Đánh giá kết quả công tác giải phóng mặt bằng khu tái định cư thị trấn Phố Lu – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
********** NGÔ THÙY TRANG

Tên đề tài:
“ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
KHU TÁI ĐỊNH CƯ THỊ TRẤN PHỐ LU – HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản Lý Tài nguyên
Khóa : 2010 – 2014
Sinh Viên Ngô Thùy Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT NĐ : Nghị định
HĐBT : Hội đồng bồi thường
UBND : Uỷ ban nhân dân
BT : Bồi thường
GPMB : Giải phóng mặt bằng
TĐC : Tái định cư
THCS : Trung học cơ sở
TN-KT-XH : Tài nguyên- kinh tế -xã hội
TT : Trung tâm
CNXD : Công nghiệp xây dựng
TMDV : Thương mại dịch vụ
GCNQSD : Giấy chứng nhận quyền sử dụng
KCN : Khu công nghiệp
UBMTTQ : Ủy ban mặt trận tổ quốc
CLN : Cây lâu năm
HNK : Hằng năm khác
TH : Thu hoạch
MỤC LỤC
Trang
Phần 1. MỞ ĐẦU 1

1.1. Đăt vấn đề 1

1.2. Mục tiêu của đề tài 2

1.3. Yêu cầu của đề tài 2

1.4. Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở khoa học của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 4

2.1.1. Cơ sở lý luận của công tác giải phóng mặt bằng 4

2.1.2. Cơ sở pháp lý của công tác giải phóng mặt bằng 9

2.2. Sơ lược về công tác giải phóng mặt bằng trên thế giới và ở Việt Nam 10

2.2.1. Công tác giải phóng mặt bằng ở một số nước tư bản 10

2.2.2. Tình hình thực hiện cơ chế giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc 11

2.2.3 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Nhật Bản 12

giải phóng mặt bằng. 22 3.3.5. Khó khăn, tồn tại và giải pháp trong công tác bồi thường và
giải phóng mặt bằng 22

3.4. Phương pháp nghiên cứu. 22

3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu. 22

3.4.2. Phương pháp thống kê . 23

3.4.3 Phương pháp phân tích so sánh. 23

3.4.4 Phương pháp xử lý thông tin 23

3.4.5. Phương pháp chuyên gia. 24

PHẦN 4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 25

4.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của khu vực giải phóng mặt bằng 25

4.1.1. Đặc điểm tự nhiên của thị trấn Phố Lu 25

4.1.2. Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội. 26

4.1.3. Tình hình quản lý đất đai 28


5.1. Kết luận 53

5.2 Kiến nghị 53

1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đăt vấn đề
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là nguồn tài nguyên vô cùng quan
trọng của con người và mọi sự sống trên trái đất, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng
các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Đất đai có ý nghĩa
chính trị, kinh tế, xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới Đảng và Nhà nước ta đã
xác định đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đất
nước. Trong đó quá trình thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn phục vụ cho việc xây
dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế xã hội là điều kiện tiên quyết giúp nước ta có
đủ mạnh để có thể tham gia vào thị trường rộng lớn này.
Ngày nay các dự án đầu tư vào đất ngày càng nhiều, cùng với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là tốc độ đô thị hoá ngày càng mạnh
mẽ trên cả nước. Với tốc độ phát triển kinh tế như thế, làm cho nhu cầu về
thuế đất, chuyển mục đích sử dụng đất ngày càng lớn. Để cho các dự án đầu
tư vào các công trình phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quôc
gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế có tính khả thi, đúng tiến

1.2. Mục tiêu của đề tài
* Mục tiêu tổng quát của đề tài
Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng tại dự án khu tái định cư thị trấn
Phố Lu – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai . Tìm hiểu những thuận lợi, khó
khăn và nguyên nhân tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng, qua đó đề
xuất phương án có tính khả thi và rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác
GPMB.
* Mục tiêu cụ thể của đề tài
- Tình hình quản lý và sử dụng đất tại thị trấn Phố Lu
- Đánh giá công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng tại dự án khu
tái định cư thị trấn Phố Lu – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai. Tìm hiểu
những nguyên nhân gây chậm tiến độ giải phóng mặt bằng.
- Đề xuất giải pháp, góp phần thực hiện công tác bồi thường giải phóng
mặt bằng của dự án khác một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm chắc Luật Đất đai, các Quyết định có liên quan đến công tác
GPMB. 3

- Nắm chắc các Nghị định, thông tư, quyết định, văn bản hướng dẫn thi
hành luật và khung giá đền bù của Chính phủ và của địa phương có liên quan
đến việc bồi thường thiệt hại.
- Số liệu điều tra, thu thập phải đảm bảo chính xác, khách quan.
- Phân tích và nhận xét công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án
- Đề xuất phương án giải quyết dựa trên cơ sở Nghị định, Quy định và
kinh nghiệm đã làm.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Bổ sung những kiến

tương xứng, trong quy hoạch xây dựng thiệt hại gây ra có thể là thiệt hại vật
chất hoặc thiệt hại phi vật chất.
Trong giải phóng mặt bằng, cùng với chính sách hỗ trợ và tái định cư,
chính sách bồi thường là một phần quan trọng trong chính sách đền bù thiệt
hại khi Nhà nước thu hồi đất. Chính sách này nhằm giúp cho còn người bị thu
hồi đất có thể tái lập, ổn định cuộc sống mới do những thiệt hại vật chất hoặc
thiệt hại phi vật chất do việc thu hồi đất gây ra, mặt khác giúp họ giải quyết
được những khó khăn khi phải thay đổi nơi ở mới.
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định tiến độ của các dự
án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án. Có thể nói :” Giải phóng mặt bằng nhanh
là một nửa dự án thành công”. Việc này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
ích của nhà nước, của chủ đầu tư mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất
cũng như tinh thần của người thu hồi đất
2.1.1.2. Các định nghĩa
+ Thu hồi đất: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính
để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân 5

dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật. (khoản 5 điều 4
luật đất đai 2003). [3]
+ Bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất: Bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất
bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. (khoản 6 điều 4 luật đất đai 2003). [3]
+ Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí
việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới. (khoản 7 điều 4 luật
đất đai 2003). [3]
+Giá trị quyền sử dụng đất: Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng

biệt các nhà đầu tư trong nước có nguồn vốn hạn hẹp thì việc quay vòng vốn
là rất cần thiết để đảm bảo tận dụng cơ hội đấu thầu các công trình khác.
- Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Nếu công tác giải phóng mặt bằng không được thực hiện tốt sẽ xảy ra hiện
tượng “treo” công trình làm cho chất lượng công trình bị giảm, các mục tiêu ban
đầu không thực hiện được từ đó gây lãng phí rất lớn cho ngân sách nhà nước. mặt
khác, khi giải quyết không thỏa đáng quyền , lợi ích hợp pháp của
người có đất bị thu hồi sẽ dễ dàng nổ ra những khiếu kiện, đặc biết là
những khiếu kiện tập thể làm cho tình hình chính trị - xã hội mất ổn định.
2.1.1.4. Chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
qua các thời kỳ.
- Thời kỳ trước năm 1945
Chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
gắn liền với việc hình thành các triều đại phong kiến. Ở mỗi kiều Nhà nước
các hình thức sở hữu đất đai luôn được các giai cấp thống trị chú trọng. Bắt
đầu từ thời vua Gia Long, Nhà nước thật sự thừa nhận quyền sở hữu tư nhân
và sở hữu làng xã. Chính sách bồi thường được thực hiện rất nguyên tắc và
chặt chẽ
- Thời kỳ cách mạng tháng 8 - 1945 đến năm 1975
Sau cách mạng tháng 8 thành công chúng ta tiến hành xóa bỏ chế độ
chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nông
dân. Hiến pháp năm 1959, Nhà nước thừa nhận ba hình thức sở hữu đất đai
bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể. Khi tiến hành
thu hồi đất Nhà nước tiến hành điều chỉnh ruộng đất hoặc nhượng lại ruộng
đất cho người bị trưng dụng sẽ được đền bù từ 1 đến 4 năm sản lượng thường
niên của ruộng được trưng dụng. Thực tế trong thời kỳ này phương án bồi
thường chủ yếu là thỏa thuận sau đó thông nhất giá mà không cần có cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hay ban hành phía bồi thường
- Thời kỳ sau năm 1975 đền trước sự ra đời Luật đất đai 1993
Trên cơ sở hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân,

với điều kiện TN-KT-XH và trình độ dân trí nhất định. Đối với khu vực nội
thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ dân cư khác nhau,
ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo đặc trưng riêng của vùng
đó. Do đó, công tác BT&GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm
riêng biệt.
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống KT-XH đối với mọi người dân. Ở khu vực nông thôn, dân cư
chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu
sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng
chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn. Do đó, tâm lý người dân khu vực này là 8

phải giữ được đất để sản xuất. Mặt khác, cây trồng vật nuôi trên vùng đó cũng
đa dạng, không được tập trung một loại nhất định nên gây khó khăn cho công
tác định giá bồi thường.
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh
hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở.
+ Do yếu tố lịch sử để lại nên nguồn gốc sử dụng đất phức tạp và do cơ
chế chính sách chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế sử dụng đất nên chưa
giải quyết được các vướng mắc tồn tại cũ.
+ Việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ dẫn đến các hiện tượng lấn chiếm,
xây dựng nhà trái phép nhưng lại không được chính quyền địa phương xử lý
dẫn đến việc phân tích hồ sơ đất đai và áp giá phương án bồi thường gặp rất
nhiều khó khăn.
+ Thiếu quỹ đất dành cho xây dựng khu tái định cư cũng như chất
lượng khu tái định cư thấp, chưa đảm bảo được yêu cầu.
+ Việc áp dụng giá đất ở để tính bồi thường giữa thực tế và quy định

Trên cơ sở các chính sách của Nhà nước, điều kiện thực tế của địa bàn và dự
án, việc tổ chức thực hiện (Trình tự, thủ tục, cơ cấu nhân sự, phương pháp
làm việc ) được tiến hành một cách hợp lý và khoa học sẽ mang lại kết quả
cao, đảm bảo lợi ích các bên.
- Ngoài các yếu tố trên còn nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng trực tiếp
hoặc dán tiếp đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng như:
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
+ Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý
và sử dụng đất tác động đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
+ Thanh tra chấp hành các chế độ, thể lệ quản lý và sử dụng đất.
+ Nhận thức và thái độ của người dân bị thu hồi đất, công tác tuyên
truyền, vận động người dân thực hiện theo chính sách pháp luật Nhà nước [14]
2.1.2. Cơ sở pháp lý của công tác giải phóng mặt bằng
2.1.2.1. Các văn bản pháp quy của nhà nước có liên quan đến công tác này.
- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
- Luật dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003.
- Luật đất đai năm 2003.
- Các nghị định, thông tư có liên quan đến công tác này như :
- Nghị định số : 22/1998/NĐ - CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ về
việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho mục đích
Quốc phòng - An ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
- Nghị định 181/2004/NĐ - CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc
hướng dẫn thi hành Luật đất đai. 10

- Nghị định 197/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư 116/2004/TT - BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính
11

tây giá đất biến động theo lô đất, còn ở những nước tư bản phát triển chế độ
sở hữu tư bản tư nhân về đất đai được xác định ổn định, quá trình tích luỹ về
đất đai lên tới đỉnh cao, thị trường đất đai mang tính độc quyền và các quốc
gia thường áp dụng Luật thuế đối với việc mua bán đất đai, không áp đặt giới
hạn hành chính đối với thị trường đất đai. Các nước có nền kinh tế thị trường
phát triển thì đất đai được mua bán tự do và cho thuê một cách rộng rãi.
Việc chuyển nhượng và cho thuê ruộng đất được coi là một biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bởi vì đất đai khi thuộc sở hữu của các chủ sử
dụng là tư nhân thì mới có khả năng sinh lời cao hơn so với chủ sử dụng cũ.
Nên việc GPMB thực chất là việc mua bán đất đai theo giá thoả thuận giữa
người mua và người bán. Cho nên việc GPMB chỉ mang tính chất thủ tục vì
đất đai thuộc sở hữu tư nhân do đó họ có quyền mang ra trao đổi hay mua bán
tự do. Ngoài ra đất đai còn tham gia vào thị trường bất động sản và thị trường
chứng khoán như một nguồn đầu tư ngoại tệ.
2.2.2. Tình hình thực hiện cơ chế giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Theo luật pháp Trung
Quốc: đất đai thuộc sở hữu Nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử
dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu
tiền sử dụng đất và cho thuê đất. Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng
thuộc sử hữu Nhà nước, đất đai thuộc khu vực nông thôn và đất nông nghiệp
thuộc sở hữu tập thể nông dân lao động.
Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng cho lợi ích quốc gia, mục đích
công cộng thì Nhà nước có chính sách bồi thường, tái định cư cho người bị
thu hồi đất.
Do hai hình thức sở hữu đất đai khác nhau nên: ở thành thị, việc bồi
thường cho người bị thu hồi đất chủ yếu bằng tiền, giá đất thường do các tổ

Bản ban hành luật về tổ chức lại nghành nông nghiệp ở những vùng cần phát
triển. Luật và các biện pháp kinh tế, hành chính được tiến hành nhằm cùng
một lúc đáp ứng các yêu cầu:
Ưu tiên cho đất nông nghiệp, thâm canh tăng năng suất nông nghiệp để
giải quyết mâu thuẫn giữa đất canh tác ít lại bắt buộc phải bớt một phần dành
cho các yêu cầu khác cho phát triển nông thôn, đô thị hóa, hiện đại hóa, do
đó, Nhất Bản sớm trở thành quốc gia có nhiều loại cây trồng đạt năng suất cao
nhất trên thế giới.
Có chính sách cụ thể để thúc đẩy việc dành đất đai để phát triển công
nghiệp, dịch vụ, giao thông… Như vậy chính sách đất đai của Nhật Bản vừa
từng bước thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng đất dành cho nông nghiệp vừa 13

thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu đất đai theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và đô thị hóa.
Mặc dù hình thức sở hữu đa dạng, kể cả thừa nhận sở hữu tư nhân về
đất đai, Nhà nước vẫn có quyền theo luật pháp để phục vụ cho các nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.[14]
2.2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu chính sách BT&GPMB của một số nước, Việt Nam
chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách
BT&GPMB ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện các quy định về công tác định giá đất nói chung và định
giá đất để thực hiện công tác BT&GPMB nói riêng bằng cách thành lập các
đơn vị tư vấn trong việc điều tra, nghiên cứu và xây dựng giá đất ở các tỉnh,
thành phố cả nước để giúp nhà nước xây dựng được một khung giá phù hợp
sao cho hài hoà giữa lợi ích của người dân và lợi ích quốc gia.
- Công khai hoá đầy đủ các thông tin liên quan về dự án cũng như

sách bồi thường giải phóng mặt bằng bộc lộ những nhược điểm, không còn phù
hợp với cuộc sống. Để giải quyết vấn đề trên Quốc hội đã liên tục sửa đổi Luật
đất đai vào các năm 1998 và 2001. Theo đó, Chính phủ và các bộ ngành đó ban
hành các văn bản quy định về chính sách bồi thường và giải phóng mặt bằng.
+ Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc
bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an
ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng.
+ Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thực hiện Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ.
Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định tại Nghị định
22/1998/NĐ-CP và thông tư 145/1998/TT-BTC:
Đối tượng được đền bù thiệt hại: Người bị thu hồi đất có quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản hợp pháp phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối tượng phải đền bù thiệt hại: Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất,
cho thuê đất.
Phạm vi áp dụng: Đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Phạm vi đền bù thiệt hại:
+ Đền bù thiệt hại về đất cho toàn bộ diện tích đất thu hồi.
+ Đền bù về tài sản hiện có.
+ Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải di chuyển chỗ ở,
di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh.
+ Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho người có đất bị thu hồi mà
phải chuyển nghề nghiệp. 15

+ Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện đền bù,
di chuyển, giải phóng mặt bằng.

và kèm theo nhiều văn bản dưới luật được ban hành để hướng dẫn thực hiện: 16

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
hành Luật đất đai.
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác
định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP.
- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa
đổi bổ sung một số Điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai
và Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công
ty cổ phần.
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy
định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư liên tịch số 14/2008/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ
Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số Điều
của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.
Kế thừa và phát triển, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất được thể hiện trong Luật đất đai năm 2003, các văn bản
dưới luật thể hiện tính đổi mới tương đối toàn diện góp phần tháo gỡ những
vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng triển khai các dự án.

định rất cụ thể, chi tiết trong Luật đất đai năm 2003 và các văn bản dưới luật
mà thể hiện vấn đề đổi mới quan trọng đó là: trước khi bị thu hồi đất ít nhất
90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp
người sử dụng đất phải được thông báo chủ trương thu hồi đất từ đó có đủ
thời gian để tìm hiểu chính sách pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình; trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì
người bị thu hồi đất đều được tham gia trực tiếp hoặc thông qua người đại
diện; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được công khai.
2.3.2. Công tác giải phóng mặt bằng ở Lào Cai
Theo Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND
tỉnh Lào Cai công tác giải phóng mặt bằng được quy định như sau:
Chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện theo quy định tại Điều 15
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP như sau: 18

1. Tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất,
cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu thực hiện ứng trước tiền
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, giải
phóng mặt bằng theo phương án đã được xét duyệt thì được ngân sách nhà
nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp;
2. Tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng
đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật
về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì tiền bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
theo phương án đã phê duyệt được tính vào vốn đầu tư của dự án.
Thực hiện theo quy định tại Điều 18, Điều 19, Mục 4, chương II Thông

định cư trước khi chuyển đến;
b) Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư do Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định theo quy định của Chính phủ về phương pháp xác
định giá đất và khung giá các loại đất.
Hộ gia đình, cá nhân được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật và được trừ vào tiền bồi thường, hỗ trợ; nếu có chênh lệch thì
thực hiện thanh toán bằng tiền phần chênh lệch đó theo quy định, trừ trường
hợp được hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 1 Điều 30 bản Quy định này.
Bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy
định tại bản Quy định này được quy định như sau:
1. Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với diện tích đất theo quy định khi Nhà
nước thu hồi.
2. Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi
phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi.
3. Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi
nghề và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất.
4. Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống khi Nhà nước thu hồi đất.
2.3.1. Công tác giải phóng mặt bằng ở huyện Bảo Thắng
Năm 2013, trên địa bàn huyện triển khai thực hiện công tác bồi thường
giải phóng mặt bằng(GPMB) của 20 dự án, có trên 850 hộ gia đình, cá nhân
bị thu hồi đất, phải bố trí 100 suất đất tái định cư cho các hộ gia đình cá nhân
phải di chuyển nhà ở. Tổng kinh phí bồi thường GPMB gần 100 tỷ đồng. Đến
nay đã bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư tổ chức thi công được 15 công trình,
còn lại 05 công trình đang tiếp tục áp giá, công khai và phê duyệt kinh phí theo
quy định bao gồm công trình đường Trần Hưng Đạo kéo dài, Chợ Xuân Giao,
Trạm y tế xã Sơn Hải, Trạm y tế và Trường tiểu học số 3 xã Xuân Quang.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status