ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ SÁNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG NITRATE TRONG
RAU TẠI VÙNG SẢN XUẤT RAU XÃ ĐỒNG BẨM
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Lớp : K42- KHMT(NO2)
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Chí Hiểu
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, dựa trên sự cố gắng rất nhiều
của bản thân em, nhưng không thể thiếu sự giúp đỡ hỗ trợ của các thầy cô,
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất rau ở một số nước trên thế giới năm 2012 7
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 8
Bảng 2.3: Hàm Nitrat cho phép trong một số loại rau quả theo tiêu chuẩn của
Tổ chức Y tế thế giới WHO 20
Bảng 2.4: Giới hạn hàm lượng Nitrate cho phép trong một số loại rau quả
tươi tại Việt Nam 21
Bảng 3.1. Các kí hiệu mẫu rau tại Đồng Bẩm để nghiên cứu như sau: 23
Biểu 4.1: Thống kê hiện trạng sử dụng đất xã Đồng Bẩm (số liệu năm 2013) 28
Bảng 4.2. Tên các dự án đang xây dựng và hoàn thành tại xã Đồng Bẩm 29
Bảng 4.3. Tình hình sử dụng phân bón cho rau ở Xã Đồng Bẩm 35
Bảng 4.3. Hàm lượng Nitrate trong rau Bắp cải 37
Bảng 4.4. Hàm lượng Nitrate trong rau Xà lách 37
Bảng 4.5. Hàm lượng Nitrate trong rau Bí 38
Bảng 4.6. Hàm lượng Nitrate trong rau 39
Bảng 4.7. Bảng so sánh hàm lượng NO3
-
trong rau tại Đồng Bẩm với rau
VIETGAP 40
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Bản đồ địa giới hành chính xã Đồng Bẩm thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên 26
Hình 4.2. Đồ thị tổng hợp hàm lượng Nitrate trong rau tại xã Đồng Bẩm 39
Hình 4.3. Đồ thị so sánh hàm lượng NO3
-
trong rau tại Đồng Bẩm với rau
VIETGAP 41
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN
2.2. Tổng quan về tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam 6
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới 6
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại Việt Nam 8
2.3. Dinh dưỡng của đạm cho rau và vấn đề tồn dư Nitrat (NO
3
-
) 9
2.3.1.
Vai trò của N đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây rau 9
2.3.2. Độc
tính
của
Nitrat
(NO
3
-
) 10
2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến sự tích lũy Nitrat trong rau
12
2.4. Tiêu chuẩn về Nitrat (NO
3
-
) trong rau của thế giới và của Việt Nam 20
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1. Đối tượng nghiên cứu 22
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3. Nội dung nghiên cứu 22
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống của người dân được
nâng cao chăm lo tới sức khỏe nhiều hơn. Con người chú trọng tới thức ăn và
dinh dưỡng hằng ngày, trong đó không thể thiếu các loại rau quả tươi.
Rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy lượng protid và lipid trong
rau tươi không đáng kể, nhưng chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt
tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, cung cấp
sắt, các chất pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra trong rau tươi còn có loại đường
tan trong nước và chất xenluloza.
Tuy nhiên, trên thị trường Việt Nam hiện nay nhu cầu về số lượng và
chất lượng rất đáng chú ý, đặc biệt là rau quả đảm bảo an toàn vệ sinh . Do
diện tích đất nông nghiệp trồng rau ngày càng thu hẹp, nhu cầu tiêu dùng càng
tăng cùng với nhận thức chưa đúng đắn của người sản xuất rau trong sử dụng
các loại thuốc bảo vệ thực vật và các loại phân bón , đặc biệt là phân đạm
giúp cho rau xanh tốt sử dụng thừa thải gây tồn dư nhiều trong rau quả làm
giảm giá trị dinh dưỡng và ảnh hưởng sức khỏe con người. Thành phố Thái
Nguyên là một trung tâm kinh tế, chính trị ở khu vực phía Bắc Việt nam. Với
mật độ dân số đông (1.367 người/km
2
), tổng diện tích tự nhiên là 15.169ha,
trong đó đất nông nghiệp là 5.938ha, và dân số hiện nay là 1.143.000
người(2010), riêng thành phố Thái Nguyên là 330.707 người (2010). Vì vậy
thành phố Thái Nguyên là một thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm
nông nghiệp, trong đó có rau xanh.
Đồng Bẩm là một xã ngoại thành của thành phố Thái Nguyên, ngăn
cách phần trung tâm thành phố bởi sông Cầu, diện tích: 402,37 ha diện tích tự
- Nâng cao chuyên môn có thêm kinh nghiệm cho công việc sau này
khi ra trường công tác
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Xác định được hàm lượng Nitrate trong một số loại rau thương phẩm
- Kết quả của đề tài làm căn cứ, nền tảng để cho các nghiên cứu tiếp
theo và đề xuất các giải pháp phù hợp.
1.4.3. Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sau khi hoàn thành sẽ cung cấp số liệu để:
3
Phổ biến, khuyến cáo người dân và làm tăng sản xuất và tiêu dùng rau an
toàn, góp phần xây dựng thương hiệu, mở rộng mô hình trồng rau an toàn.
Làm cơ sở cho cơ quan chức năng quan tâm đến các dự án phát triển
sản xuất rau sạch cho thành phố trong tương lai
Giúp người trồng rau thay đổi kỹ thuật trồng rau, góp phần bảo vệ
môi trường.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở pháp lý
Đề tài căn cứ vào các văn bản pháp luật liên quan đến vệ sinh an toàn
thực phẩm sau:
Luật An Toàn Thực Phẩm ngày 17/06/2010 .Số 55/2010/QH12 do
Quốc Hội ban hành
Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính
phủ Quy định chi tiết hiện hành một số điều của luật An toàn thực phẩm
Nghị định số 178/2013/NĐ-CP có hiệu lực ngày 31/12/2013 của Chính
lượng tuy không nhiều nhưng đáng chú ý là protein. Trong rau chứa nhiều
lizin(5 – 7 %) và mỗi loại rau có tỷ lệ axit amin khác nhau nên khi ăn nhiều
loại rau có tác dụng lớn cho việc sử dụng protein của rau. Chất xơ trong rau
giúp cho hệ tiêu hóa được điều hòa, chống táo bón, giữ được cảm giác no
(Trần Khắc Thi & cs, 1994) [24].
Về Giá trị kinh tế : Các loại cây rau màu với thời gian sinh trưởng
ngắn, có thể sản xuất nhiều vụ trong năm, luân canh, xen canh dễ dàng phù
hợp với nhiều thời tiết nên được coi là cây trồng chủ lực trong chuyển dịch cơ
cấu xóa đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam
Rau là nguồn nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm như công
nghiệp đồ hộp; công nghiệp bánh kẹo( bí xanh , cà rốt…); công nghệ chế biến
thuốc dược liệu( tỏi , hành, rau gia vị….); làm hương liệu như hạt mùi. Ngoài
ra còn góp phần phát triển ngành chăn nuôi( Bùi Bảo Hoàn & cs, 2000) [14].
Khái niệm về rau an toàn: “ Những sản phẩm rau tươi(bao gồm các
loại rau ăn lá, củ, thân, hoa, quả) có chất lượng như đặc tính của chúng, mức
độ nhiễm các chất độc hại và các vi sinh vật gây hại không vượt quá chỉ tiêu
cho phép, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “ Rau an toàn” (Theo
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Chất lượng của rau an toàn: Rau an toàn phải đạt các yếu tố sau
Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu
cầu từng loại rau, không dập nát, hư thối, không lẫ tạp chất, sâu bệnh và bao
gói thích hợp(tùy loại) (FAO).
6
Chỉ tiêu nội chất: Chỉ tiêu cho nội chất được quy định cho rau tươi
gồm: dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, hàm lượng nitrat (NO
3
-
), hàm lượng
một số kim loại nặng chủ yếu như Cd, Pb, Cu, ZN….Mức độ nhiễm các vi
các
loại
vitamin,
các
chất
chống
ôxi
hoá
tự
nhiên,
có
khả năng
chống
lại
một
dự
báo
của Bộ
nông nghiệp
Hoa Kỳ
(USDA) do
tác động của các yếu tố như sự thay đổi cơ cấu dân số, thị hiếu
tiêu dùng và thu nhập dân cư, tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong
7
giai đoạn 2005 - 2010, đặc biệt là rau ăn
lá.
Việc tiêu thụ
rau diếp
và
các
loại rau ăn
lá khác
( Nguồn : FAO Start Database Results 2012 – Ngày 7/2/2014)
Tiêu dùng hoa quả và rau tươi tại thị trường ngày một gia tăng do
hướng tới một lối sống ngày càng khỏe mạnh. Nhu cầu sử dụng và tiêu dùng
rau quả tại thị trường Bắc Âu được phân thành 4 loại chính: sản phẩm tốt cho
sức khỏe, sản phẩm hữu cơ và thương mại lành mạnh, sản phẩm đặc thù dân
tộc và sản phẩm tiện dụng. Nhập khẩu thường chiếm khoảng 70% nguồn cung
rau quả cho thị trường Bắc Âu, trong đó 70% là hoa quả, còn 30% là rau, tốc
độ tăng trưởng trong 3 năm qua là 8%/năm.
8
Tiêu thụ rau quả tươi hộ gia đình tại Tây ban Nha trong 2 tháng đầu
năm 2013 tăng 1% so với cùng tháng năm ngoái 1, 388 triệu kg.tiêu thụ khoai
tây tăng 2,7% đạt tổng cộng 181 triệu kg.
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại Việt Nam
Việt nam có lịch sử trồng rau từ lâu đời, với điều kiện khí hậu rất
thích hợp cho sinh trưởng, phát triển và tạo hạt của các loại rau, kể cả rau
có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới. Cho tới nay có khoảng 70 loài thực vật
được sử dụng làm rau hoặc được chế biến thành rau. Riêng rau trồng có
khoảng hơn 30 loài trong đó có khoảng 15
loài
là
chủ
lực,
trong
cho
thu
nhập
quan
trọng
cho
nông
hộ
(Hồ
Thanh
Sơn
và
cs, 2005[20]).
Trong tháng 7/2013, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả tăng khá mạnh,
ước đạt 70 triệu USD, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm 2012. Tính chung 7
tháng năm 2013, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả đạt 494,4 triệu USD, tăng
28,8% so với cùng kỳ năm 2012( Rau quả Việt Nam , 2013) [19].
năm
gần
đây
nhà
nước, ngành nông nghiệp và các địa phương đã có rất nhiều chủ trương
giải pháp nhằm nhanh chóng phát triển các mô hình trồng rau an toàn. Trên
thực tế ở Việt Nam hiện nay có hai loại hình phát triển rau an toàn chủ yếu:
+ Thứ nhất là mô hình rau sạch trên diện tích hẹp đầu tư cao về cơ sở
vật chất kỹ thuật. Đó là mô hình trồng rau trong nhà kính, nhà lưới, trồng rau
9
thuỷ canh,
trồng
rau
trên
giá
thể
….Ưu điểm
của
rau
trái
vụ,
hay
bị
tác
động
bất
lợi
của
thời
tiết, nhưng có ưu điểm là nhiều nông dân có thể tham gia áp dụng,
diện tích và sản lượng thu hoạch lớn nên đáp ứng được nhu cầu của đông đảo
người tiêu dùng, khai thác được các ưu thế của thời tiết nhiệt đới, giá thành
thấp, tác động tích cực nhanh đến nông nghiệp, môi trường và cộng đồng xã
hội, dễ mở rộng quy mô sản xuất. Đây được gọi là mô hình “sản xuất rau
sach cộng đồng” đã được nghiên cứu ứng dụng và khởi xướng từ tỉnh Vĩnh
Phúc thời kỳ 2000 – 2003, từ đó lan ra khá nhiều địa phương như Hà Nội,
các prôtêin - chất cơ bản biểu hiện sự sống. Nitơ nằm trong nhiều hợp chất cơ
bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các chất men. Các
bazơ nitơ là thành phần cơ bản của axit nucleic, trong các ADN và ARN của
nhân tế bào, nơi cư trú các thông tin di truyền đóng vai trò quan trọng trong
việc tổng hợp prôtêin. Do vậy N là yếu tố cơ bản trong việc đồng hoá C, kích
10
thích sự phát triển của bộ rễ và hút các yếu tố dinh dưỡng khác. Cây trồng
được bón đủ đạm lá có màu xanh lá cây thẫm, sinh trưởng khỏe mạnh, chồi
búp phát triển nhanh, năng suất cao. Theo Bùi Quang Xuân và nnk (1996)
[27]: với cải bắp liều lượng đạm có quan hệ chặt với năng suất ở mức 200 kg
N/ha, năng suất cải bắp đạt cao nhất 430 tạ/ha, ở mức dưới 200 kg N/ha thì
năng suất đạt thấp 320 tạ/ha.
Bón thừa đạm lá cây có màu xanh tối, thân lá mềm, tỷ lệ nước cao, dễ
mắc sâu bệnh, dễ lốp đổ và thời gian sinh trưởng kéo dài. Bón nhiều đạm và
không cân đối thì dẫn đến sự tích luỹ nitrat trong cây và làm ô nhiễm nitrat
trong nước
Cây trồng hút đạm ở cả hai dạng NH
4
+ và NO
3
-
. Mức độ hấp thu nhiều
N-NH
4
+ hoặc N-NO
3
- của cây trồng phụ thuộc vào tuổi, loại cây trồng, môi
trường và các yếu tố khác. Một số loại rau như bắp cải, củ cải sử dụng được
cả NH
(NO
3
-
)
Sự tích luỹ NO
3
-
cao trong mô cây không gây độc đối với cây nhưng
khi sử dụng cây có hàm lượng NO
3
-
cao có thể làm hại gia súc và con
người đặc biệt là trẻ em do NO
3
-
được tích lũy trong bộ máy tiêu hoá có
khả năng khử thành NO
2
-
:
2H
+
+ 2e
=
H
2
O
nên
ung
thư,
đặc
biệt
là
ung
thư
dạ
dày
(Bùi Quang
Xuân
và
cs,
1996
amin
bậc
2
từ
đó11
tiếp
tục
chuyển
thành nitrosamine.
Ngày
nay
nhiều
tác
giả
do
oxyhemoglobin
đã
ôxy hoá
Fe
2+
thành Fe
3+
làm
cho
phân
tử hemoglobin mất khả
năng kết hợp với oxy
tức là việc trao đổi khí của hồng cầu không được thực hiện
(Wite 1975) [34].
Cơ chế này dễ dàng xảy ra với trẻ nhỏ đặc biệt là trẻ có
sức khoẻ yếu,
tiêu
hoá kém vì trẻ
tuổi có một số đặc điểm sinh lý khác với trẻ lớn hơn và người lớn, trong đó sự
chuyển hóa các chất, đặc biệt là chất độc, chưa hoàn chỉnh. Nếu cho trẻ dưới
6 tháng tuổi bú sữa với nước pha củ dền, cà rốt trẻ sẽ uống phải một lượng lớn
nitrat, nitrit. Riêng nitrat cũng sẽ bị các vi khuẩn ở đường tiêu hóa chuyển hóa
thành nitrit cộng với nitrit có sẵn phân tán khắp trong máu của trẻ.
- Trẻ bị ngộ độc nitrit mặc dù vẫn có đủ không khí để hít thở bình
thường nhưng sẽ khó thở, tím tái, suy hô hấp và dẫn tới tử vong.
12
- Trẻ lớn hơn dùng củ dền, cà rốt không sao bởi vì cơ thể có khả năng
chuyển hóa, giải độc tốt hơn, trong khi trẻ dưới 6 tháng tuổi thì sự giải độc
này rất chậm và khó khăn hơn nhiều.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp trẻ lớn vẫn bị ngộ độc nitrat, nitrit bởi
đã ăn uống quá nhiều cà rốt trong thời gian dài, lượng hấp thu nitrat, nitrit quá
nhiều. Cũng không loại trừ trường hợp trẻ bị ngộ độc bị suy giảm hệ thống
enzym chuyển hóa chất độc.
Để đảm bảo sức khỏe, phòng tránh ngộ độc cho trẻ nhỏ, các bậc cha mẹ
cần lưu ý, tuyệt đối không cho trẻ dưới 6 tháng tuổi ăn, uống nước củ dền.
Với trẻ lớn, cần chú ý liều lượng vừa đủ, trung bình từ 1 - 3 lần/tuần, mỗi lần
khoảng 50g củ dền.(NutiFood , 2013) [17].
2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến sự tích lũy Nitrat trong rau
Theo các nhà khoa học thì có đến 20 yếu tố gây tồn dư nitrat trong
nông sản như: nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, nước tưới, biện pháp canh tác…
nhưng nguyên nhân chủ yếu được các nhà nông học khẳng định đó là phân
bón đặc biệt là phân đạm, do sử dụng không đúng: bón với liều lượng quá
cao, bón sát thời kỳ thu hoạch, bón không cân đối với lân, kali và vi lượng.
2.3.3.1 Ảnh hưởng của phân bón
+
Phân
Thực
tế
cây
trồng được cung
cấp
đủ đạm sẽ
phát
triển
mạnh,
tổng
hợp được nhiều chất tạo
nên sinh khối và tăng sản phẩm. Nhưng bón nhiều
đạm trong
điều
kiện
quang
thành
axitamin,
N
sẽ
tích
luỹ
trong
cây
ở
dạng Nitrat hoặc Cyanogen.
- Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến năng suất và tồn dư NO
3
-
trong rau
Ở Việt Nam do chạy theo năng suất và lợi nhuận, người sản xuất đã lạm
dụng phân đạm.
Trong khi sử dụng phân đạm
theo
kg N/ha
với
xu hào, bắp cải là 550 kg N/ha, cà chua là 640 kg N/ha.
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định sử dụng lượng lớn phân đạm và
không hợp lý là nguyên nhân dẫn đến hàm lượng nitrat cao trong sản phẩm.
Theo Tạ Thu Cúc (1996) [8] khi bón phân đạm vào đã làm tăng tồn
dư NO
3
-
trong cà chua từ 370 mg/kg lên 485 mg/kg và hành tây từ
72,8
mg/kg lên 87,4 mg/kg.
Tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón đối với sự tích luỹ
nitrat
trong
rau
cải
bẹ
xanh
-
/kg ở mức 180 kg N/ha.
Kết quả nghiên cứu của Đặng Thu Hoà (2002) [13] trên đất phù sa
Sông Hồng
cũng
cho
kết
quả
tương
tự,
tăng
lượng
đạm
bón
làm
tăng
sự
Người
sản
xuất
hầu
như
không quan
tâm
đến
tồn
dư
nitrat
trong
rau
mà
thời
dư
NO
3
-
trong
rau liên quan chặt chẽ tới sự cung cấp đạm và quá trình quang hợp trước
lúc thu hoạch. Nếu có đủ thời gian và điều kiện để cây quang hợp mạnh tạo
ra glucid và hô hấp tạo ra acetoacid thì hàm lượng NO
3
-
trong cây không
14
đến mức gây độc.
Do
đó
thời
gian
bón
đạm
hấp
thụ
N
và
tích
luỹ
NO
3
-
nhanh
hay chậm
còn
phụ
thuộc
vào
từng
khoảng 20
ngày.
Thời gian bón
thúc
sau
cùng
càng
xa
ngày
thu
hoạch
thì
lượng
nitrat
trong
rau
tươi)
sau
đó
giảm
dần
theo
thời
gian
và
đến
25 ngày thì giảm hẳn dưới ngưỡng cho phép (426 mg NO
3
-
/kg rau tươi)
+ Đối với đậu Hà lan, đậu côve: tồn dư nitrat đạt cao nhất vào thời
điểm 7 ngày sau bón thúc lần cuối và được giảm dần ở các ngày sau đó,
nhưng nếu bón đạm ở mức cao (>300 kg N/ha) thì sau 10 ngày tồn dư nitrat
điểm
20 ngày sau khi ngừng bón N và sẽ giảm dần ở các ngày tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Xuân (1998) [28] cũng cho thấy
hàm lượng nitrat trong cải bắp thực sự giảm sau 16 - 20 ngày bón N lần
cuối, nếu hoà phân đạm vào nước tưới thì thời gian bón thúc lần cuối rút
ngắn hơn từ 2 - 4 ngày.
Kết quả nghiên cứu
trong
thí nghiệm
chậu
vại trên nền đất phù
sa
Sông Hồng tại Hà Nội, Đặng Thu Hoà (2001) [13] cho biết: Đối với rau
muống ở mức bón 120 - 210 kg N/ha thì hàm lượng nitrat trong rau muống
đạt cao nhất trong khoảng 7 - 10 ngày sau bón thúc đạm lần cuối giảm dần ở
15
những ngày tiếp theo, với xà lách và dưa chuột hàm lượng nitrat đạt cao nhất ở
ngày thứ 3 - 5.
+
Phân
và
các
hợp
chất
quan trọng khác.
Vai trò của lân đối với sự tích luỹ NO
3
-
trong cây cũng đã được rất
nhiều nghiên
cứu khẳng định. Khi sử dụng phân lân ở
các mức khác
nhau
đối với bắp cải và cà chua trên nền bón đạm tại Đông Anh (Hà Nội), Bùi
Quang Xuân và
cs
(1996) [27] cho
thấy: Với cải bắp,
cùng với mức bón
vậy
tại
các
vùng
trồng
rau
hiện
nay
lượng
phân
lân
sử
dụng
rất
ít thường chỉ đạt khoảng 50% so với qui trình sản xuất rau an toàn, như
cà chua 21-40 kg P
P
2
O
5
/ha
(Đặng
Thu
Hoà, 2003[13]). Như vậy sử dụng phân lân ít trong khi đó phân đạm
sử dụng với mức cao nên dẫn đến sự tích luỹ nitrat cao trong sản phẩm.
+
Phân
kali
: Cũng như lân, nông dân hầu như chưa có thói quen sử
dụng phân
kali.
Các
kết
quả
điều
bón.
Các
nghiên
cứu
đã
khẳng
định
cùng
với phân
lân,
phân kali
được bón
kết hợp
cùng
với phân đạm
kg
N/ha
cho
cải
bắp
thì
hàm
lượng
nitrat
trong
rau
là
930
mg
NO
thì
hàm lượng nitrat trong cải bắp giảm xuống chỉ còn 480 mg NO
3
-/kg.
+
Phân
hữu
cơ:
Việc bón phân hoá học chỉ là biện pháp trước mắt,
tức thời, nếu chỉ bón đơn thuần phân hoá học thì về lâu dài đất sẽ bị bạc
màu, sức sản xuất của đất giảm. Bón phân hữu cơ nhằm cân đối dinh dưỡng
và cơ chất cho đất tăng cường độ màu mỡ tự nhiên của đất. Hướng tới
mục tiêu “nông nghiệp
bền
vững”
thì
biện
pháp
ổn
hữu
cơ
ở
một
thời
điểm nhất định có sự giải phóng đạm vì vậy ngoài chức năng cải
tạo đất phân hữu cơ
còn
là
nguồn
cung
cấp
đạm
cho
cây,
vì
giải
phóng
nhiều
vào
giai
đoạn cuối
sẽ
gây
tồn
dư
NO
3
-
cao
trong
sản
làm tăng hàm lượng nitrat trong cải bắp, nếu bón
liều lượng quá cao 45 tấn phân chuồng/ha thì
hàm
lượng
nitrat
trong
cải
bắp
tăng
mạnh,
liều
lượng
thích
hợp
nhất
phân
chuồng
sử
dụng
cho
cây
trồng
rất
ít
do nguồn
phân
hữu
cơ
và
nguy
là
bón
phân
tươi,
nước
giải
trực
tiếp
cho
rau theo định kỳ 3 - 5 ngày một lần (Đặng Thu Hoà, 2002[13]),
Đinh Văn Hùng và cs, 2005 [15]), đây cũng là một nguyên nhân gây tích
luỹ nitrat và các hoá chất độc hại trong rau.
+
Phân
vi
lượng
:
3
-
thành NH
4
+
như
Nitratreductaza
chứa
Mo,
Cu
và
Hydrôylaminreductaza
chứa
Mn,
Mo. Cây trồng nghèo
Bo dẫn đến tích luỹ NO
3
-
trong thân và
phosphoril hoá, quá trình khử CO
2
làm tích luỹ NO
3
-
trong
cây.
Mo nằm trong cấu trúc của enzim nitratredutaza có vai trò thúc đẩy
quá trình khử CO
2
trong cây. Cu có vai trò
thúc đẩy quá trình quang hợp
của cây. Như vậy chế độ dinh dưỡng thiếu các nguyên tố vi lượng cũng là
nguyên nhân gây tồn dư nitrat trong rau.
2.3.3.2 Ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết, ánh sáng, thu hoạch và bảo quản
Dư lượng NO
3
-
trong rau chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố khí hậu
thời tiết. Trong giai đoạn cuối chuẩn bị thu hoạch, nếu gặp thời tiết lạnh, trời
âm u thì khả năng tích luỹ NO
3
-
rất lớn.
Các
cây
kính
từ
2
- 12
lần,
nhất
là
các
cây
ăn
lá,
với
cùng
một lượng phân đạm cải bắp trồng trong nhà kính có hàm lượng NO
3
-
quá
trình
khử
nitrat
ở
rễ
nên
hàm
lượng
NO
3
-
trong rau sẽ cao.
2.3.3.3 Ảnh hưởng của đất trồng, nước tưới bị ô nhiễm tới mức độ tích luỹ
nitrat trong rau
Thực tế môi trường đất, nước luôn là nơi tiếp nhận các nguồn thải.
Tại những vùng sản xuất nông
nghiệp
môi trường đất,
sản xuất công nghiệp, nước thải đô thị… và một điều tất yếu từ môi
trường theo vòng tuần hoàn sẽ đi vào nông sản.
+
Ảnh hưởng của nguồn đất bị ô nhiễm tới mức độ tích luỹ nitrat trong rau
Trong
vùng
trồng
rau,
đất
thoáng
khí,
độ
ẩm
thích
hợp
cho
quá
trình
phân giải
chất
hữu
cơ
trong
đất
hoặc
do
bón
phân
đạm
vào
đất
chuyển
4
+
+ 3O
2
→
HNO
2
+ 2H
+
+ HOH