Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật) với công bố : “Chỉ cần từ 1 đến 2 lạng giun là có
thể xử lý được không dưới 300 kilogam rác thải hữu cơ, với hiệu suất xử lý
đạt 100%” (Báo khoa học , 2010)[9]
Hiện nay nhiều đề tài nghiên cứu của học sinh sinh viên trên toàn quốc
về giun đỏ xử lý rác thải hữu cơ như :
- Trần Kim Thanh Vũ và Đinh Thị Thu Hà là hai học sinh lớp 11
Trường THPT Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng. Đề tài của hai bạn là
“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp lên men kết hợp nuôi Giun đỏ”.
- “Phương pháp xử lý rác thải bằng giun quế” của nhóm sinh viên trường

12
đại học nông lâm Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của TS.Lê Quốc Tuấn.
2.2.3. Những nghiên cữu ứng dụng giun đỏ ở huyện Lâm Bình
Năm 2013, dự án cá tầm Tuyên Quang được triển khai ở vùng lòng hồ
Thuỷ điện Tuyên Quang thuộc huyện Lâm Bình. Đây là một dự án có quy mô
và tổng số vốn đầu tư lớn, việc nuôi ươm thành công trứng cá tầm trên hồ
Thuỷ điện Tuyên Quang tại huyện Lâm Bình đánh dấu một hướng đi mới
trong phát triển kinh tế ở một huyện vùng cao còn nhiều khó khăn và mở ra
một triển vọng mới cho nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Tuyên Quang. Hiện nay,
Công ty cổ phần Trứng cá tầm Việt Nam đang tập trung chăm sóc, nuôi ươm
theo đúng quy trình kỹ thuật để đảm bảo tỷ lệ cá sống cao. Đàn cá tầm đang
sinh trưởng và phát triển tốt, nhu cầu sử dụng lượng thức ăn khá cao. Chính vì
vậy, Công ty cổ phần Trứng cá tầm Việt Nam đã phối hợp với Viện Nghiên
cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1, triển khai chuyển giao kỹ thuật nuôi giun quế cho
các hộ gia đình ở xã Thượng Lâm phục vụ chăn nuôi cá tầm ở Lâm Bình.
Giun quế là loài thức ăn giàu đạm cao cấp dùng cho vật nuôi, đặc biệt thích
hợp để làm nguồn thức ăn chính phục vụ các loài thuỷ sản, trong đó có loài cá
tầm, một loài cá nước lạnh quý hiếm của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, các
hộ gia đình ở xã Thượng Lâm, huyện lâm Bình được tiếp cận với kỹ thuật

Giun đỏ có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ
Megascocidae (họ cự dẫn), ngành ruột khoang. Chúng thuộc nhóm giun ăn
phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy,
trong tự nhiên ít tồn tại với phần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực
tiếp như một số loài giun địa phương sống trong đất. (Nguyễn Lân Hùng,
2009)[11]

14
2.3.2 Đặc tính sinh hoc của giun đỏ
Giun đỏ có kích thước tương đối nhỏ, độ dài vào khoảng 10 –15 cm,
thân hơi dẹt, bề ngang của con trưởng thành có thể đạt 0,1 – 0,2 cm, có màu
từ đỏ đến màu mận chín (tùy theo tuổi), màu nhạt dần về phía bụng, hai đầu
hơi nhọn. Cơ thể giun có hình thon dài nối với nhau bởi nhiều đốt, trên mỗi
đốt có một vành tơ.
Giun đỏ hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu Oxy và thải CO2
trong môi trường nước, điều này giúp cho chúng có khả năng sống trong nước
nhiều lần, thậm chí trong nhiều tháng. Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận
ở mỗi đốt. các cơ quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm
dưới dạng Amoniac và Urer (Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[3].
2.3.3 Đặc tính sinh lý
Giun đỏ rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và
biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn. Nhiệt độ thích hợp nhất với
Giun đỏ nằm trong khoảng từ 20 – 30
0
C, ở nhiệt độ khoảng 30
0
C và độ ẩm
thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh. Ở nhiệt độ quá thấp,
chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt độ của luống nuôi
lên quá cao cũng bỏ đi hoặc chết. Chúng có thể chết khi điều kiện khô và

thức ăn mà chúng cho là ngon nhất. (Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[3]
2.3.4. Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng
Giun quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng, chúng ăn bất kỳ chất thải
hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc,
gia cầm ). Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ hấp
dẫn chúng hơn, giúp chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn.
Giun quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức ăn mỗi ngày
được nhiều nhà khoa học công nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể
của nó. Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng
thải phân ra ngoài rất giàu muỗi dinh dưỡng, những vi sinh vật cộng sinh có
ích trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể của giun nhưng vẫn
còn hoạt động ở “màng dinh dưỡng” trong một thời gian dài[2]. Đây là một
trong những nguyên nhân làm cho phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao
và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường
trong tự nhiên. Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận ở mỗi đốt, các cơ quan
này đảm bảo cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm dưới dạng Amoniac và

16
Urê. Giun không có phổi mà hô hấp qua da, nếu da bị khô thì giun sẽ chết vì
vậy quá trình nuôi giun phải thường xuyên duy trì độ ẩm của chất nền. Những
ngày trời mưa giun ngoi lên khỏi mặt đất vì vậy khi nuôi giun phải tránh để
nước mưa rơi xuống luống. ( Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[3]
2.3.4 Qúa trình sinh sản và phát triển
Giun quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối
ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía Nam. Giun quế là
sinh vật lưỡng tính, chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ở phía đầu của cơ
thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi con, kén được
hình thành ở đai sinh dục, trong mỗi kén mang từ 1 – 20 trứng, kén giun di
chuyển dần về phía đầu và hơi ra đất. Kén áo hình dạng thon dài, hai đẩu túm
nhọn lại gần giống như hạt bông cỏ, ban đầu có màu trắng đục, sau chuyển

sát kỹ các kẽ hở giữa các viên gạch dùng để quây thành luống. Phát hiện thấy
cóc là phải diệt ngay. Các loài khác như nhái, ngóe, ếch ương, chẫu chàng …
thường không nằm trong luống. Chúng thường tập kích luống giun vào ban
đêm. Ban ngày, chúng luồn ra xung quanh, nằm ẩn khuất trong các bụi cây,
hang hốc cạnh đó. Nếu không để ý sẽ không thấy. Vì vậy, chỗ đặt luống giun
cần cân nhắc kỹ, phải đề phòng. Cũng có nơi đã dùng nilon quây xung quanh
chỗ nuôi giun, giống như kiểu chống chuột cho ruộng lúa. Tuy nhiên tấm nilon
ở đây phải cao từ 1m trở lên. Chuột trù cũng là kẻ thù của giun. Các loài chuột
khác ăn ngũ cốc. Riêng chuột trù ăn sâu bọ. Chúng ăn cả giun. Nhược điểm là
dễ bị phát hiện. Chúng có mùi hôi nồng nặc và luôn gọi nhau chít chít.
Ban ngày chúng rất loạng choạng, dễ bắt hoặc đánh chết chúng. Chúng lại
không có khả năng leo trèo. Vì vậy, nếu ta ngăn cửa hoặc ngăn quanh luống
nuôi bằng một vách ngăn cao khoảng 40cm là chúng chịu chết, không vào
được. Gà, vịt, chim chóc cũng là kẻ thù của giun. Ta nuôi giun cho gà, vịt ăn
nhưng nếu để chúng vào luống thì chúng sẽ bới tung lên và ăn sạch cả giống.
Vì vậy, phải quây lưới hoặc đan tấm phên phủ lên luống giun để ngăn bọn này
phá hoại. Nhiều người nuôi giun ngại nhất là việc chống kiến. Thực tế, việc
chống kiến lại rất đơn giản.Bình thường, kiến không chiu rúc vào chỗ ẩm
ướt như các luống giun. Chúng ngại nước. Tuy nhiên khi luống giun có giun
chết là chúng lao vào (Nguyễn Lân Hùng, 2009)[11].
2.3.5.3 Thu hoạch
Thu hoạch là khâu cuối cùng của toàn bộ quá trình nuôi. Tuỳ theo mục
đích sử dụng của từng hộ gia đình mà chúng ta có thể lựa chọn những phương
pháp thu hoạch sao cho phù hợp và hiệu quả nhất. Hiện nay, một số tài liệu đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status