1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội
2
*** NGUYN TH NGC QUYấN
PHONG CCH NGH THUT
TRUYN NGN KIM LNluận văn thạc sĩ ngữ văn
Hà Nội, 2010
3
1.3. Kim Lân là một trong số nhà văn suốt đời trung thành với một thể loại
sáng tác là truyện ngắn. Đây là một thể loại tập cho người viết nhiều nết quý lắm, vì
chỉ với truyện ngắn người ta mới biết tận dụng từng chỗ, lo săn sóc từng chữ. Trên
thực tế số nhà văn chuyên viết truyện ngắn và nổi tiếng nhờ truyện ngắn rất hiếm
hoi. Ở Việt Nam lại càng hiếm. Kim Lân là một trong số ít nhà văn hiếm hoi đã
khẳng định được tên tuổi của mình nhờ truyện ngắn. Do vậy chọn đề tài “Phong
cách nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân” chúng tôi mong muốn giúp bạn đọc hiểu
sâu hơn về thể loại ngày càng được ưa thích này, đồng thời thấy được những đóng
góp quý báu của Kim Lân đối với sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp đã nói rằng: "Văn chương là nỗi đam mê nhưng
cũng là niềm hệ lụy với nhiều người. Đam mê vì văn chương bao giờ cũng có sức
quyến rũ, nhiều người cứ như mất hồn vì nó, đứng ngồi không yên vì nó. Hệ lụy vì
bê trễ chuyện nhà chuyện cửa, vợ con nheo nhóc, trong khi đó mình cứ đau khổ dằn
vặt suốt đời mà chắc gì có nổi câu văn hay, một câu thơ ám ảnh. Có những nhà văn
quyết chí trao cả đời mình cho văn chương như một dấn thân vì cái đẹp, lại có
những kẻ viết văn như sự tình cờ. Còn Kim Lân? Ông bước vào làng văn bằng niềm
yêu mê văn học nghệ thuật từ nhỏ. Với ông viết văn cũng chính là viết về mình,
những cảm nhận của mình" [47, tr324]. Kim Lân có một hoàn cảnh sống rất đặc
biệt và chính hoàn cảnh sống này đã có ảnh hưởng rất lớn đến nhà văn. Nếu như
Nguyễn Tuân yếu tố thời đại có tác động đến văn chương thì nhà văn Kim Lân yếu
tố gia đình lại có ảnh hưởng rất lớn đến nhà văn. Kim Lân sinh ra trong một gia
đình không hạnh phúc. Mẹ ông là người vợ lẽ ngụ cư, quê gốc ở Kiến An - Hải
Phòng. Người cha của ông là người rất sành chơi, dù có hai vợ nhưng vẫn lấy mẹ
ông về để giúp việc trong nhà. Thân phận con của người vợ lẽ, của dân ngụ cư đã
trở thành nỗi ám ảnh với Kim Lân từ khi ông sinh ra. Cuộc sống sau này của nhà
văn còn có nhiều nỗi cơ cực, tủi nhục hơn thế. Người cha mất sớm, ông phải bỏ học
kiếm sống giúp gia đình. Cho đến khi trở thành nhà văn nổi tiếng, Kim Lân vẫn
trình nghiên cứu này đã làm sáng tỏ được nhiều nét đặc sắc trong sự nghiệp sáng
5
tác, cùng những thành công của nhà văn trên phương diện nội dung và nghệ thuật
biểu hiện của tác phẩm.
Trước cách mạng tháng Tám có Lữ Quốc Văn, Vũ Bằng, Nguyên Hồng…Lữ
Huy Nguyên trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân khẳng định: “Người đã thành
công trong một loạt truyện ngắn về thú chơi đặc biệt nổi tiếng với các truyện viết về
phong tục làng quê, đến nỗi Lữ Quốc Văn đã phải viết thành chữ nghĩa hẳn hoi
rằng Kim Lân là nhà tiểu thuyết phong tục hạng nhất ở nước ta” [41, tr18-19].
Nhà văn Vũ Bằng chính là người có công phát hiện, động viên và khuyên
Kim Lân nên viết về mảng sinh hoạt phong tục: “Ông viết truyện nghèo khổ cũng
được, nhưng không bằng những ông Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, các ông ấy
đã thành rồi. Ông viết những truyện như Đôi chim thành, Đấu vật, Chó săn…thì
không ai tranh được chiếu của ông” [25].
Sau cách mạng tháng Tám có nhiều bài viết sâu sắc, thuyết phục về thành
công trong sáng tác của Kim Lân. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh trong Tổng
tập văn học Việt Nam nhận xét: “Văn Kim Lân tỏ ra độc đáo và hấp dẫn hơn khi
ông viết về những cái gọi là “Thú đồng quê” hay “Phong lưu đồng ruộng”. Đó là
những phong tục ăn chơi hay đúng hơn những sinh hoạt văn hóa của dân quê, như
trồng cây cảnh, đánh vật, chơi chim bồ câu, nuôi chó săn, gà chọi. Đuổi tà, Đôi
chim thành, Con mã mái sở dĩ có sức hấp dẫn, không phải vì ở đấy những tập
quán ngộ nghĩnh kì lạ, những thú chơi phiền phức, cầu kì được trình bày cặn kẽ, mà
chính nhà văn đã làm hiện lên những con người của làng quê Việt Nam độc đáo kia,
tuy nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời” [45, tr61].
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá viết: “Ông (Kim Lân) được dư luận chú ý
nhiều hơn khi đi vào đề tài độc đáo; ghi nhận sinh hoạt văn hóa phong phú của
thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả chim…). Các truyện Đôi chim thành, Con mã mái,
Chó săn…tuy nghiêng nhiều về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi
lành mạnh kể trên, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông
đọc, giới văn nghệ sĩ, phóng viên, nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn, nhất từ khi
1996 khi Tuyển tập Kim Lân do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn ra đời. Càng ngày
7
các bài viết về Kim Lân càng đa dạng về hình thức và nội dung. Ngoài ra có thể kể
đến một số luận văn thạc sĩ như:
+) Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn Kim
Lân, ĐHSPHN, 1997 của Nguyễn Văn Bao.
+) Khuynh hướng phong tục trong sáng tác trước 1945 của Tô Hoài, Bùi
Hiển, Kim Lân, ĐHSPHN, 1999 của Trần Văn Hồng.
+) Những đặc sắc truyện ngắn Kim Lân, ĐHSPHN, 2002 của Nguyễn Tiến
Đức.
+) Nông thôn và hình ảnh người nông dân trong sáng tác của Kim
Lân,ĐHSPHN, 2003 của Mã Thu Hà.
+) Phong cách nghệ thuật Kim Lân, ĐHSPHN, 2004 của Nguyễn Thị Thu.
Chúng tôi coi đây là những gợi ý hết sức quý báu trong quá trình thực hiện
đề tài “Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu truyện ngắn Kim Lân, luận văn nhằm mục đích chỉ ra những nét
đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của truyện ngắn Kim Lân. Từ đó thấy
được phong cách nghệ thuật riêng độc đáo của nhà văn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tiểu sử, sự nghiệp văn học của Kim Lân để thấy được con đường
đến với văn chương của nhà văn có gì độc đáo so với các nhà văn khác.
- Khảo sát các tác phẩm để tìm ra những quan niệm nghệ thuật mang tính
nhân đạo, bao dung, đầy tính nhân văn, nhân bản của Kim Lân.
- Từ những sáng tác ấy phát hiện ra các biện pháp xây dựng nhân vật mang
tính độc đáo hấp dẫn.
- Những đặc sắc về điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu mà Kim Lân thường sử
dụng.
lượng giảng dạy bộ môn Văn học nói chung và nâng cao chất lượng bài học về tác
giả Kim Lân nói riêng ở trường phổ thông. Hy vọng luận văn sẽ trở thành một tư
liệu quý giá cho tất cả những ai quan tâm đến văn chương Kim Lân. 9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ CON ĐƯỜNG HÌNH
THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA KIM LÂN
1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật
Trong các vấn đề về phong cách văn học ở ta, cho đến nay, trong các công
trình, giáo trình lí luận phần lớn đều nói tới vấn đề phong cách cá nhân của nhà văn.
Các khía cạnh khác của phong cách như phong cách thời đại, phong cách trào lưu,
phong cách dân tộc tuy cũng có được nhắc tới nhưng hầu như chưa được bàn bạc và
vận dụng vào thực tiễn bao năm. Theo nhịp độ phát triển và giao lưu, hội nhập của
cuộc sống hôm nay, vấn đề phong cách chung được nhìn nhận rõ hơn và đã đến lúc
cần xem xét cụ thể vấn đề rất phức tạp này.
Nhìn vào lịch sử vấn đề, thì từ xa xưa cho đến hiện đại, trên phạm vi toàn
thế giới, vấn đề phong cách chung bao giờ cũng được xem xét bên cạnh phong
cách cá nhân, thậm chí là mẫu số chung để nhìn nhận ra phong cách cá nhân. Ở
thời Hi Lạp cổ, theo Aristote, phát ngôn lí tưởng là kết hợp hài hòa giữa lôgic và
cảm xúc mà dấu hiệu của nó là có kết cấu và có phong cách. Kết cấu đòi hỏi bài
văn phải có bố cục gồm nhiều phần liên kết hợp lí, còn phong cách đòi hỏi phải
có các phẩm chất chung, cơ bản và các phẩm chất cá nhân. Phong cách được
hiểu chủ yếu là phong cách ngôn ngữ, các phương tiện của nó là cách sử dụng
đúng đắn các từ đồng nghĩa, đồng âm, các tính ngữ, các ẩn dụ…Phong cách hay,
bao gồm cả các yếu tố ngôn từ tiêu biểu cho các tác phẩm, đặc biệt là nguyên tắc
nào văn học xa rời thực tế thì phong cách suy thoái .
Vào thế kỷ XX, nhà nghiên cứu văn học Nga D.Likhachev nhận định
“Trong thời đại chúng ta có thể nói về phong cách thời đại, như phong cách
barôcô trong chừng mực mà nó thể hiện trong tất cả các loại hình hoạt động
nghệ thuật, trong những giới hạn thời gian và giới hạn địa lý” [27]. Phải chăng
11
trong mọi thời đại đều tồn tại cái mà chúng ta có thể gọi là phong cách thời đại.
Xem thế đủ thấy trong lịch sử văn học nghệ thuật khái niệm phong cách chung
luôn luôn có vai trò của nó, bên cạnh khái niệm phong cách cá nhân. Thậm chí
nó còn có cả vai trò trong các thời đại, khi điều kiện để xuất hiện phong cách cá
nhân chưa chín muồi.
Thế nhưng về phương diện lí luận, trong giới lí luận các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây, đặc biệt từ khi lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ra đời vào
những năm 30 của thế kỷ XX, người ta có xu hướng chỉ thừa nhận phong cách
cá nhân như là sự thể hiện đa dạng của phương pháp chung, sự thống nhất về
phương pháp và sự đa dạng của phong cách cá nhân, như vậy đã thu hẹp phạm
vi biểu hiện của hiện tượng phong cách, xa rời một truyền thống nghiên cứu đã
có hàng trăm năm.
Công trình Lí luận về phong cách (1968) của A.Xôkôlôv có thể coi là tác
phẩm đầu tiên trong các nước xã hội chủ nghĩa đặt lại vấn đề phong cách. Ông
khẳng định phong cách là một hiện tượng nghệ thuật, thể hiện quy luật của nghệ
thuật, là phạm trù thẩm mỹ trong tất cả mọi nghệ thuật. Bản chất của nó là sự
thống nhất của mọi thành tố nghệ thuật theo những quy luật đặc thù. A.Xôkôlôv
hiểu rằng phong cách là hiện tượng cá nhân dễ đưa đến sự phủ nhận bản chất xã
hội của nó. Không có phong cách cá nhân tách rời xã hội. Ông không xem cá
tính sáng tạo cá nhân (theo cách hiểu của Khrapchenkô) là nhân tố tạo thành
phong cách, bởi vì theo ông, nếu đã xem phong cách là một quy luật của nghệ
thuật thì không được xem nó như là biểu hiện của cá tính sáng tạo vốn là một
hiện tượng tâm lý, bởi hai phương diện đó nằm ở hai bình diện khác nhau. Từ đó
hình thức cuộc sống đổi thay thì nghệ thuật, vốn là biểu hiện của cuộc sống đó
cũng thay đổi, và sự đổi thay đó “chính là đổi thay phong cách”
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, giới khoa học đã nói đến
phong cách cá nhân của các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu; phong cách hiện thực,
phong cách lãng mạn. Nhưng cũng có thể nói đến phong cách thời đại thể hiện ở
các điểm sau:
13
+ Một là, quan niệm lí tính đối với cuộc đời, niềm tin vào khoa học, tiến
bộ, lẽ công bằng, tư tưởng bình đẳng, tự do. Khi Thơ mới đòi hỏi thể hiện nhu
cầu giải phóng cá tính trong tình cảm cũng là lúc các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
đấu tranh cho các quyền con người của cá nhân; và cũng là lúc các tiểu thuyết
hiện thực lên án xã hội bất công chà đạp lên số phận con người sau luỹ tre làng.
Một số nhà văn Tự lực văn đoàn có phong cách hiện thực chính là do ảnh hưởng
của phong cách thời đại trong cảm hứng tố cáo và trữ tình. Văn học Cách mạng
xuất hiện trong giai đoạn này cũng mang tính lý tính và tính lý tưởng rất đậm.
+ Hai là, sự hiện đại hoá đồng loạt các thể loại văn học do tiếp thu ảnh
hưởng của văn học phương Tây. Thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự,
kịch nói, du kí, tuỳ bút, phê bình văn học nhất loạt xuất hiện, thay thế hẳn các
thể loại truyền thống. Các hình thức truyền thống như thơ bảy chữ, năm chữ, lục
bát… đều được cấu trúc lại.
+ Thứ ba, các nhà văn, nhà thơ dù sáng tác theo thể loại nào đều đã cắt
đứt với truyền thống tập cổ mà tự mình cấu tứ, sáng tạo, vai trò chủ thể của tác
giả đặt lên hàng đầu. Người ta phân biệt rõ ràng sáng tác và phóng tác, lịch sử và
tiểu thuyết lịch sử. Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam
Cao…cùng một loạt nhà thơ mới đa dạng về phong cách cá nhân đã tiêu biểu cho
ý thức chủ thể nổi bật, như là một đặc trưng của phong cách thời đại.
+ Thứ tư, khác với lối văn truyền thống nặng về vần điệu đăng đối với
điệu ngâm nhịp nhàng, lối văn hiện đại chuyển hẳn sang văn xuôi: văn tiểu
thuyết, truyện ngắn, phóng sự mang hình thức khẩu ngữ, kịch hoá, thân mật,
“con người”, là sự sáng tạo, sự mới mẻ làm nên vẻ riêng biệt ít thấy ở hiện
tượng văn học khác nhưng lại nhất quán, xuất hiện thường xuyên ở hiện tượng
văn học cụ thể. Cần hiểu rằng sự bền vững, nhất quán nói ở đây là nói từ cái cốt
lõi, cái trong bản chất, còn trong quá trình triển khai thì phong cách lại đòi hỏi
sự đa dạng và đổi mới. Muốn đạt được yêu cầu ấy, phong cách cần phải có
phẩm chất thẩm mỹ, nghĩa là khi nói tới một hiện tượng văn học nào đó có
phong cách thì hiện tượng văn học ấy phải mang lại cho người đọc, người xem,
15
người nghe một sự hưởng thụ thẩm mỹ dồi dào. Ở đây cũng cần lưu ý thêm một
điểm: phong cách phải có phẩm chất thẩm mỹ nhưng phẩm chất này không chỉ
thuần túy về mặt hình thức, kỹ thuật mà tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể
nó sẽ được biểu hiện chủ yếu ở phạm vi nội dung hay phạm vi hình thức.
2. Phong cách là phẩm chất của chỉnh thể. Khi định nghĩa về phong cách,
dù có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều
đề cập đến “tính hệ thống”, “tính thống nhất”, “tính tổng hòa” Điều này chứng
tỏ, phong cách là phẩm chất của hệ thống thể hiện qua các yếu tố chứ không phải
là phẩm chất do tổng cộng các thuộc tính của các bộ phận của tác phẩm. Phong
cách là phẩm chất xuyên suốt qua các yếu tố tác phẩm, qua các tác phẩm của một
tác giả hoặc các tác giả của một trào lưu nghệ thuật. Ngay cả khi nói phong cách
nghệ thuật là tính độc đáo của hình thức nghệ thuật thì cũng phải thấy rằng đó
không phải là hình thức cụ thể của một tác phẩm cụ thể, cá biệt là cái hình thức
được lặp đi lặp lại, vừa thống nhất vừa đa dạng trong nhiều tác phẩm khác nhau
của một nhà văn, một trường phái hay một thời đại văn học, nghệ thuật (khi
chúng ta nói về phong cách Nguyễn Tuân, phong cách Thơ mới Việt Nam giai
đoạn 1932-1945 là đứng trên quan niệm này). Vì thế, có thể nói phong cách
nghệ thuật là hình thức siêu hình thức cụ thể của sáng tác nghệ thuật.
3. Phong cách là phẩm chất tương đối ổn định của sáng tác. Các đặc điểm
của nó được lặp đi lặp lại tương đối thường xuyên, ít thay đổi. Nhưng đây là ổn
định trong sự phong phú đa dạng, có biến đổi chứ không phải là sự lặp lại giản
tác còn có sự thống nhất về phong cách. Trước hết là chi tiết chân thực của đời
sống hàng ngày dùng để dệt nên bức tranh đời sống như nó vốn có, đây là
nguyên tắc mô tả nên nó thuộc phạm trù phong cách. Tiếp theo Ăngghen lí giải,
chủ nghĩa hiện thực không muốn bộc lộ khuynh hướng một cách lộ liễu mà muốn
nó được toát ra từ tình huống, đây lại thuộc phương thức thuyết phục người đọc
và phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh đời sống như Khrapchenkô từng nói.
Một đặc điểm nữa của phong cách hiện thực, theo D.Likhachev diễn đạt, là
khoảng cách gần gũi của người kể chuyện đối với nhân vật, thâm nhập vào nội
17
tâm, kể từ bên trong. Đặc điểm cuối cùng là sự bộc lộ yếu tố cá nhân và phong
cách cá nhân nhà văn.
Đặc điểm phong cách chung này làm cho hiện tượng phong cách cá nhân
của trào lưu hiện thực phong phú và đa dạng chưa từng có. Hay khi chúng ta nói
phong cách thời đại cũng vậy. Khái niệm phong cách thời đại dùng để chỉ một
phong cách chung, phong cách lớn bao trùm mọi thể loại trong một loại hình,
mọi loại hình trong thời đại ấy. Sự bao trùm này không chỉ ở một quốc gia, dân
tộc mà nó chứa đựng tính chất xuyên dân tộc, xuyên quốc gia cùng chịu sự chi
phối chung của một ý thức hệ nhất định, ví dụ như ý thức hệ tôn giáo trong
phong cách Gotic bao trùm hầu hết các dân tộc từ phương Tây đến phương
Đông, hay ý thức hệ vô sản trong phong cách thời đại của các nền văn học nghệ
thuật từ thập niên 20 đến thập niên 90 của thế kỷ XX ở các nước Nga, Trung
Quốc, Việt Nam, Cu Ba
Thực tế này khiến chúng ta nghĩ rằng, không thể không nghiên cứu kỹ
càng vấn đề phong cách chung của văn học. Ngược lại, chúng tôi cho rằng cần
phải thực hiện hành trình “đi tìm” nó một cách cẩn trọng để cho thấy, sáng tác
văn học trong một thời đại nào đó, một dân tộc nào đó không phải là tổng cộng
giản đơn các phong cách cá nhân đa dạng mà giữa chúng có mối liên hệ nội tại
tạo thành một phong cách bao trùm lên các phong cách cá nhân mà ta có thể gọi
là phong cách chung của văn học
Trước những quan niệm như vậy, M.B.Khrapchenkô nhấn mạnh: “không nên
thần thánh hóa bản thân những thuật ngữ và những định nghĩa, không nên cho rằng
chúng là chìa khóa duy nhất để khám phá tất cả những bí mật của nghệ thuật. Vấn
đề chỉ là ở chỗ định nghĩa không phải là mục đích tự thân và không phải là chiếc
gậy thần có thể làm ra những điều kì diệu, chúng chỉ là phương tiện nhận thức
những hiện tượng, những quá trình” [27,tr130].
Các nhà lí luận, nghiên cứu văn học nước ta đã bỏ nhiều công sức nghiên
cứu nội hàm thuật ngữ phong cách. Chẳng hạn, nhà phê bình văn học Việt Nam GS
Nguyễn Đăng Mạnh cũng đã nhiều năm tìm hiểu về phong cách đã có những nhận
định xác đáng về phong cách: Thứ nhất "Phong cách nghệ thuật là một khái niệm
19
thuộc phạm trù thẩm mỹ. Có nghĩa là nhà văn phải thật sự có tài năng, phải thật sự
sáng tạo ra được những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao mới được xem là nhà
văn có phong cách"; Thứ hai "Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật, mỗi nhà văn
có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng. Thế giới nghệ thuật
ấy, dù phong phú, đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất. Cơ sở của tính thống
nhất này là một nhãn quang riêng về thế giới, và sâu xa hơn, là tư tưởng nghệ thuật
riêng của nhà văn. Chừng nào chưa nhận ra tính thống nhất ấy, thì chừng đó chưa
thể xem đã nắm được phong cách nghệ thuật của nhà văn" [38, tr8].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi định nghĩa về phong cách: "Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm
mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương
tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn,
trong tác phẩm riêng lẻ, trào lưu văn học hay văn học dân tộc". Nghĩa rộng hơn
"Phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật
đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có cảm nhận được một giọng điệu và sắc
thái thống nhất". Nhưng "không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách. Chỉ
Phong cách nghệ thuật của nhà văn thể hiện trên nhiều phương diện khác
nhau của tác phẩm văn học như đề tài, chủ đề, ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật,
thể loại. Chẳng thế mà tuy cùng là nhà văn viết truyện ngắn nổi tiếng Nguyễn Công
Hoan lại tìm cho mình chủ đề riêng khác với Nam Cao, Ngô Tât Tố Hay cùng viết
về cái đẹp trong sinh hoạt tinh thần của người dân Việt Nam xưa, ngòi bút của
Nguyễn Tuân khác với Vũ Bằng, Thạch Lam, Kim Lân Với mỗi nhà văn khác
nhau, sự thành công khi xây dựng phong cách lại tập trung ở phương diện kết cấu
tác phẩm không giống nhau.
Phong cách nghệ thuật thường thống nhất và xuyên suốt cả cuộc đời sáng tác
của nhà văn. Nhưng trong sáng tác của nhiều nghệ sĩ lớn ta thường quan sát thấy
không phải chỉ một mà nhiều phong cách khá rõ nét. Những cấu tạo mới về phong
cách hay sự thay đổi về phong cách nghệ thuật thường gắn liền với sự tiến triển về
mặt sáng tác của nhà văn hay sự thay đổi cách cảm thụ cuộc sống và phương pháp
nghệ thuật của nhà văn đó. Tuy nhiên trong chiều sâu của phương thức sáng tạo
21
nghệ thuật ta vẫn thấy sự thống nhất ở trong đó. Tìm hiểu phong cách nghệ thuật
của nhà văn sẽ giúp ta nhìn bao quát được toàn bộ tác phẩm của một nhà văn trong
quá trình phát triển của chúng mà chính nhờ đó ta hình dung được toàn bộ bức tranh
phát triển về tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, toàn bộ phạm vi những hiện tượng
của cuộc sống mà nhà văn đã đề cập đến trong các tác phẩm của mình nói chung.
Mặt khác nó còn cho phép ta hiểu được một cách sâu sắc hơn ý nghĩa của từng tác
phẩm, đặt nó trong mối liên hệ với các tác phẩm khác, biết rõ địa vị và ý nghĩa của
nó trong quá trình phát triển của phong cách nhà văn, một quá trình thường là phức
tạp và mâu thuẫn.
Nghiên cứu phong cách nghệ thuật Kim Lân sẽ được chúng tôi nhìn nhận
trên cơ sở định hướng như vậy. Khi nghiên cứu phong cách nghệ thuật một nhà văn
chính là đã nhận diện được một gương mặt trong bao gương mặt đặc sắc. Kim Lân
là nhà văn có phong cách và phong cách của ông góp phần làm đa dạng nền văn học
hiện đại nước nhà, vì vậy tìm hiểu phong cách nghệ thuật nhà văn sẽ có một ý nghĩa
mới thực là khó. Trong khi đó nhiều người lại ngỡ chết khó hơn. Hỏi ông cụ thân
sinh khi còn sống thường dạy ông điều gì về cuộc đời. Ông bảo cụ cứ sống như cụ
nghĩ và yêu thương ông nhưng chẳng dạy ông điều gì cả. Tất cả những gì ông học
được là do làng ông dạy ông. Câu nói này không ít người nghe thấy sẽ chê ông sao
lại nói về cha mình không dạy con. Cha mình sinh ra mình mà chẳng dạy mình điều
gì sao(?). Nhưng ông nói vậy thì quả là uyên thâm. Làng chính là văn hoá. Văn hoá
luôn luôn đúng và sẽ dạy con người phải làm gì. Lầm lỗi thì văn hoá dạy để mà
đứng lên. Tuyệt vọng thì văn hoá dạy để mà hy vọng. Thô tục thì văn hoá dạy cho
cái đẹp. Tăm tối thì văn hoá dạy cho mơ ước. Nhà văn tâm sự: "Tôi nghĩ muốn theo
đuổi nghề văn thì người viết phải là người tử tế trước đã. Dĩ nhiên không phải hễ
là người tử tế ắt hẳn viết văn hay được. Viết văn hay phải có tài. Cái tài đến với nhà
văn rất tự nhiên, mất đi cũng rất tự nhiên. Tôi thấy nhiều nhà văn lúc chưa biết
nghề nếp tẻ ra sao, hồn nhiên, thoải mái, viết cái mình yêu, mình thích, thì viết lại
rất hay, đến lúc hiểu kỹ về nghề thì viết lại tồi đi rất nhiều. Hay chăng cái mình biết
đã gò bó cái tự nhiên của mình?" [63].
23
Giai đoạn đầu ông viết các tác phẩm mang tính tự truyện, sau đó chuyển
sang viết về các phong tục ở thôn quê. Sau 1945, ngòi bút của ông tuy vẫn hướng về
nông thôn, về người nông dân nhưng đó là cuộc sống của những người nông dân đã
được cách mạng giải phóng. Như vậy Kim Lân sinh ra, lớn lên và sáng tạo nghệ
thuật trong thời đại của sự giao thời từ tư tưởng tù đọng phương Đông sang hòa
nhập cùng văn minh nhân loại, giao thoa giữa các dòng tư tưởng, các nền văn hóa
và sự giao tranh quyết liệt giữa ý thức dân tộc tự cường cùng truyền thống văn hóa
của mình với tư tưởng thực dân xâm lược. Là một người nhạy cảm và thông minh,
Kim Lân dần ý thức được tinh thần của thời đại. Gần gũi nhân dân, ông thấy được
sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam và ông muốn truyền tải sức sống đó
vào trong văn học. Mục đích nhân văn của ông khi viết truyện ngắn là lúc đói người
ta không nghĩ đến cái chết mà chỉ nghĩ tới con đường sống và dù trong tình huống
bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, hướng về ánh sáng,
ban tặng cho ông đôi tay vàng. Ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, ông sớm nổi
tiếng là người khéo tay. Ông tham gia viết báo, cắt dán khẩu hiệu, tham gia đội
kịch, làm đèn vàng mã, đèn rước rằm tháng tám. Ngoài ra ông còn thành lập một
đội tuồng trong làng đi biểu diễn khắp nơi, vì thời đó loại hình nghệ thuật dân gian
ở quê ông rất phát triển. Rồi ông đam mê hội họa, ông vẽ rất nhiều trong các cuộc
chơi. Nhưng để trở thành họa sĩ thì phải thi, phải ra Hà Nội học, mà hoàn cảnh nhà
ông lại khó khăn, không có điều kiện. Ông từ bỏ ước mơ làm họa sĩ, quay sang nghề
văn và cái tài đã không phụ công ơn người có tâm. Khi Trung Bắc Chủ nhật ra số
báo về chim bồ câu và ông viết Đôi chim thành (1942) và người ta biết đến một
nhà văn hóm hỉnh của đồng quê vẫn viết bằng chính những kinh nghiệm mà bản
thân tích lũy được. Bởi cậu bé Tài thủa nhỏ vẫn được theo cha tham dự những trò
chơi dân gian và là tay cận vệ tích cực phục vụ cho những đam mê của người cha
phong lưu nổi tiếng một thủa. Rồi ông được Vũ Bằng mời ra Hà Nội phụ trách phần
văn nghệ của Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Được Vũ Bằng bảo: "Viết
như ông nên viết cho Tiểu thuyết thứ bảy", thế là Kim Lân viết truyện tình Nỗi này
có ai biết (1943) gửi cho ông Vũ Bằng. Kim Lân tâm sự: "Mình hồi đó chỉ là kẻ
bình thường, ông ấy đã là một nhà văn lẫy lừng, mà ông ấy trân trọng lắm Chính
25
tôi đã từng nghe Nam Cao nói rằng: Về văn chương Nam Cao phục Vũ Bằng nhất.
Thế là mình về, viết một truyện tình gửi cho ông ấy. Thì mình nghĩ cái anh Tiểu
thuyết thứ bảy muốn sài món đó". Nhưng Vũ Bằng lại mời Kim Lân nói rằng:
"Truyện tình ông viết không được đâu, nhưng ông đã gửi thì tôi cứ đăng, nhưng tôi
đổi tên là Lan Kim. Ông viết truyện nghèo khổ cũng được, nhưng không bằng ông
Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, các ông ấy đã thành rồi. Ông viết những truyện
như Đôi chim thành, Đánh vật, Chó săn thì không ai tranh được chiếu của ông"
[57]. Từ góp ý đến khuyến khích ông đi vào khai thác những thú vui dân dã, thú vui
đồng ruộng như chơi chó săn, chơi gà chọi, đánh vật, thổi ống sùy đồng Vũ Bằng
đã chỉ ra "Đó là mảng màu còn thiếu trong bức tranh thôn quê của Nam Cao, Ngô
Tất Tố và một số nhà văn thời đó" [25]. Kim Lân nắm bắt được điều đó, những điều