Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Đỗ Chu - Pdf 29

1

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Ngụy Thị Bình

Lời cảm ơn

Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS- TS Đoàn Đức
Phương, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận
văn. Sự nhiệt tình, nghiêm túc và niềm say mê khoa học của thầy đã đem đến cho tôi tình yêu đối
với con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các tác giả, các nhà nghiên cứu đã giúp tôi những tư liệu quý báu để
tôi hoàn thành luận văn.
2

Có được luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thày cô giáo trong tổ Lí luận Văn
học, sự say mê giảng dạy và dìu dắt của các thầy cô đã bồi đắp cho tâm hồn chúng tôi tình yêu đối
văn học. Tôi xin cảm ơn khoa Ngữ văn, phòng sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng
tôi trong suốt quá trình học tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2.

đáo và đa dạng chưa đủ, phong cách phải có phẩm chất thẩm mỹ tức là phải đem lại
cho người đọc một sự hưởng thụ mỹ cảm dồi dào. Phẩm chất thẩm mỹ của phong
cách không đơn thuần là vấn đề kĩ thuật, hình thức mà nó đòi hỏi phải có tính nghệ
thuật cao và chân chính bởi “phong cách nghệ thuật là một phạm phạm trù thẩm mỹ
chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống tưởng tượng, của các phương tiện
biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của nhà văn, trong tác
phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [33, tr.255-256]. Vì thế
không phải nhà văn nào cũng có phong cách dù xét cho cùng nhà văn nào cũng có đặc
điểm riêng. Phong cách không những là dấu hiệu trưởng thành của một nhà văn,
khẳng định được chỗ đứng của nhà văn trên văn đàn mà hơn thế nữa phong cách khi
đã nở rộ nó còn chính là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành.
Là hình thức ngắn của tự sự, truyện ngắn có thể kể về cả cuộc đời hay một
đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát mà vẫn gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời
và tình người. So với các thể loại văn học khác, “truyện ngắn là một thể loại dân chủ,
gần gũi với đời sống hàng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí,
có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống” [41, tr.398]. Vì thế trải qua bao biến
cố, thăng trầm của thể loại, đến nay truyện ngắn vẫn luôn khẳng định được vị trí quan
trọng trên văn đàn là một thể loại đang “lên ngôi”, “được mùa”, “thăng hoa” với
“chân trời của truyện ngắn” [58, tr.204]. Đặc biệt ở thế kỷ XXI, với những đổi thay
nhanh chóng trong đời sống vật chất và tinh thần của con người thì vị trí của một thể
loại năng động như truyện ngắn lại càng được khẳng định.
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Đỗ Chu là một trong số những nhà
văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ có được nhiều thành tựu ở thể loại
truyện ngắn. Nhìn lại chặng đường sáng tác hơn bốn mươi năm qua của nhà văn,
chúng ta có thể nhận thấy Đỗ Chu đã từng sáng tác ở nhiều thể loại: truyện ngắn, ký,
tiểu thuyết nhưng thể loại thành công nhất, tạo nên tên tuổi và chỗ đứng của ông trên
văn đàn chính là truyện ngắn. Chính Đỗ Chu đã từng tâm sự: “Tôi thấy mình chủ yếu
4

là ngòi bút viết truyện ngắn, “định mệnh” đã gắn mình với truyện ngắn” [27]. Ngay từ

Hơn một năm sau, tập Phù sa ra mắt bạn đọc và vẫn tiếp tục thu hút sự chú
ý của Phan Hồng Giang, Vương Trí Nhàn. Mặc dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng
cả hai tác giả đều khẳng định thành công của tập truyện, đồng thời còn nghiêm túc chỉ
ra những nhược điểm của tập truyện ấy. Phan Hồng Giang khi đọc Phù sa đã có dịp
“nghĩ đôi điều về nguồn sức mạnh của con người và nghệ thuật chúng ta” và đã nhận
ra Đỗ Chu là cây bút “thiên về phía miêu tả cái chất thơ của cuộc đời” [32]. Vương
Trí Nhàn thì thấy ở Phù sa “một cuộc gặp gỡ nhiều cảm tình” dù cả tập Phù sa “cơ
hồ như không có chuyện” [44]. Cả hai tác giả cùng chỉ ra nhược điểm của tập truyện:
“bố cục truyện đôi khi có phần nào cồng kềnh” [32] hay hình thức câu chuyện “có vẻ
không chặt chẽ” [44]. Bên cạnh hai bài viết công phu kể trên, cũng cần phải kể đến
những nhận xét khá xác đáng của một số cây bút tuy không đi sâu nghiên cứu tập Phù
sa nhưng đã chớp đúng cái “thần” của Đỗ Chu trong tập truyện ấy. Nguyễn Văn Long
nhận thấy “chất trữ tình cũng là sắc thái nổi bật trong tập Phù sa của Đỗ Chu”
[38].Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình cho rằng “Đỗ Chu viết Phù sa, Hương cỏ mật để diễn
tả vẻ đẹp ngời sáng của thế hệ trẻ chống Mỹ, ung dung, tự tin, tự hào, nhẹ nhõm một
khát vọng chiến đấu ” [22].
Tập truyện Gió qua thung lũng ra đời (1971) không gây được nhiều sự chú
ý như Phù sa. Các bài viết của Vương Trí Nhàn, Ngô Văn Phú, Phạm Thị Minh Thư,
Nguyễn Văn Hạnh, Văn Chinh đều tập trung vào truyện ngắn Ráng đỏ,coi đó là tác
phẩm “lộng lẫy, huy hoàng của một thời truyện ngắn Đỗ Chu” [60], ở đó “hiện thực
được lĩnh hội, thể nghiệm và biểu hiện qua góc độ trữ tình bởi sự nhào nặn bằng chất
men riêng của tâm hồn người viết” [52].
Sau 1975, trong hai năm 1977 và 1978, Đỗ Chu cho ra đời liên tiếp hai tập
Trung du và Nơi con đường gặp biển. Thời gian này “như chùng gân sau khi trèo lên
một đỉnh cao” [23], sáng tác của Đỗ Chu không còn thu hút được nhiều sự chú ý của
giới phê bình và bạn đọc như trước. Ngô Vĩnh Bình và Văn Chinh đều cho rằng hai
tập truyện này đã thể hiện “cái uể oải tâm thế” và “gần giống với sự tẻ nhạt mà người
đọc quen sài mì chính cảm thấy” [24]. Đỗ Chu lúc này “đến với người đọc như một
người bạn bình thường nếu không muốn nói là vô duyên” [25].
6

bản trong phong cách truyện ngắn Đỗ Chu.
7

Có thể thấy, xung quanh mỗi tập truyện, thậm chí mỗi truyện ngắn tiêu biểu
của Đỗ Chu đều có những nhận xét xác đáng. Nhưng bên cạnh đó còn phải kể đến
một số bài viết có tính khái quát về truyện ngắn Đỗ Chu. Bao quát sự nghiệp sáng tác
của Đỗ Chu gần mười năm đầu, chỉ rõ đặc điểm truyện ngắn của cây bút này trên từng
phương diện, từng khía cạnh, Nguyễn Văn Hạnh có bài viết Truyện ngắn Đỗ Chu.
Trong bài viết này tác giả khẳng định Đỗ Chu đã “có vị trí riêng trong nền văn học
của chúng ta những năm sáu mươi” [34]. Ở một góc nhìn khác trong bài Người chiến
sĩ chống Mỹ trong văn học, tác giả Ngô Thảo cũng có những nhận xét tinh tế về chặng
đường sáng tác mười năm đầu của Đỗ Chu. Theo tác giả bài viết, “Đỗ Chu là người
viết mà ngay từ những tác phẩm đầu tay đã biểu hiện một bản sắc riêng, một phong
cách văn học đã chín” [52]. Gần ba mươi năm sau, khi hai bài viết trên xuất hiện, có
dịp quan sát sự nghiệp sáng tác của Đỗ Chu hơn bốn thập kỉ, Văn Chinh đăng bài
“Nhà văn Đỗ Chu: con người phải được yêu mến và kính trọng”. Ở đó sau khi tản
mạn về con người và gia cảnh của nhà văn, tác giả đã khẳng định “có một nét Đỗ Chu
rất đáng trọng là ông không bị bồng bềnh trên sóng dư luận về tác phẩm của mình”
[24]. Nguyễn Hoàng Sơn trong bài “Nhà văn Đỗ Chu: tôi bán là bán văn, không bán
giấy!” cảm thấy “không có sự thay đổi kiểu xu thời trong phong cách truyện ngắn Đỗ
Chu chỉ có sự đào sâu, chín thêm của một phong cách sớm ổn định, thiên về trữ tình”
[46]. Cũng bao quát toàn bộ sự nghiệp sáng tác truyện ngắn của Đỗ Chu còn phải kể
đến hai bài viết của hai tác giả Nguyễn Thanh Tú và Lê Hương Thủy. Tác giả Nguyễn
Thanh Tú đã đi sâu phân tích kiểu kết cấu nổi bật mang phong cách Đỗ Chu. Còn Lê
Hương Thủy thì khái quát những “Đặc trưng truyện ngắn Đỗ Chu”. Những nhận xét,
đánh giá của các tác giả trên dù mới là những bài viết riêng lẻ nhưng lại là những gợi
mở có tính chất định hướng quan trọng, là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi hiểu
rõ hơn về Đỗ Chu và truyện ngắn của ông. Ngoài ra còn có những luận văn thạc sĩ
khảo sát và tìm hiểu truyện ngắn Đỗ Chu khá đầy đủ như: Luận văn Truyện ngắn Đỗ
Chu (2003) của Trần Xuân Trà, luận văn Đặc sắc truyện ngắn Đỗ Chu (2005) của Tạ

Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm đến những mục đích sau:
Củng cố vững chắc thêm một số vấn đề lí luận về phong cách nghệ thuật
trong sáng tác văn chương.
Chỉ ra một cách hệ thống những biểu hiện cụ thể của phong cách truyện
ngắn Đỗ Chu.
9

Tạo thêm cơ sở cho việc khẳng định vị trí, tài năng, đóng góp của Đỗ Chu
đối với sự phát triển của thể loại truyện ngắn và cả nền văn học Việt Nam hiện đại.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát khái lược về phong cách nghệ thuật nhà văn và những biểu hiện cơ
bản của nó.
Khảo sát có hệ thống kèm theo những nhận xét cụ thể về các ý kiến liên
quan đến truyện ngắn Đỗ Chu.
Khảo sát và xác lập hệ thống những biểu hiện của phong cách nghệ thuật
truyện ngắn Đỗ Chu.
Khảo sát và phân tích kĩ một số truyện ngắn tiêu biểu của Đỗ Chu, so sánh
đối chiếu với truyện ngắn của một số tác giả khác để làm sáng tỏ những biểu hiện của
phong cách nghệ thuật truyện ngắn Đỗ Chu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề phong cách
nghệ thuật nhà văn.
Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến loại tác phẩm tự
sự, đặc biệt là thể loại truyện ngắn.
Những bài viết và công trình nghiên cứu về Đỗ Chu và các truyện ngắn của
ông.
Những truyện ngắn tiểu biểu của Đỗ Chu được in trong các tập truyện của
ông. Đặc biệt chúng tôi lựa chọn 35 truyện ngắn trong Tuyển tập truyện ngắn Đỗ
Chu (2003) để tìm hiểu phong cách nghệ thuật truyện ngắn của ông. Ngoài ra một số
tùy bút hay các bài phát biểu của Đỗ Chu cũng được sử dụng như là những tài liệu
NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. KHÁI LƯỢC VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ
QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA ĐỖ CHU
1.1.
Phong cách nghệ thuật nhà văn
1.1.1. Khái niệm phong cách nghệ thuật nhà văn
“Qua giọng hát, anh nhận ra người hát. Qua nét khắc, anh nhận ra người thợ bạc”
[18]. Quả thật, qua tiếng hát, ta nhận ra tâm hồn người nghệ sĩ dịu dàng đằm thắm hay
khỏe khoắn lạc quan Qua nét khắc, nét chạm và những đường nét hoa văn ta nhận ra
12

sự tinh tế, cảm quan về cuộc sống của người nghệ nhân. Có thể nói qua mỗi tác phẩm
nghệ thuật, người ta nhận ra được “khuôn mặt", tâm hồn, nét dáng riêng, dấu ấn riêng
hay nói cách khác là nhận ra phong cách riêng của người làm nghệ thuật.
Nhìn từ phương diện lịch sử thì “phong cách” (style) có gốc gác sâu xa. Xưa kia

Tuân gọi phong cách là “nhỡn quan về thế giới”, nhà nghiên cứu và phê bình văn học
Trần Đình Sử gọi đó là “thế giới cảm”.
Thật ra, viết văn không phải chỉ phản ánh mà còn biểu hiện, không phải chỉ tái
hiện mà còn thông báo, tâm sự, tâm tình; chỉ viết cái gì thực sự xúc động, dồi dào tràn
đầy trong lòng, kết quả của một sự thanh lọc, tự vượt mình theo hướng cao đẹp hơn.
Cái viết ra là một nhu cầu nội tâm mãnh liệt, tâm huyết, gan ruột. Tất cả những cái đó
dĩ nhiên không tách rời với cuộc sống hàng ngày của nhà văn nhưng rõ ràng không
phải là một. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Phải lắng nghe cái gì sâu xa nhất
trong con người mình, bồi dưỡng cho mình một bản lĩnh vững vàng, một phong cách
độc đáo, vì nghệ thuật không phải là sản xuất hàng loạt như sản xuất công nghiệp.
Hãy suy nghĩ lời khuyên của M.Gorki: “Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình, làm
sao cho nó phát triển tự do. Lúc một người không có cái gì là riêng của mình thì phải
thấy ở người đó chẳng có gì hết” [65, tr.267].
Xưa nay, các nghệ sĩ lớn đều nhất trí nhấn mạnh tầm quan trọng của chỗ độc đáo
cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật. Phát triển cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật
đó là con đường tạo ra phong cách riêng của người nghệ sĩ. Raxun Gamzatop khẳng
định: “Tác phẩm văn học mà không thấy rõ tác giả thì chẳng khác gì con ngựa chạy
trên đường mà không có người cưỡi” [18]. Tuôcghenhep viết: “Phải chăng anh chưa
bao giờ đọc hàng tập giấy viết kín và có cảm giác rằng anh cũng có thể viết không
kém và đúng nguyên như thế cũng nên. Hoặc là anh, hoặc bất kì một người nào khác,
có thể làm thế, vì trong ấy không có gì là đặc sắc riêng biệt. Nhưng liền ngay đó, anh
bắt gặp một mẩu truyện ngắn, một bức phác thảo, chỉ một vài dòng thôi và anh cảm
thấy khác hẳn . Anh không thể nói được như thế. Có thể là hay hơn hoặc kém hơn,
nhưng nhất định là phải khác, bởi vì muốn nói được như thế, muốn bắt đúng cái nốt
ấy thì phải có một thanh quản tổ chức đúng như thế. Cũng giống như chim ấy Đó là
nét riêng biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo và đầy sức sống” [64, tr.712]. Với
tinh thần ấy, Letxinh khi đọc Sêchxpia đã phát hiện ra trong tác phẩm của Sêchxpia
“mỗi một ưu điểm nhỏ nhất cũng in dấu ấn riêng, dấu ấn đó có thể lập tức nói với toàn
thế giới rằng: Tôi là Sêchxpia”.
14

15

Hiện nay, khái niệm phong cách không chỉ thu hẹp trong phạm vi sáng tác văn
học mà còn mở rộng ra các lĩnh vực hoạt động sáng tạo văn hóa tinh thần và vật chất
trong những không gian, thời gian khác nhau với nhiều chủ thể sáng tạo khác nhau. Vì
thế có sự xuất hiện của một loạt khái niệm: Phong cách dân tộc, phong cách thời đại,
phong cách cá nhân Ở luận văn này, người viết tìm hiểu phong cách ở cấp độ cá
nhân tác giả - phong cách nghệ thuật nhà văn.
1.1.2. Những biểu hiện của phong cách nghệ thuật nhà văn
Nói đến phong cách nghệ thuật nhà văn là nói đến quy luật thống nhất của chỉnh
thể nghệ thuật qua hàng loạt tác phẩm của nhà văn đó như: đề tài, cảm hứng chủ đạo,
thể loại, kết cấu, hình tượng, giọng điệu, ngôn ngữ Cái riêng để tạo nên sự thống
nhất, lặp lại ở mỗi nhà văn thể hiện ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới với hệ thống
bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy. “Sự thật, có bao nhiêu yếu tố
trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách của từng nhà văn thể hiện” [41,
tr.484]. Phong cách có thể biểu hiện ở việc chọn đề tài. Có nhà văn ưa chọn những đề
tài nên thơ, lại có nhà văn ưa chọn những đề tài rắc rối, phức tạp. Phong cách có thể
biểu hiện ở cảm hứng chủ đạo. Có nhà văn mạnh về cảm hứng ngợi ca, lại có nhà văn
mạnh về cảm hứng phê phán; có nhà thơ thiên về tình cảm ngọt ngào êm dịu, lại có
nhà thơ thiên về trí tuệ sắc sảo. Phong cách cũng biểu hiện ở việc xây dựng nhân vật.
Có nhà văn cực kì thành công với loại nhân vật này nhưng lại thất bại với loại nhân
vật khác. Phong cách cũng biểu hiện ở thể loại. Thông thường, mỗi nhà văn, nhà thơ
đều có sở trường về một thể loại nào đó. Cũng có những người viết được nhiều thể
loại nhưng chỉ thành công ở một thể loại nào đó mà thôi. Có thể viết thơ hay, nhưng
viết văn dở. Cũng một đề tài tương tự nhưng viết bút kí thì hay mà viết truyện lại
xoàng. Thậm chí viết truyện ngắn thì xuất sắc nhưng không viết được truyện dài hoặc
ngược lại. Ví như Nguyễn Công Hoan thành công nhất ở truyện ngắn trào phúng,
Xuân Diệu rất thành công với thơ trữ tình. Nguyễn Tuân bằng cá tính sáng tạo độc
đáo đã kiến tạo và sở hữu luôn cả một thể văn – thể tùy bút, hay như Đỗ Chu viết cả
kí, tiểu thuyết, truyện ngắn nhưng đặc biệt thành công với truyện ngắn Phong cách

được khúc xạ khác nhau, được phản ánh và biểu hiện khác nhau. Điều này có thể thấy
rõ qua việc nhận dạng phong cách ngắn gọn nhưng thật chính xác và tinh tế của Hoài
Thanh về những nhà Thơ mới giai đoạn 1930 – 1945: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi
ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ
17

người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như
Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo
não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha,
rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [54]. Cũng như vậy, ở văn xuôi ta có thể nói về
một Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh mà sắc sảo khi cười cợt vào mặt trái của xã hội;
một Vũ Trọng Phụng cay độc trong một bút lực dồi dào và mãnh liệt khi viết về cái xã
hội “chó đểu” và “khốn nạn”; một Ngô Tất Tố vừa thâm trầm vừa quyết liệt và đầy
nhân đạo với niềm tin yêu, khẳng định phẩm chất của người nông dân dù họ phải sống
trong bùn lầy nhơ bẩn; một Nguyên Hồng luôn thành thật phơi trải hết lòng mình trên
trang viết; một Thạch Lam tinh tế và tao nhã; một Nam Cao sâu xa, chua chát trong
những trang văn đầy biến hóa. Và ở kịch, ta có thể nhận ra lối dồn nén xung đột kịch
của riêng Vi Huyền Đắc, chất thi vị và giầu ý tưởng triết lí của kịch Đoàn Phú Tứ và
cách để lịch sử cất lên tiếng nói trong mỗi hồi kịch của Nguyễn Huy Tưởng
Phong cách có thể thiên về nội dung tư tưởng hoặc hình thức nghệ thuật đều được
chấp nhận. Nguồn gốc của phong cách chính là cá tính sáng tạo của nhà văn, chủ yếu
thuộc phương diện nội dung, nhưng sự biểu hiện của phong cách thì hoàn toàn có thể
thiên về lĩnh vực nội dung hoặc lĩnh vực hình thức. Do đó không cần thiết đòi hỏi
phong cách là sự hài hòa cao độ những chỗ độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức. Bởi
có những nhà văn tư tưởng đúng song không lấy gì làm sâu sắc nhưng lại có những
biểu hiện nghệ thuật độc đáo. Trái lại, có những nhà văn tư tưởng sâu sắc thể hiện sự
am hiểu cuộc sống một cách kì lạ nhưng cách viết của họ không thật hấp dẫn. Phong
cách không chỉ thể hiện ở việc hình thành cấu trúc bên trong tác phẩm mà còn thể
hiển ở các yếu tố bên ngoài, ở khả năng giao tiếp giữa tác phẩm và độc giả. Nhà lí
luận Xô viết Goixuôxky viết: “Phong cách đó là khả năng một cách nhà văn khắc

và Quốc âm thi tập thì tính “phi ngã” của văn học trung đại bị phá vỡ, xuất hiện chân
dung một nhà thơ với tài “kinh bang tế thế” vừa đầy hăm hở, đầy nhiệt huyết cứu
nước, cứu đời, lo cho dân cho nước, vừa thanh tao nho nhã trong cuộc sống ẩn dật,
hòa mình với thiên nhiên Đến cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, trong vòng chưa
đầy một trăm năm, người đọc bắt gặp cùng một lúc rất nhiều gương mặt thơ tiêu biểu.
Đó là một đại thi hào dân tộc Nguyễn Du với Truyện Kiều, Văn chiêu hồn thấm đầy
máu và nước mắt của một trái tim nhân đạo sâu sắc mà vẫn tinh tế đến lạ kì. Đó là
một Hồ Xuân Hương - “bà chúa thơ Nôm” mà những bài thơ của bà vừa là niềm cảm
19

thông tột độ với nỗi khổ của người phụ nữ vừa là sự trỗi dậy của một sức sống đầy
bản lĩnh trong một phong cách nghệ thuật độc đáo khó có sự lặp lại lần thứ hai. Đó là
một Cao Bá Quát tài hoa phóng túng, một Nguyễn Công Trứ mang trong mình khát
vọng lớn lao của bậc đại trượng phu Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đất nước chìm
trong đau thương của thân phận nô lệ, những nhà thơ mang trong mình nỗi buồn, nỗi
sầu hận không thể tiêu tan đã để lại cho hậu thế những tiếng kêu não lòng. Đó là một
tiếng thơ nghẹn ngào như tiếng khóc thương của một con người đang vắt kiệt sức
mình gọi đất nước- Nguyễn Khuyến. Đó là một tiếng thơ cười nhạo mà chua chát
trước thế sự đảo điên, thay đen đổi trắng của Tú Xương. Có khi ta lại bắt gặp một
tiếng thơ uất nghẹn của nhà thơ tài tử Tản Đà
Đến giai đoạn 1930 - 1945, văn học Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, nhanh
chóng, với nhiều xu hướng, nhiều thể loại và đã hình thành nhiều phong cách nhà văn
độc đáo. Về thơ, có thể nhận ra cả một “thời đại trong thi ca” của thơ lãng mạn với
Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận Bên cạnh đó là dòng văn
học cách mạng với Hồ Chí Minh, Tố Hữu Về văn xuôi lãng mạn có thể kể đến Nhất
Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân. Văn xuôi hiện thực phê phán có thể kể
đến tên tuổi của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Ba mươi năm chiến tranh (1945 - 1975), trên đất nước ta diễn ra nhiều biến cố, sự
kiện lớn lao: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài, công cuộc
xây dựng cuộc sống mới, con người mới ở miền Bắc Đáp ứng yêu cầu của lịch sử,

hiện” [19].
Vượt qua năm tháng thời gian, dù mỗi thời kì có những tiêu chí khác nhau để
đánh giá tác phẩm văn học, song những tác phẩm có giá trị đặc sắc của những tác giả
có những phong cách vẫn có sức sống mãnh liệt trong lòng người đọc. Trong nền văn
học Việt Nam hiện đại, cùng với một số nhà văn, nhà thơ khác, bằng sự lao động
không mệt mỏi trên hành trình đi tìm cái đẹp của nghệ thuật, Đỗ Chu đã tạo cho minh
một phong cách nghệ thuật riêng rất độc đáo góp phần làm đổi mới và hiện đại hóa
nền văn học dân tộc.
1.2. Quá trình sáng tác của Đỗ Chu
Đến với truyện ngắn từ những năm đầu thập kỉ sáu mươi của thế kỉ XX, đến nay
Đỗ Chu vẫn bền bỉ trên con đường văn nghiệp. Tuy sáng tác cả truyện ngắn, tiểu
thuyết và tùy bút nhưng thể loại thành công nhất của Đỗ Chu là truyện ngắn. Ngoài
21

cuốn tiểu thuyết Đám cháy trước mặt (1973), tập tùy bút Những chân trời của các
anh (1968), Tản mạn trước đèn (2004), Thăm thẳm bóng người (2008) và các tập
truyện viết cho thiếu nhi Bồng chanh đỏ (1974), Thoang thoảng hoa cau (1975), Đỗ
Chu đã lần lượt ra mắt bạn đọc hàng chục tập truyện ngắn: Hương cỏ mật (in chung -
1965), Phù sa (1967), Gió qua thung lũng (1971), Nơi con đường gặp biển (1978),
Tháng hai (1982), Mảnh vườn xưa hoang vắng (1989), Mận trắng (1997), Một loài
chim trên sóng (2002). Có thể khái quát quá trình sáng tác của Đỗ Chu vào hai giai
đoạn sau:
1.2.1. Những năm chống Mỹ cứu nước
“Mùa đông 1962, một đêm rét, ngoài đường gió lùa lá cây dào dạt, trong nhà đàn
muỗi vo ve, trên căn gác xép ọp ẹp ở một dãy phố nghèo và buồn của thị xã Bắc Ninh
thủa ấy, Đỗ Chu đã ngồi thu lu bên một chiếc kỷ cổ xưa để viết truyện ngắn Hương
cỏ mật gửi về tạp chí Văn nghệ quân đội. Năm đó anh 18 tuổi, đang còn là một cậu
học trò lớp 10 hệ phổ thông 10 năm, trường cấp III Hàn Thuyên. Thi cử đến nơi rồi
mà học hành thì thật quá chểnh mảng, văn lười đằng văn, toán dốt đằng toán, lại
chẳng họp Đội họp Đoàn, ở trường về là leo tót lên ngồi ôm lấy cái kỷ gỗ vàng tâm,

diện này Đỗ Chu nổi trội. Đỗ Chu quan sát tinh tường, sắc sảo thế giới xung quanh và
tóm thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm. Khi những truyện ngắn đầu tiên
này của Đỗ Chu ra đời (1962-1963) thì các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học tên
tuổi sau này như Phạm Tiến Duật, Tô Nhuận Vỹ, Vương Trí Nhàn, Lâm Quang Ngọc
đang còn là sinh viên năm thứ hai, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Những truyện ngắn ấy đầy sức hấp dẫn và cũng đầy chất kích thích các chàng sinh
viên sư phạm nhưng lại ấp ủ hoài bão trở thành nhà văn, nhà thơ. Lâm Quang Ngọc
đã viết lên vách tường cạnh chỗ nằm ở kí túc xá sinh viên: “Cố gắng đuổi kịp và vượt
Đỗ Chu!”. Các chàng sinh viên mê văn chương ấy càng ngạc nhiên, sửng sốt hơn khi
phát hiện ra Đỗ Chu khi viết những truyện ngắn ấy mới 17 tuổi và mới khoác áo lính
chưa bao lâu. Còn ở quân chủng Phòng không - không quân dường như với ảnh
hưởng của Đỗ Chu đã xuất hiện một loạt những cây viết khác như Nguyễn Trí Huân,
Lưu Quang Vũ, Thao Trường, Duy Khán
Năm 1965, tập truyện Hương cỏ mật ra đời (in chung với các truyện ngắn của
Trúc Hà, Văn Ngữ), Đỗ Chu đã lọt vào “mắt xanh” của công chúng và giới phê bình
văn học. Đó là thời kì “anh hoa phát tiết” của một cây bút mới “chập chững vào nghề”
nhưng đã “chớm nở ở anh một lối viết riêng” [31]. Phan Hồng Giang trong bài viết
23

Mấy cảm nghĩ khi đọc cuốn Hương cỏ mật đã khẳng định: “Ba truyện ngắn in trong
tập sách này là những sáng tác đầu tay trội nhất của anh ” và cũng là “những trang hấp
dẫn người đọc hơn cả trong tập sách này”. Nguyễn Hoàng Sơn trong một bài viết
cũng khẳng định Hương cỏ mật và một số truyện ngắn khác của Đỗ Chu là những
“truyện ngắn đẹp như thơ, tươi rói như anh tân binh mới nhận được quân phục, được
cả làng văn và bạn đọc đón nhận chằm bặp” [46]. Có thể nói với tập truyện này, Đỗ
Chu đã gây được sự chú ý lớn với độc giả và giới phê bình văn học.
Hơn một năm sau khi xuất hiện Hương cỏ mật, Đỗ Chu lại cho ra mắt bạn đọc
tập truyện ngắn Phù sa (1967) gồm chín truyện, trong đó ba truyện đã có trong
Hương cỏ mật. Có thể xem Phù sa là sự tiếp nối và bổ sung thêm những truyện ngắn
trước đó để tạo nên “khuôn măt” riêng một thời của Đỗ Chu. Lối viết riêng của Đỗ

đặc điểm nổi trội nhất trong các truyện ngắn của Đỗ Chu ở giai đoạn này là ngòi bút
của nhà văn luôn hướng về việc ca ngợi con người nói chung, những phẩm giá tốt đẹp
trong mối quan hệ giữa con người với con người nói riêng. Đó là nét hiện thực cơ bản,
tạo nên sức mạnh tinh thần của người dân miền Bắc trong thời kì vừa xây dựng chủ
nghĩa xã hội vừa chiến đấu, tích cực chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột
thịt. Đúng như Lê Hương Thủy đã khẳng định: “Thiên về khai thác cái đẹp trong đời
sống là đặc trưng nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu, đặc biệt là ở thời kỳ đầu của quá
trình sáng tác. Cái đẹp được biểu hiện ở tình yêu quê hương, tình quân dân, tình đồng
chí, đồng đội, ở những mối tình trong trắng, đầy thi vị- những tình yêu chớm nở và
được nuôi dưỡng trong chiến tranh dù phía trước đang là cuộc chiến cam go và thử
thách Đỗ Chu đã tạo được dấu ấn trên văn đàn trong bối cảnh của đời sống văn học
đông đảo về đội ngũ sáng tác nhưng lại không dễ tạo dựng cá tính và phong cách”
[59]. Tắm mình trong không khí hào hùng của một thời kì lịch sử oanh liệt, với cái
nhìn trong trẻo, yêu thương, những trang truyện của Đỗ Chu đã “làm cho người đọc
nhận thức và xúc cảm được những cái gì đẹp đẽ, cao thượng và anh hùng trong đời
sống của nhân dân ta”. Đỗ Chu nhiệt tình ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và
công cuộc xây dựng đất nước. Cùng với các sáng tác văn học khác như thơ của Phạm
Tiến Duật, Bằng Việt, Xuân Quỳnh các ca khúc trữ tình của Huy Du, Doãn Nho,
Nguyễn Đức Toàn các vở kịch và các bộ phim truyện ngắn của Đỗ Chu không chỉ
cổ vũ, động viên đồng bào chiến sĩ trong những năm tháng chiến tranh ác liệt mà còn
lưu giữ mãi giá trị của việc phản ánh tình người, tinh thần cao thượng và đức hi sinh
chịu đựng của cả dân tộc ở một khúc ngoặt lịch sử.
25

1.2.2 . Những năm đất nước thống nhất và đổi mới
Sau những thành công trên bước đường khởi nghiệp với Hương cỏ mật, Mùa cá
bột, Phù sa Đỗ Chu đã có một quãng lặng khá dài. Ông chưa vượt qua được cái
bóng của chính mình. Không ít lần ông trăn trở về những gì mình đã viết, về sự đổi
mới ngòi bút, đổi mới cách nghĩ của người cầm bút. Đã có lúc ông cảm thấy đau xót
vì “những gì mình đã có, lại nhoài khỏi vòng tay mình”. Ranh giới giữa truyện ngắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status