Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa của công ty sứ Thanh Trì - Pdf 29

LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng và đổi mới, ngành xây dựng
đóng vai trò rất quan trọng trong sự đổi mới và phát triển của đất nước. Có rất
nhiều các công trình đô thị, nhà ở mọc lên như nấm trên mọi miền Tổ quốc. Xã
hội ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngày càng được nâng cao thì sản
phẩm sứ vệ sinh càng không thể thiếu trong các công trình xây dựng. Trên thị
trường Việt Nam hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
trong lĩnh vực sứ vệ sinh. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp đó buộc phải
tìm cách cạnh tranh với nhau bằng cách sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để
cắt giảm chí phí, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm nhằm thoả mãn
một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng để bán được sản phẩm với doanh thu
cao nhất và chi phí thấp nhất có thể.
Công ty Sứ Thanh Trì là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng
công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng ( Viglacera ). Trong những năm gần đây,
Công ty đã được đánh giá là một trong những công ty Nhà nước làm ăn có hiệu
quả do có đổi mới trong cách nghĩ, cách làm và có bước đầu tư đúng hướng.
Công ty đã cố gắng phấn đấu không ngừng để có thể sản xuất ra những sản phẩm
sứ vệ sinh có mẫu mã và chất lượng tốt, giá cả phải chăng thoả mãn nhu cầu
khách hàng trong và ngoài nước. Đặc biệt đây là doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh có quy mô lớn nên việc thực tập tại Công ty đã khiến em học hỏi được rất
nhiều kiến thức thực tế để bổ sung cho kiến thức lý thuyết đã được học ở trường
Đại học. Qua 4 tháng thực tập tại phòng kinh doanh của Công ty em đã phần nào
hiểu được về hoạt động tiêu thụ sản phẩm sứ vệ sinh của Công ty. Vì vậy em xin
mạnh dạn chọn đề tài: “Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường nội địa của Công ty Sứ Thanh Trì” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên
đề tốt nghiệp của mình. Trong thời gian thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt
1

nghiệp, em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo - TS Trần
Việt Lâm và thầy giáo – Th.S Vũ Trọng Nghĩa cùng toàn thể cán bộ công nhân
viên tại phòng kinh doanh nói riêng và trong Công ty Sứ Thanh Trì nói chung.

Xí nghiệp gạch Thanh Trì ) với hình thức là Xí nghiệp quốc doanh theo quyết
định số 326 ngày 22/03/1961 của Bộ Kiến trúc ( nay là Bộ Xây dựng ) với nhiệm
vụ chuyên sản xuất các loại gạch đá men, gạch chịu lửa cấp thấp, gạch lát vỉa hè,
ống máy thoát nước…với sản lượng rất nhỏ, chỉ khoảng vài trăm viên mỗi loại.
3

Đến năm 1980 Xí nghiệp được đổi tên thành Nhà máy Sứ xây dựng Thanh Trì và
bắt đầu đi vào sản xuất các loại sản phẩm có sứ tráng men như: gạch chịu axit,
gạch men sứ, ống sành, sứ vệ sinh... Trong những năm 80 khối lượng sản xuất
hàng năm của Nhà máy chỉ khoảng 80 tấn/ năm với đội ngũ công nhân viên là
250 người. Do sản xuất dàn trải nhiều mặt hàng cộng với công nghệ sản xuất lạc
hậu, thiết bị chắp vá, tuỳ tiện nên hầu hết các sản phẩm đều có chất lượng thấp,
mẫu mã đơn điệu. Tuy nhiên, do cơ chế bao cấp và sản lượng sản xuất ra ít nên
Nhà máy vẫn tiêu thụ hết sản phẩm.
Giai đoạn 1988 – 1991:
Giai đoạn này Nhà nước bắt đầu chuyển từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ
chế thị trường. Tuy nhiên Nhà máy vẫn chưa kịp thay đổi, vẫn sản xuất ra những
sản phẩm có chất lượng kém, mẫu mã đơn điệu, chi phí sản xuất lại quá cao
khiến sản phẩm không thể cạnh tranh được trên thị trường. Nhà máy lâm vào
tình trạng làm ăn thua lỗ, hơn một nửa công nhân không có việc làm và đứng bên
bờ vực của sự phá sản.
Giai đoạn từ 1992 đến nay:
Trong thời kỳ khó khăn đó, Nhà máy đã nhận được sự giúp đỡ của Bộ Xây
dựng và liên hiệp các xí nghiệp Thuỷ tinh và Gốm xây dựng ( nay là Tổng công
ty Thuỷ Tinh và Gốm xây dựng). Bộ đã quyết định cải cách Nhà máy theo
hướng tổ chức và cải tiến lại bộ máy nhân sự, đổi mới công nghệ cho phù hợp
với tình hình chung của nền kinh tế Việt Nam và thế giới. Bộ Xây dựng đã kiên
quyết đưa Nhà máy thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện tại. Do nhận thức được nhu
cầu ngày càng tăng của sản phẩm Sứ vệ sinh và xuất phát từ quan điểm “ Công
nghệ quyết định chất lượng sản phẩm ”, Nhà máy đã được chỉ đạo ngừng sản

5

Dương vào Công ty Sứ Thanh Trì nâng tổng công suất đạt hơn 800.000 sản
phẩm mỗi năm.
Trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử hình thành và phát triển, cho
đến nay, Công ty Sứ Thanh Trì đã có vị thế vững chắc trên thị trường Sứ vệ sinh
cả trong và ngoài nước.
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
- Chức năng:
Công ty Sứ Thanh Trì chuyên sản xuất các mặt hàng Sứ vệ sinh phục vụ
cho nhu cầu xây dựng trong và ngoài nước.
- Nhiệm vụ:
Công ty Sứ Thanh Trì có nhiệm vụ chuyên sản xuất các mặt hàng Sứ vệ sinh
xây dựng trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm của Công ty được sản xuất trên dây
chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại của Italia mang nhãn hiệu Viglacera
hay Monoco hoặc Sofa. Nhiệm vụ của Công ty được cụ thể hoá như sau:
+ Nghiên cứu nhu cầu và khả năng của thị trường về sản phẩm để xây
dựng chiến lược phát triển, xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về sản xuất
kinh doanh trình Bộ xây dựng duyệt và tổ chức thực hiện nhằm đạt đựơc mục
đích đã đề ra.
+ Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký,
đúng mục đích lập, thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ Nhà nước giao cho.
+ Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào trong sản xuất, cải tiến công nghệ và chất lượng sản phẩm phù
hợp với thị hiếu khách hàng; tổ chức lực lượng lao động có kỹ thuật, thiết bị để
sản xuất kinh doanh, đảm bảo chất lượng sản phẩm.
+ Chấp hành luật pháp và những quy định của Nhà nước, thực hiện các
chế độ chính sách về quản lý và sử dụng nguồn vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực
6


+ Giám đốc:
Là người đứng đầu Công ty, chịu trách nhiệm cao nhất trong việc quản lý,
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, có quyền ra quyết định
trực tiếp điều hành các phòng ban, phân xưởng. Giám đốc do Tổng Công ty
Thuỷ tinh và Gốm xây dựng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Bộ xây dựng và
Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng, luật pháp và toàn bộ cán bộ công
nhân viên trong Công ty.
+ Phó giám đốc:
Là người giúp việc cho Giám đốc, tham gia với Giám đốc trong công việc
chung của Công ty. Phó giám đốc là người phụ trách kế hoạch sản xuất, công tác
kỹ thuật. Khi Giám đốc đi vắng có thể uỷ quyền cho phó Giám đốc thay mặt
Giám đốc giải quyết những vấn đề thuộc quyền Giám đốc. Phó giám đốc do
8

BAN
GIÁM ĐỐC
Xí nghiệp
sx khuôn
Nhà máy
Sứ
Chi nhánh
Phòng
KD
Phòng
XK
Phòng
TCLĐ
Phòng
KHĐT
Văn


Có chức năng tham mưu cho Đảng uỷ và Giám đốc về công tác tổ chức
sản xuất, quản lý và sử dụng lực lượng lao động, thực hiện chế độ chính sách đối
với người lao động, tiến hành công tác thanh tra, bảo vệ, lập công tác thi đua
khen thưởng…
- Phòng kế hoạch - đầu tư:
Phòng kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc thực hiện kế
hoạch, chuẩn bị để Giám đốc ký hợp đồng kinh tế; giúp Giám đốc lập kế hoạch
để đề ra nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cho từng phòng ban cà các đơn vị kinh tế
trực thuộc, theo dõi thực hiện các hợp đồng sản xuất, quản lý kế hoạch vật tư,
phương tiện vận tải của công ty. Đảm nhận công tác quản lý và sử dụng vốn đầu
tư nhằm mở rộng và phát triển công ty.
- Các chi nhánh:
Có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tổ chức phân phối hàng hoá cho các
đại lý, ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các khách hàng trong và ngoài
nước. Đồng thời, hàng tháng lập và nộp báo cáo về toàn bộ quá trình hoạt động
của mình cho Công ty, chịu trách nhiệm thực hiện các công việc được giao. Các
chi nhánh chịu sự quản lý trực tiếp của phó Giám đốc kinh doanh. Công ty có 2
chi nhánh: Chi nhánh Đà Nẵng và Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
- Xí nghiệp sản xuất khuôn:
Có nhiệm vụ sản xuất khuôn mẫu bằng thạch cao để phục vụ cho công
đoạn gia công, tạo hình sản phẩm. Xí nghiệp có 2 phân xưởng: phân xưởng sản
xuất thạch cao và phân xưởng sản xuất khuôn mẫu và phòng thiết kế, phòng tổng
hợp khuôn mẫu.
- Nhà máy Sứ: Gồm Nhà máy Sứ Thanh Trì, Nhà máy Sứ Bình Dương và
phòng kỹ thuật KCS.
10

+ Nhà máy Sứ Thanh Trì là đơn vị kinh tế có quy mô lớn nhất và quan
trọng nhất của Công ty. Nhà máy gồm 4 phân xưởng sau:

bằng đất tương đối rộng khoảng hơn 64.000 m2 rất thuận lợi cho sản xuất và
kinh doanh.
- Công ty Sứ Thanh Trì được đánh giá có máy móc thiết bị, dây chuyền
công nghệ là tương đối hiện đại trong ngành sản xuất sứ ở Việt Nam. Dây
chuyền công nghệ, trang thiết bị của Công ty chủ yếu có nguồn gốc nhập ngoại
thông qua việc mua bán hoặc chuyển giao công nghệ từ nhiều nước phát triển.
Dây chuyên đó đã từng bước được hiện đại hoá qua những năm sau:
Năm 1994, do nhận định được nhu cầu ngày càng tăng của sứ vệ sinh,
công ty đã mạnh dạn đầu tư thực hiện dự án dây chuyền sản xuất sứ vệ sinh với
công nghệ và thiết bị của Italia có công suất thiết kế là 75.000 sản phẩm/năm với
tổng số vốn đầu tư trên 34 tỷ đồng Việt Nam. Dây chuyền này đi vào hoạt động
đã cho ra đời các sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp đạt tiêu chuẩn Châu Âu. Với ý
thức tiết kiệm, tận dụng hết năng lực của từng công đoạn, kết hợp với sự sáng
tạo trên cơ sở khoa học của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty đã
nâng công suất lên 100.000 sản phẩm/năm, bằng 133% công suất thiết kế. Trên
cở sở những kết quả đạt được đáng kích lệ đó, từ tháng 5/1996 đến tháng 4/1997,
Công ty đã thực hiện việc đầu tư lần 2 cải tạo và mở rộng dây chuyền sản xuất
nâng công suất từ 100.000 sản phẩm/năm lên 400.000 sản phẩm/năm với các
thiết bị máy móc chủ yếu được nhập từ Italia, Anh, Mỹ. Tổng số vốn đầu tư trên
90 tỷ đồng Việt Nam. Trong những năm gần đây Công ty đã liên tục nhập thêm
dây chuyên sản xuất khuôn mẫu, một số máy móc thiết bị sử dụng cho việc chế
tạo men chống dính...Hiện nay dây chuyền đang hoạt động của Công ty có năng
12

lực sản xuất lên đến 500.000 – 600.000 sản phẩm/năm, đứng đầu về sản lượng so
với các nhà máy sản xuất sứ vệ sinh trong nước.
Bên cạnh những ưu điểm về dây chuyền công nghệ của Công ty vẫn còn
một số hạn chế như: công nghệ sản xuất còn chưa mang tính đồng bộ ở tất cả các
khâu, đổi mới công nghệ vẫn còn ở dạng chắp vá, sản phẩm sản xuất ra chưa
đồng đều về mặt chất lượng…Cần phải thay thế dần những công nghệ lỗi thời,

0 27,01

(3.755.310)

87,43
Theo chủ
sở hữu
Vốn ngân
sách cấp

54.732.430 59,93

50.652.50
0 52,39

(4.079.930)

92,55
Vốn tự có

19.856.320 21,74

25.653.10
0 26,54

5.796.780

129,19
Vốn vay


lớn. Điều này đem lại hiệu quả sản xuất cao, có thể sản xuất ra sản phẩm với số
lượng lớn, mẫu mã đẹp, chất lượng tốt nhưng lại là bất hợp lý vì số vốn cố định
quá lớn sẽ khiến cho Công ty không thể có tốc độ quay vòng vốn nhanh làm tăng
lợi nhuận. Năm 2006 Công ty đã đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại khiến
cho vốn cố định tăng hơn 9,1 tỷ VNĐ tương ứng với 14,82%, lượng vốn lưu
động giảm xuống hơn 3,7 tỷ VNĐ tương ứng với 12,57% so với năm 2005. Tỷ lệ
vốn cố định năm 2006 khá cao ( 72,99%) là bất hợp lý hơn so với năm 2005.
Vốn ngân sách cấp chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng nguồn vốn của Công ty
nhưng lại có xu hướng giảm qua 2 năm. Năm 2006 vốn ngân sách cấp giảm
4.079.930 nghìn đồng tương ứng với 7,45% so với năm 2005. Trong khi đó vốn
tự có và vốn vay năm 2006 có xu hướng tăng so với năm 2005 trong đó vốn tự
có có xu hướng tăng nhanh hơn vốn vay. Vốn tự có tăng 5.796.780 nghìn đồng
tương ứng với 29,19%; vốn vay tăng 3.633.920 nghìn đồng tương ứng với
21.71%. Điều này thể hiện tình hình tài chính rất khả quan của Công ty.
14

1.3.3. Cơ cấu lao động
Lực lượng lao động luôn là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất. Là một doanh nghiệp có uy
tín, Công ty Sứ Thanh Trì sở hữu một đội ngũ lao động đông đảo, có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao, có ý thức kỷ luật và đặc biệt là có kinh nghiệm làm
việc lâu năm trong lĩnh vực sản xuất sứ vệ sinh. Để có thể đánh giá chính xác về
thực trạng đội ngũ lao động trong Công ty, hãy xem xét cơ cấu lao động theo
giới tính, theo tính chất và trình độ qua bảng số liệu dưới đây:
Bảng số 2: Cơ cấu đội ngũ lao động của Công ty
Đơn vị: người
Lao động
Năm
2004
Năm

Nguồn: Phòng Tổ chức lao động
15

Tổng số lao động của Công ty Sứ Thanh Trì năm 2004 là 548 người, năm
2005 là 545 người giảm 3 người tương ứng với 0,55% so với năm 2004 và năm
2006 là 550 tăng so với cả năm 2004 và 2005. Tổng số lao động trong Công ty
dao động qua các năm tương đối thấp. Có thể nói Công ty có một đội ngũ lao
động ổn định, giàu kinh nghiệm. Trong đó số lao động nam năm 2004 là 434
người, năm 2005 là 437 người tăng 3 người tương ứng với 0,69% so với năm
2004 và năm 2006 là 439 người tăng 2 người tương ứng với 0,46% so với năm
2005. Lao động nữ năm 2004 là 114 người, năm 2005 là 108 người giảm 6 người
tương ứng với 5,26% so với năm 2004, đến năm 2006 là 111 người tăng 3 người
tương ứng với 2,78% so với năm 2005.
Như vậy, tổng số lao động nam có số lượng cao hơn lao động nữ và tăng
đều qua các năm. Số lao động nữ có xu hướng giảm ở năm 2005 so với năm
2004 song lại tăng ở năm 2006.Điều này là hợp lý vì đây là doanh nghiệp sản
xuất mặt hàng sứ vệ sinh là công việc nặng nhọc và có tính chất độc hại (đặc biệt
là ở bộ phận nhà máy Sứ) nên phù hợp với nam giới hơn. Lao động nữ trong
công ty chủ yếu làm ở bộ phận dịch vụ, bán hàng và tạp vụ. Cả lao động nam và
nữ của công ty tương đối ổn định, chỉ dao động không đáng kể.
Tổng số lao động gián tiếp và lao động phục vụ có xu hướng tăng nhưng
với tốc độ chậm, lao động trực tiếp có xu hướng giảm nhẹ. Cụ thể, năm 2004 số
lao động gián tiếp là 105 người, năm 2005 là 107 người tăng 2 người tương ứng
với 1,9% so với năm 2004, năm 2006 tăng 3 người tương ứng với 2,8% so với
năm 2005. Lao động gián tiếp đều có trình độ và học vấn cao từ trung cấp trở
lên, lao động có trình độ đại học là khá cao và có xu hướng tăng nhanh và đều
qua mỗi năm so với cao đẳng và trung cấp. Số lao động có trình độ trung cấp cao
hơn cao đẳng và có xu hướng giảm không đáng kể ( năm 2005 giảm 3 người
tương ứng với 9,09% so với năm 2004; năm 2006 giảm 1 người so với năm 2004
16

cho từng sản phẩm như: trắng, xanh nhạt, cốm, hồng, ngà, xanh đậm, mận chín,
đen. Sự đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng và màu sắc sản phẩm nhằm đem lại sự
thoả mãn cao nhất cho khách hàng của Công ty.
- Khách hàng
Công ty Sứ Thanh Trì đã sử dụng hệ thống kênh phân phối là các chi
nhánh, các đại lý và các cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc để đưa sản phẩm của
Công ty đến tận tay người tiêu dùng hoặc cũng có thể đến tận phòng kinh doanh
của Công ty để mua. Khách hàng của Công ty có thể là các hộ gia đình hay các
công ty xây dựng. Khách hàng lớn, tiềm năng và thường xuyên của Công ty
chính là các công ty xây dựng. Mục tiêu chính của Công ty là ký được hợp đồng
với các công ty xây dựng và lắp đặt các công trình vệ sinh tại các công trình xây
dựng của họ.
Ngoài ra Công ty còn luôn cố gắng tìm kiếm và phát triển các bạn hàng
nước ngoài nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ, phát triển thị phần, tăng doanh thu
tiêu thụ.
- Thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty không chỉ rộng khắp cả nước
mà còn mở rộng xuất khẩu ra cả nước ngoài. Theo đánh giá của Viện vật liệu
xây dựng, Công ty có thị phần tương đối lớn trên thị trường Việt Nam cụ thể
năm 2003 chiếm 24,45%, năm 2004 chiếm 23,38%, năm 2005 chiếm 23,59% và
năm 2006 chiếm 28,68% trong khi sản phẩm nhập ngoại trung bình hàng năm
chiếm 40% dung lượng thị trường.
* Thị trường trong nước:
Thị trường tiêu thụ của Công ty Sứ Thanh Trì được chia làm 3 miền Bắc,
Trung, Nam. Riêng thị trường Miền Bắc lại được chia thành 5 khu vực như sau:
18

+ Khu vực 1: Gồm các tỉnh Hà Nội và Hà Tây.
+ Khu vực 2: Gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình,
Quảng Ninh.

với năm 2004 và 121,71% so với năm 2005. Số sản phẩm tiêu thụ cao nhất cũng
là năm 2006 với 1.120.771 sản phẩm chiếm 225,6% so với năm 2004 và
134,78% so với năm 2005. Do công tác dự báo thị trường và tính toán kế hoạch
không chính xác nên số sản phẩm sản xuất luôn lớn hơn số lượng tiêu thụ do đó
tỷ lệ tồn kho và số sản phẩm lưu kho khá cao dẫn đến chi phí lưu kho bị đẩy lên.
Công ty cần phải quan tâm chú trọng hơn nữa công tác điều tra nghiên cứu thị
trường đặc biệt là nghiên cứu cầu để có thể ước lượng chính xác nhu cầu thị
trường cả về số lượng, chất lượng và chủng loại để có thể giảm chi phí cho sản
phẩm lưu kho.
- Doanh thu của Công ty có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn từ 2004
– 2005 và giảm trong giai đoạn 2005 - 2006. Năm 2004, doanh thu chỉ đạt hơn
70,3 tỷ VNĐ đến năm 2005 doanh thu đã tăng thêm hơn 49.9 tỷ VNĐ tức
70,94% so với năm 2004. Năm 2006 là một năm có biến động mạnh về thị
trường xây dựng nên nhu cầu về sản phẩm sứ xây dựng cũng bị giảm đáng kể, do
đó doanh thu năm 2006 giảm gần 6,8 tỷ VNĐ tương ứng 5,65% so với năm
2005. Tuy doanh thu năm 2006 đã có sự giảm sút nhưng là do nguyên nhân bên
ngoài tác động, các yếu tố bên trong Công ty như: đội ngũ lao động, chất lượng
sản phẩm…ảnh hưởng không đáng kể.
- Lợi nhuận của Công ty có xu hướng tăng vào năm 2005 và giảm vào
năm 2006 do tình hình kinh doanh năm 2006 gặp rất nhiều khó khăn. Điều đó
thể hiện sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của tập thể cán bộ nhân viên trong
Công ty. Cụ thể năm 2004 lợi nhuận của Công ty mới chỉ đạt ở mức gần 2,9 tỷ
VNĐ thì năm 2005 đã tăng lên gần 5 tỷ VNĐ tương ứng với 174,18% so với
20

năm 2004. Năm 2006, doanh thu giảm nên lợi nhuận cũng giảm chỉ bằng 90,78%
so với năm 2005 tương ứng còn hơn 4,5 tỷ VNĐ.
- Số nộp ngân sách Nhà nước của Công ty cũng có xu hướng tăng trong
giai đoạn 2004 – 2006. Năm 2004 Công ty đóng góp cho ngân sách chỉ ở mức
gần 4,3 tỷ VNĐ thì đến năm 2005 tổng số nộp ngân sách là gần 5,6 tỷ VNĐ tăng

sản phẩm trên thị trường nội địa của Công ty được chính xác cần nghiên cứu
Chương tiếp theo.
22

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRÊN
THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA CÔNG TY SỨ THANH TRÌ
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ nội địa của Công ty Sứ Thanh
Trì
Tiêu thụ là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh nghiệp:
tiêu thụ, sản xuất, hậu cần kinh doanh, tài chính, kế toán. Doanh nghiệp nào khi
tiến hành sản xuất, kinh doanh cũng muốn hoạt động tiêu thụ của mình đạt mức
tốt nhất. Muốn vậy cần phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu
thụ sau:
2.1.1. Các nhân tố bên trong
2.1.1.1. Trình độ lao động
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng đều phải thuê mướn nhân công. Lao động chính là một nhân tố quan
trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Công nghệ máy
móc có hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất. Sử dụng nhân lực có hiệu quả ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng
năng suất lao động, tăng chất luợng sản xuất nhằm tăng hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, tăng khả năng chiếm giữ và mở rộng thị trường.
Hoạt động tiêu thụ là khâu cuối cùng của sản xuất, giúp đưa sản phẩm tới
tay người tiêu dùng do đó đội ngũ lao động trong tham gia vào hoạt động tiêu thụ
càng phải được lựa chọn cẩn thận để có thể thuyết phục khách hàng mua sản phẩm
của doanh nghiệp với doanh thu cao nhất và chi phí bỏ ra là thấp nhất. Việc tiêu
thụ sản phẩm của Công ty chủ yếu do phòng kinh doanh với đội ngũ lao động trẻ,
năng động, nhiệt tình, có kiến thức kinh doanh do được đào tạo qua trường lớp từ
23

của Công ty. Giá bán cho các đại lý là giá bán buôn; giá bán cho các cửa hàng là
giá bán sỉ, giá bán từ các đại lý, cửa hàng ra thị trường là giá bán lẻ do Công ty
quy định. Do đó mức giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng được thống nhất trên cả
nước.
2.1.1.4. Chất lượng và sự khác biệt hoá sản phẩm
Ngày nay khi thị trường có nhiều nhà cung ứng cùng một loại sản phẩm,
dịch vụ thì chất lượng và sự khác biệt hoá sản phẩm là yếu tố quan trọng để nâng
cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và cho sản phẩm doanh nghiệp cung
ứng. Nhận thức được điều này, Công ty Sứ Thanh Trì đã cố gắng không ngừng
cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm , đặt trọng tâm vào sản xuất những sản
phẩm có chất lượng và đặc điểm riêng biệt về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm để
bán với giá cao hơn giá trung bình làm tăng lợi nhuận nhưng vẫn thu hút được
khách hàng có thu nhập cao. Chẳng hạn như Công ty đã nghiên cứu và đi vào
sản xuất bộ bệt két liền: BL1, BL5, B767; bộ bệt cung đình; các phụ kiện cảm
ứng tự động; các sản phẩm có men chống dính, men chống nấm mốc diệt
khuẩn…Những sản phẩm và phụ kiện trên tung ra thị trường đã được khách
hàng đặc biệt quan tâm và ưa thích.
2.1.1.5. Hệ thống kênh phân phối
Hệ thống kênh phối có ý nghĩa rất quan trọng đối với một doanh nghiệp
sản xuất. Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản
xuất đến người tiêu dùng. Nhờ có kênh phân phối mà quá trình lưu thông hàng
hoá được đẩy nhanh hơn khắc phục được những khác biệt về thời gian, địa điểm
và khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Công ty Sứ Thanh Trì tiêu
thụ sản phẩm của mình thông qua mạng lưới các đại lý, cửa hàng trực thuộc, chi
nhánh Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh.
25

Trích đoạn Định hướng về hoạt động tiờu thụ nội địa của Cụng ty Đẩy mạnh cụng tỏc nghiờn cứu thị trường Đẩy mạnh cỏc biện phỏp hỗ trợ tiờu thụ sản phẩm Kiến nghị với Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status