Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng và đổi mới, ngành xây dựng
đóng vai trò rất quan trọng trong sự đổi mới và phát triển của đất nước. Có rất
nhiều các công trình đô thị, nhà ở mọc lên như nấm trên mọi miền Tổ quốc. Xã
hội ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngày càng được nâng cao thì sản
phẩm sứ vệ sinh càng không thể thiếu trong các công trình xây dựng. Trên thị
trường Việt Nam hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
trong lĩnh vực sứ vệ sinh. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp đó buộc phải
tìm cách cạnh tranh với nhau bằng cách sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để
cắt giảm chí phí, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm nhằm thoả mãn
một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng để bán được sản phẩm với doanh thu
cao nhất và chi phí thấp nhất có thể.
Công ty Sứ Thanh Trì là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng
công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng ( Viglacera ). Trong những năm gần đây,
Công ty đã được đánh giá là một trong những công ty Nhà nước làm ăn có hiệu
quả do có đổi mới trong cách nghĩ, cách làm và có bước đầu tư đúng hướng.
Công ty đã cố gắng phấn đấu không ngừng để có thể sản xuất ra những sản phẩm
sứ vệ sinh có mẫu mã và chất lượng tốt, giá cả phải chăng thoả mãn nhu cầu
khách hàng trong và ngoài nước. Đặc biệt đây là doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh có quy mô lớn nên việc thực tập tại Công ty đã khiến em học hỏi được rất
nhiều kiến thức thực tế để bổ sung cho kiến thức lý thuyết đã được học ở trường
Đại học. Qua 4 tháng thực tập tại phòng kinh doanh của Công ty em đã phần nào
hiểu được về hoạt động tiêu thụ sản phẩm sứ vệ sinh của Công ty. Vì vậy em xin
mạnh dạn chọn đề tài: “ Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường nội địa của Công ty Sứ Thanh Trì ” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên
đề tốt nghiệp của mình. Trong thời gian thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp, em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo - TS Trần
Việt Lâm và thầy giáo – Th.S Vũ Trọng Nghĩa cùng toàn thể cán bộ công nhân
Tháng 03/1961, Xưởng gạch Thanh Trì được thành lập ( sau đổi tên thành
Xí nghiệp gạch Thanh Trì ) với hình thức là Xí nghiệp quốc doanh theo quyết
định số 326 ngày 22/03/1961 của Bộ Kiến trúc ( nay là Bộ Xây dựng ) với nhiệm
vụ chuyên sản xuất các loại gạch đá men, gạch chịu lửa cấp thấp, gạch lát vỉa hè,
ống máy thoát nước…với sản lượng rất nhỏ, chỉ khoảng vài trăm viên mỗi loại.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đến năm 1980 Xí nghiệp được đổi tên thành Nhà máy Sứ xây dựng Thanh Trì và
bắt đầu đi vào sản xuất các loại sản phẩm có sứ tráng men như: gạch chịu axit,
gạch men sứ, ống sành, sứ vệ sinh... Trong những năm 80 khối lượng sản xuất
hàng năm của Nhà máy chỉ khoảng 80 tấn/ năm với đội ngũ công nhân viên là
250 người. Do sản xuất dàn trải nhiều mặt hàng cộng với công nghệ sản xuất lạc
hậu, thiết bị chắp vá, tuỳ tiện nên hầu hết các sản phẩm đều có chất lượng thấp,
mẫu mã đơn điệu. Tuy nhiên, do cơ chế bao cấp và sản lượng sản xuất ra ít nên
Nhà máy vẫn tiêu thụ hết sản phẩm.
Giai đoạn 1988 – 1991:
Giai đoạn này Nhà nước bắt đầu chuyển từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ
chế thị trường. Tuy nhiên Nhà máy vẫn chưa kịp thay đổi, vẫn sản xuất ra những
sản phẩm có chất lượng kém, mẫu mã đơn điệu, chi phí sản xuất lại quá cao
khiến sản phẩm không thể cạnh tranh được trên thị trường. Nhà máy lâm vào
tình trạng làm ăn thua lỗ, hơn một nửa công nhân không có việc làm và đứng
bên bờ vực của sự phá sản.
Giai đoạn từ 1992 đến nay:
Trong thời kỳ khó khăn đó, Nhà máy đã nhận được sự giúp đỡ của Bộ Xây
dựng và liên hiệp các xí nghiệp Thuỷ tinh và Gốm xây dựng ( nay là Tổng công
ty Thuỷ Tinh và Gốm xây dựng). Bộ đã quyết định cải cách Nhà máy theo
hướng tổ chức và cải tiến lại bộ máy nhân sự, đổi mới công nghệ cho phù hợp
với tình hình chung của nền kinh tế Việt Nam và thế giới. Bộ Xây dựng đã kiên
quyết đưa Nhà máy thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện tại. Do nhận thức được nhu
cầu ngày càng tăng của sản phẩm Sứ vệ sinh và xuất phát từ quan điểm “ Công
ty Thuỷ Tinh và Gốm xây dựng thuộc Bộ Xây dựng sát nhập nhà máy Sứ Bình
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Dương vào Công ty Sứ Thanh Trì nâng tổng công suất đạt hơn 800.000 sản
phẩm mỗi năm.
Trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử hình thành và phát triển, cho
đến nay, Công ty Sứ Thanh Trì đã có vị thế vững chắc trên thị trường Sứ vệ sinh
cả trong và ngoài nước.
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
- Chức năng:
Công ty Sứ Thanh Trì chuyên sản xuất các mặt hàng Sứ vệ sinh phục vụ
cho nhu cầu xây dựng trong và ngoài nước.
- Nhiệm vụ:
Công ty Sứ Thanh Trì có nhiệm vụ chuyên sản xuất các mặt hàng Sứ vệ sinh
xây dựng trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm của Công ty được sản xuất trên dây
chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại của Italia mang nhãn hiệu Viglacera
hay Monoco hoặc Sofa. Nhiệm vụ của Công ty được cụ thể hoá như sau:
+ Nghiên cứu nhu cầu và khả năng của thị trường về sản phẩm để xây
dựng chiến lược phát triển, xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về sản xuất
kinh doanh trình Bộ xây dựng duyệt và tổ chức thực hiện nhằm đạt đựơc mục
đích đã đề ra.
+ Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký,
đúng mục đích lập, thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ Nhà nước giao cho.
+ Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào trong sản xuất, cải tiến công nghệ và chất lượng sản phẩm phù
hợp với thị hiếu khách hàng; tổ chức lực lượng lao động có kỹ thuật, thiết bị để
sản xuất kinh doanh, đảm bảo chất lượng sản phẩm.
+ Chấp hành luật pháp và những quy định của Nhà nước, thực hiện các
chế độ chính sách về quản lý và sử dụng nguồn vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực
6
- Ban Giám đốc của Công ty gồm Giám đốc và các phó Giám đốc:
+ Giám đốc:
Là người đứng đầu Công ty, chịu trách nhiệm cao nhất trong việc quản lý,
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, có quyền ra quyết định
trực tiếp điều hành các phòng ban, phân xưởng. Giám đốc do Tổng Công ty
Thuỷ tinh và Gốm xây dựng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Bộ xây dựng và
Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng, luật pháp và toàn bộ cán bộ công
nhân viên trong Công ty.
+ Phó giám đốc:
Là người giúp việc cho Giám đốc, tham gia với Giám đốc trong công việc
chung của Công ty. Phó giám đốc là người phụ trách kế hoạch sản xuất, công tác
kỹ thuật. Khi Giám đốc đi vắng có thể uỷ quyền cho phó Giám đốc thay mặt
Giám đốc giải quyết những vấn đề thuộc quyền Giám đốc. Phó giám đốc do
BAN
GIÁM ĐỐC
Xí nghiệp
sx khuôn
Nhà máy
Sứ
Chi nhánh
Phòng
KD
Phòng
XK
Phòng
TCLĐ
Phòng
KHĐT
Văn
phòng
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Có chức năng tham mưu cho Đảng uỷ và Giám đốc về công tác tổ chức
sản xuất, quản lý và sử dụng lực lượng lao động, thực hiện chế độ chính sách đối
với người lao động, tiến hành công tác thanh tra, bảo vệ, lập công tác thi đua
khen thưởng…
- Phòng kế hoạch - đầu tư:
Phòng kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc thực hiện kế
hoạch, chuẩn bị để Giám đốc ký hợp đồng kinh tế; giúp Giám đốc lập kế hoạch
để đề ra nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cho từng phòng ban cà các đơn vị kinh tế
trực thuộc, theo dõi thực hiện các hợp đồng sản xuất, quản lý kế hoạch vật tư,
phương tiện vận tải của công ty. Đảm nhận công tác quản lý và sử dụng vốn đầu
tư nhằm mở rộng và phát triển công ty.
- Các chi nhánh:
Có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tổ chức phân phối hàng hoá cho các
đại lý, ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các khách hàng trong và ngoài
nước. Đồng thời, hàng tháng lập và nộp báo cáo về toàn bộ quá trình hoạt động
của mình cho Công ty, chịu trách nhiệm thực hiện các công việc được giao. Các
chi nhánh chịu sự quản lý trực tiếp của phó Giám đốc kinh doanh. Công ty có 2
chi nhánh: Chi nhánh Đà Nẵng và Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
- Xí nghiệp sản xuất khuôn:
Có nhiệm vụ sản xuất khuôn mẫu bằng thạch cao để phục vụ cho công
đoạn gia công, tạo hình sản phẩm. Xí nghiệp có 2 phân xưởng: phân xưởng sản
xuất thạch cao và phân xưởng sản xuất khuôn mẫu và phòng thiết kế, phòng tổng
hợp khuôn mẫu.
- Nhà máy Sứ: Gồm Nhà máy Sứ Thanh Trì, Nhà máy Sứ Bình Dương và
phòng kỹ thuật KCS.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Nh mỏy S Thanh Trỡ l n v kinh t cú quy mụ ln nht v quan
bằng đất tương đối rộng khoảng hơn 64.000 m2 rất thuận lợi cho sản xuất và
kinh doanh.
- Công ty Sứ Thanh Trì được đánh giá có máy móc thiết bị, dây chuyền
công nghệ là tương đối hiện đại trong ngành sản xuất sứ ở Việt Nam. Dây
chuyền công nghệ, trang thiết bị của Công ty chủ yếu có nguồn gốc nhập ngoại
thông qua việc mua bán hoặc chuyển giao công nghệ từ nhiều nước phát triển.
Dây chuyên đó đã từng bước được hiện đại hoá qua những năm sau:
Năm 1994, do nhận định được nhu cầu ngày càng tăng của sứ vệ sinh,
công ty đã mạnh dạn đầu tư thực hiện dự án dây chuyền sản xuất sứ vệ sinh với
công nghệ và thiết bị của Italia có công suất thiết kế là 75.000 sản phẩm/năm với
tổng số vốn đầu tư trên 34 tỷ đồng Việt Nam. Dây chuyền này đi vào hoạt động
đã cho ra đời các sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp đạt tiêu chuẩn Châu Âu. Với ý
thức tiết kiệm, tận dụng hết năng lực của từng công đoạn, kết hợp với sự sáng
tạo trên cơ sở khoa học của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty đã
nâng công suất lên 100.000 sản phẩm/năm, bằng 133% công suất thiết kế. Trên
cở sở những kết quả đạt được đáng kích lệ đó, từ tháng 5/1996 đến tháng 4/1997,
Công ty đã thực hiện việc đầu tư lần 2 cải tạo và mở rộng dây chuyền sản xuất
nâng công suất từ 100.000 sản phẩm/năm lên 400.000 sản phẩm/năm với các
thiết bị máy móc chủ yếu được nhập từ Italia, Anh, Mỹ. Tổng số vốn đầu tư trên
90 tỷ đồng Việt Nam. Trong những năm gần đây Công ty đã liên tục nhập thêm
dây chuyên sản xuất khuôn mẫu, một số máy móc thiết bị sử dụng cho việc chế
tạo men chống dính...Hiện nay dây chuyền đang hoạt động của Công ty có năng
lực sản xuất lên đến 500.000 – 600.000 sản phẩm/năm, đứng đầu về sản lượng so
với các nhà máy sản xuất sứ vệ sinh trong nước.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh những ưu điểm về dây chuyền công nghệ của Công ty vẫn còn
một số hạn chế như: công nghệ sản xuất còn chưa mang tính đồng bộ ở tất cả các
khâu, đổi mới công nghệ vẫn còn ở dạng chắp vá, sản phẩm sản xuất ra chưa
đồng đều về mặt chất lượng…Cần phải thay thế dần những công nghệ lỗi thời,
(3.755.
310)
87,
43
Theo chủ
sở hữu
Vốn ngân
sách cấp
54.732.4
30 59,93
50.652.5
00 52,39
(4.079.
930)
92,
55
Vốn tự có
19.856.3
20 21,74
25.653.1
00 26,54
5.796.
780
129,
19
Vốn vay
16.740.9
30 18,33
20.374.8
50 21,07
cho vốn cố định tăng hơn 9,1 tỷ VNĐ tương ứng với 14,82%, lượng vốn lưu
động giảm xuống hơn 3,7 tỷ VNĐ tương ứng với 12,57% so với năm 2005. Tỷ lệ
vốn cố định năm 2006 khá cao ( 72,99%) là bất hợp lý hơn so với năm 2005.
Vốn ngân sách cấp chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng nguồn vốn của Công ty
nhưng lại có xu hướng giảm qua 2 năm. Năm 2006 vốn ngân sách cấp giảm
4.079.930 nghìn đồng tương ứng với 7,45% so với năm 2005. Trong khi đó vốn
tự có và vốn vay năm 2006 có xu hướng tăng so với năm 2005 trong đó vốn tự
có có xu hướng tăng nhanh hơn vốn vay. Vốn tự có tăng 5.796.780 nghìn đồng
tương ứng với 29,19%; vốn vay tăng 3.633.920 nghìn đồng tương ứng với
21.71%. Điều này thể hiện tình hình tài chính rất khả quan của Công ty.
1.3.3. Cơ cấu lao động
Lực lượng lao động luôn là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất. Là một doanh nghiệp có uy
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tín, Công ty Sứ Thanh Trì sở hữu một đội ngũ lao động đông đảo, có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao, có ý thức kỷ luật và đặc biệt là có kinh nghiệm làm
việc lâu năm trong lĩnh vực sản xuất sứ vệ sinh. Để có thể đánh giá chính xác về
thực trạng đội ngũ lao động trong Công ty, hãy xem xét cơ cấu lao động theo
giới tính, theo tính chất và trình độ qua bảng số liệu dưới đây:
Bảng số 2: Cơ cấu đội ngũ lao động của Công ty
Đơn vị: người
Lao động
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
So sánh
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dao động qua các năm tương đối thấp. Có thể nói Công ty có một đội ngũ lao
động ổn định, giàu kinh nghiệm. Trong đó số lao động nam năm 2004 là 434
người, năm 2005 là 437 người tăng 3 người tương ứng với 0,69% so với năm
2004 và năm 2006 là 439 người tăng 2 người tương ứng với 0,46% so với năm
2005. Lao động nữ năm 2004 là 114 người, năm 2005 là 108 người giảm 6 người
tương ứng với 5,26% so với năm 2004, đến năm 2006 là 111 người tăng 3 người
tương ứng với 2,78% so với năm 2005.
Như vậy, tổng số lao động nam có số lượng cao hơn lao động nữ và tăng
đều qua các năm. Số lao động nữ có xu hướng giảm ở năm 2005 so với năm
2004 song lại tăng ở năm 2006.Điều này là hợp lý vì đây là doanh nghiệp sản
xuất mặt hàng sứ vệ sinh là công việc nặng nhọc và có tính chất độc hại (đặc biệt
là ở bộ phận nhà máy Sứ) nên phù hợp với nam giới hơn. Lao động nữ trong
công ty chủ yếu làm ở bộ phận dịch vụ, bán hàng và tạp vụ. Cả lao động nam và
nữ của công ty tương đối ổn định, chỉ dao động không đáng kể.
Tổng số lao động gián tiếp và lao động phục vụ có xu hướng tăng nhưng
với tốc độ chậm, lao động trực tiếp có xu hướng giảm nhẹ. Cụ thể, năm 2004 số
lao động gián tiếp là 105 người, năm 2005 là 107 người tăng 2 người tương ứng
với 1,9% so với năm 2004, năm 2006 tăng 3 người tương ứng với 2,8% so với
năm 2005. Lao động gián tiếp đều có trình độ và học vấn cao từ trung cấp trở
lên, lao động có trình độ đại học là khá cao và có xu hướng tăng nhanh và đều
qua mỗi năm so với cao đẳng và trung cấp. Số lao động có trình độ trung cấp cao
hơn cao đẳng và có xu hướng giảm không đáng kể ( năm 2005 giảm 3 người
tương ứng với 9,09% so với năm 2004; năm 2006 giảm 1 người so với năm 2004
nhưng tăng 2 người tương ứng với 6,67% so với năm 2005) Điều này khẳng định
công ty Sứ Thanh Trì có đội ngũ lao động có trình độ cao, và dao động rất ít.
Lao động trực tiếp của công ty chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong tổng số lao động
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Công ty Sứ Thanh Trì đã sử dụng hệ thống kênh phân phối là các chi
nhánh, các đại lý và các cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc để đưa sản phẩm của
Công ty đến tận tay người tiêu dùng hoặc cũng có thể đến tận phòng kinh doanh
của Công ty để mua. Khách hàng của Công ty có thể là các hộ gia đình hay các
công ty xây dựng. Khách hàng lớn, tiềm năng và thường xuyên của Công ty
chính là các công ty xây dựng. Mục tiêu chính của Công ty là ký được hợp đồng
với các công ty xây dựng và lắp đặt các công trình vệ sinh tại các công trình xây
dựng của họ.
Ngoài ra Công ty còn luôn cố gắng tìm kiếm và phát triển các bạn hàng
nước ngoài nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ, phát triển thị phần, tăng doanh thu
tiêu thụ.
- Thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty không chỉ rộng khắp cả nước
mà còn mở rộng xuất khẩu ra cả nước ngoài. Theo đánh giá của Viện vật liệu
xây dựng, Công ty có thị phần tương đối lớn trên thị trường Việt Nam cụ thể
năm 2003 chiếm 24,45%, năm 2004 chiếm 23,38%, năm 2005 chiếm 23,59% và
năm 2006 chiếm 28,68% trong khi sản phẩm nhập ngoại trung bình hàng năm
chiếm 40% dung lượng thị trường.
* Thị trường trong nước:
Thị trường tiêu thụ của Công ty Sứ Thanh Trì được chia làm 3 miền Bắc,
Trung, Nam. Riêng thị trường Miền Bắc lại được chia thành 5 khu vực như sau:
+ Khu vực 1: Gồm các tỉnh Hà Nội và Hà Tây.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Khu vực 2: Gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình,
Quảng Ninh.
+ Khu vực 3: Gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh.
+ Khu vực 4: Gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Sơn La, Lai
Châu, Hoà Bình, Thái Nguyên.
Chênh
lệch
Tỷ lệ
(%)
1 Sản phẩm sản xuất sp 568 250 900 173 1 095 600 331 923 158.41 195 427 121.71
2 Sản phẩm tiêu thụ sp 494 527 831 556 1 120 771 337 029 168.15 289 215 134.78
3 Sản phẩm tồn kho sp 129 953 198 570 173 399 68 617 152.80 (25 171) 87.32
4 Doanh thu Ng.đ 70 389 367 120 324 355 113 529 018 49 934 988 170.94 (6 795 337) 94.35
5 Lợi nhuận Ng.đ 2 862 100 4 985 200 4 525 690 2 123 100 174.18 (459 510) 90.78
6 Số nộp ngân sách NN Ng.đ 4 295 617 5 582 545 6 404 256 1 286 928 129.96 821 711 114.72
7 Lao động bình quân người 548 545 550 (3) 99.45 5 100.92
8 Thu nhập bq lao động
Ng.đ/
người 1 669 1 782 1 965 113 106.77 183 110.27
9 Tỷ suất LN/DT % 4.07 4.14 3.99 0.08 101.89 (0.16) 96.22
10 Tỷ suất LN/VKD % 3.48 5.46 4.68 1.98 157.07 (0.78) 85.76
Nguồn: Phòng TCKT
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong hơn 45 năm tiến hành sản xuất kinh doanh Công ty Sứ Thanh Trì đã
đạt được những thành tựu đáng kể.
- Số sản phẩm sản xuất và tiêu thụ của Công ty liên tục tăng qua các năm
do nhu cầu tiêu thụ mặt hàng sứ vệ sinh trên thị trường ngày càng cao. Cụ thể, số
sản phẩm sản xuất cao nhất là năm 2006 là 1.095.600 sản phẩm bằng 192,8% so
với năm 2004 và 121,71% so với năm 2005. Số sản phẩm tiêu thụ cao nhất cũng
là năm 2006 với 1.120.771 sản phẩm chiếm 225,6% so với năm 2004 và
134,78% so với năm 2005. Do công tác dự báo thị trường và tính toán kế hoạch
không chính xác nên số sản phẩm sản xuất luôn lớn hơn số lượng tiêu thụ do đó
tỷ lệ tồn kho và số sản phẩm lưu kho khá cao dẫn đến chi phí lưu kho bị đẩy lên.
động ở mức thấp với số lượng và cơ cấu như đã nhận xét ở phần trên.
- Thu nhập bình quân lao động của Công ty khá cao, dao động ở mức từ
hơn 1,6 – 1,9 triệu VNĐ và có xu hướng tăng trong giai đoạn từ 2004 – 2006.
Năm 2004 thu nhập bình quân lao động đạt ở mức hơn 1,6 triệu VNĐ, năm 2005
tăng 6,77% so với năm 2004 thành hơn 1,7 triệu VNĐ và đến năm 2006 đạt ở
mức hơn 1,9 triệu VNĐ tăng 10,27% so với năm 2005.
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ( LN/ DT ) thể hiện 1 đồng doanh thu
thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Năm 2004,
tỷ suất LN/ DT là 4,07% thể hiện 1 đồng doanh thu đem lại 0,0407 đồng lợi
nhuận. Năm 2005 tỷ suất này tăng 1,89% so với năm 2004 lên thành 4,14 %.
Năm 2006 do tình hình kinh doanh khó khăn nên lại giảm 3,78% so với năm
2005 còn 3,99%.
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh thể hiện 1 đồng vốn tham gia kinh
doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Năm 2004, tỷ suất
LN/VKD là 3,48 % thể hiện 1 đồng vốn tham gia kinh doanh thì đem lại 3,48
đồng lợi nhuận. Đây là con số khá cao thể hiện tình hình kinh doanh tương đối
tốt của Công ty. Năm 2005 có xu hướng tăng 57,07% so với năm 2004 thành
5,46 %. Năm 2006 giảm 14,24% so với năm 2005 chỉ còn 4,68 %. Trong 3 năm
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
năm 2005 có tỷ suất LN/VKD cao nhất cũng là năm có tình hình kinh doanh khả
quan nhất.
Trên đây là những kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đáng chú ý của
Công ty Sứ Thanh Trì giai đoạn 2004 – 2006. Theo đánh giá chung, hoạt động
kinh doanh của Công ty tương đối tốt. Tuy nhiên để đánh giá hoạt động tiêu thụ
sản phẩm trên thị trường nội địa của Công ty được chính xác cần nghiên cứu
Chương tiếp theo.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG II
sách quan tâm, động viên đội ngũ lao động trong kênh phân phối cụ thể là nhân
viên phòng kinh doanh, các cửa hàng, đại lý, nhà phân phối độc quyền…để họ cố
gắng phục vụ khách hàng với thái độ tốt nhất. Ngoài ra, nhân viên bán hàng còn
phải có các chính sách chăm sóc khách hàng đặc biệt là những khách hàng lâu
năm và quan trọng qua việc thường xuyên liên lạc, thăm hỏi… để tạo mối quan hệ
thân thiết với khách hàng khiến họ luôn nhớ đến Công ty mỗi khi tiêu dùng sản
phẩm sứ vệ sinh.
2.1.1.2. Năng lực hoạt động của Bộ máy quản trị
Đội ngũ lãnh đạo của Công ty trong lĩnh vực kinh doanh còn rất trẻ, chỉ trên 30
tuổi. Phó giám đốc kinh doanh là người phụ trách tiêu thụ sản phẩm, tổ chức
mạng lưới bán hàng, các đại lý tiêu thụ sản phẩm cho Công ty, được uỷ quyền ký
kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của Công ty và chịu trách nhiệm trước Giám
đốc về tình hình kinh doanh của Công ty. Trợ giúp cho phó Giám đốc kinh
doanh là trưởng phòng kinh doanh. Do đội ngũ lãnh đạo trẻ tuổi, nhiệt tình, năng
động nên rất nhạy bén trước các cơ hội kinh doanh, nắm bắt được các thời cơ và
nhạy cảm trước các nguy cơ giúp Công ty đề ra các chính sách tiêu thụ hợp lý.
2.1.1.3. Giá cả hàng hoá
Khi mua sắm bất cứ sản phẩm nào người tiêu dùng cũng muốn tối đa hóa
lợi ích của mình. Với cùng một loại sản phẩm có mẫu mã, kiểu dáng và chất
lượng gần tương tự nhau người tiêu dùng luôn dùng tiêu chí giá cả để so sánh.
Để có quyết định về chính sách giá cả đúng đắn có lợi cho Công ty, các cửa
hàng, đại lý và có thể cạnh tranh được với đối thủ cạnh tranh là điều không dễ.
25