LI CM N
ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM
Lơng TIếN THàNH Tên đề tài:
NH GI HIN TRNG MễI TRNG NC SINH HOT
PHNG QUANG TRUNG,THNH PH THI NGUYấN,
TNH THI NGUYấN
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trờng
Khoa : Môi trờng
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trờng
Khoa : Môi trờng
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hớng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Huệ
Khoa Môi trờng - Trờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Thực tập là một khâu quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo,
thực tập giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã được học trên lý thuyết và tập
vận dụng, ứng dụng vào thực tế. qua đó giúp sinh viên học hỏi và đúc kết kinh
nghiệm thực tiễn phục vụ cho công tác sau khi ra trường.
Để hoàn thành tốt được đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn tận tình của giảng viên ThS. Nguyễn Thị Huệ, sự giúp đỡ của lãnh đạo
và cán bộ Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Nguyễn Thị
Huệ - giảng viên hướng dẫn đề tài cùng toàn thể các thầy cô, cán bộ khoa
Môi trường, trường Đại Học Nông Lâm - Thái Nguyên.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng cán bộ Ủy ban nhân dân
phường Quang Trung, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia
đình đã động viên khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
cũng như hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có những cố gắng nhưng do
cho sinh hoạt 39
Bảng 4.13: Kết quả điều tra ý kiến của người dân trên địa bàn phường Quang
Trung về chất lượng nước sinh hoạt đang dùng 40
Bảng 4.14: Tổng hợp kết quả ý kiến của người dân về mức độ ô nhiễm nguồn
nước 41
Bảng 4.15: Kết quả điều tra ý kiến của người dân về việc sử dụng thiết bị lọc
nước 41
Bảng 4.16: Một số căn bệnh người dân thường mắc phải năm 2013 42 DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ hộ sử dụng các loại nước sinh hoạt 31
Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ nhà vệ sinh 34
Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ sử dụng thiết bị lọc 41
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt Nghĩa của từ, cụm từ
1
BKHCNMT
Bộ khoa học công nghệ - Môi trường
2
Quy định - Bộ Y tế
10
UBND
Ủy ban nhân dân
11
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
12
CHXHCNVN
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
13
BVMT
Bảo vệ môi trường
14
VSATTP
Vệ sinh an toàn thực phẩm
15
MTQGNS
Môi trường quốc gia nước sạch
16
QĐ - BNN
Quyết định Bộ Nông nghiệp
17
2.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1. Một số khái niệm về tài nguyên nước 4
2.1.2. Khái niệm ô nhiễm nước 6
2.2. Cơ sở pháp lý 8
2.3. Cơ sở thực tiễn 10
2.3.1. Tài nguyên nước và tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên thế giới 10
2.3.2. Tài nguyên nước và hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại
Việt Nam 11
2.3.3. Thực trạng nước sinh hoạt của tỉnh Thái Nguyên 14
2.3.4. Các giải pháp xử lý nước sinh hoạt 16
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 19
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 22
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 26
4.1.2.1. Thực trạng phát triển các ngành 26
4.1.2.2. Dân số, lao động và việc làm 27
4.1.2.3. Cơ sở hạ tầng 28
4.1.3. Những thuận lợi và khó khăn của phường Quang Trung 30
4.2. Nguồn nước và tình hình sử dụng nước sinh hoạt của phường Quang
Trung, thành phố Thái Nguyên 30
4.2.1. Nguồn nước dùng cho sinh hoạt 30
4.2.2. Các nguồn khả năng gây ô nhiễm nguồn nước của phường Quang
Trung, thành phố Thái Nguyên 31
4.3. Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại phường Quang Trung, thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 35
4.3.1. Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt 35
4.3.2. Ý kiến của người dân về chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn phường
Quang Trung 40
4.3.3. Một số căn bệnh mà người dân thường mắc phải có liên quan đến
nguồn nước 42
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất nước ta đang trong thời kì phát triển tương đối mạnh về các ngành
công nghiệp cũng như nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của các ngành và
của đất nước thì nhu cầu của người dân ngày càng cao, nhu cầu sử dụng
nguồn nước sạch đảm bảo chất lượng của người dân ngày càng khắt khe hơn.
Như chúng ta đã biết nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý
giá, con người, động, thực vật sẽ không tồn tại được khi thiếu nước. Vậy
không có nước nghĩa là không có sự sống, con người có thể thiếu nguồn năng
lượng để vận tải máy móc hay thiếu chỗ ở, thậm chí cả thức ăn nhưng không
tồn tại được khi thiếu nước. Sự có mặt của nước là điều kiện đầu tiên để xác
định sự tồn tại của sự sống, ở đâu có nước thì ở đó có sự sống. đối với sự sống
của con người, nước là nền tảng cho tất cả các hoạt động. Nước cho ta uống,
tạo ra thực phẩm cho chúng ta ăn, tạo ra năng lượng hỗ trợ nền kinh tế hiện
đại của chúng ta, duy trì các dịch vụ sinh thái và các yếu tố khác mà tất cả
chúng ta đều phụ thuộc. Nhưng sau đó kèm theo sự phát triển của nền kinh tế
của khoa học kỹ thuật được bắt đầu từ thời kỳ công nghiệp hóa cho tới nay
sau những mặt lợi của nước thì còn xuất hiện những vô số hậu quả nghiêm
học và trung học phổ thông đóng trên địa bàn. Trong những năm qua thì quá
trình đô thị hóa đã tác động mạnh mẽ đến môi trường của phường như: không
khí, đất, nước ở các mức độ khác nhau. Ngoài những nguyên nhân khách
quan như vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thì nguyên nhân chủ quan ở đây là sự
gia tăng các hoạt động kinh tế - xã hội, dân cư, thiếu quy hoạch, thiếu sự quan
tâm trong công tác quản lý môi trường của cơ quan quản lý cấp cơ sở. Ví dụ:
nhu cầu kinh doanh phòng trọ dành cho sinh viên còn thiếu quy hoạch trong
các khâu xử lý còn xả thải chất thải chưa đúng quy trình… do đó cần phải đưa
ra các biện pháp kịp thời để ngăn ngừa hạn chế và khắc phục giảm thiểu ô
nhiễm môi trường đặc biệt là nguồn nước nhằm phát triển kinh tế -xã hội ngày
càng bền vững.
Xuất phát từ hiện trạng của việc sử dụng nước trong sinh hoạt của
người dân tại phường Quang Trung - thành phố Thái Nguyên, để đánh giá
được chất lượng của nguồn nước đang được sử dụng tại phường Quang
Trung, được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa
Môi trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng viên - ThS. Nguyễn Thị
Huệ, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước
sinh hoạt phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên”.
3
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu
- Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát được tình hình sử dụng nước cấp
sinh hoạt tại phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá chất lượng nguồn nước, từ đó có những đề xuất cải thiện các
giải pháp cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường cho người dân tại
địa bàn phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên
1.2.2. Yêu cầu
- Điều tra thu thập thông tin, phân tích để xác định các nguồn, yếu tố
Nước là nguồn tài nguyên rất quan trọng, là một trong những
thành phần không thể thiếu của sự sống và môi trường.nếu không có nước thì
sự sống trên trái đất không thể tồn tại và phất triển bền vững được. Nước có
thể chia ra làm nhiều loại khác nhau như: nước mặn, nước ngọt, nước lợ…
qua đó căn cứ vào mục đích sử dụng dưới góc độ luật môi trường, nguồn
nước được hiểu là “một thành phần cơ bản của sự sống”.
Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo: Nước
mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước
mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi
chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.
Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước
trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác.
Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ
chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc
điểm của dòng chảy mặn trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc
hơi địa phương. Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước.
Các hoạt động của con người có thể tác động lớn hoặc đôi khi phá vỡ
các yếu tố này. Con người thường tăng khả năng trữ nước bằng cách xây
dựng các bể chứa và giảm trữ nước bằng cách tháo khô các vùng đất ngập
nước. Con người cũng làm tăng lưu lượng và vận tốc của dòng chảy mặt ở
các khu vực lát đường và dẫn nước bằng các kênh.
5
Tổng lượng nước tại một thời điểm là vấn đề cần quan tâm. Một số đối
tượng sử dụng nước có nhu cầu nước theo vụ. Ví dụ, trong mùa hè cần rất
nhiều nước để phục vụ cho nông nghiệp hoặc phát điện nhưng trong mùa mưa
thì không cần nước, vì vậy để cung cấp nước tốt cho mùa hè thì cần một hệ
thống trữ nước trong suốt năm và xả nước trong một khoảng thời gian ngắn.
Các đối tượng sử dụng nước khác có nhu cầu dùng nước thường xuyên
như nhà máy điện cần nguồn nước để làm lạnh.
thể gây hại cho cuộc sống con người và vi sinh vật trong tự nhiên.
Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau:
nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí. Nước bị ô
nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có
thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô
nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu.
Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, dưới tốc độ phát triển như
hiện nay con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng các hóa chất, chất
thải từ các nhà máy, xí nghiệp. Các đơn vị cá nhân sử dụng nước ngầm dưới
hình thức khoan giếng, sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ
khoan lại làm cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Các
nhà máy xí nghiệp xả khói bụi công nghiệp vào không khí làm ô nhiễm không
khí, khi trời mưa, các chất ô nhiễm này sẽ lẫn vào trong nước mưa cũng góp
phần làm ô nhiễm nguồn nước.
Ô nhiễm nước có hai yếu tố chính:
+ Ô nhiễm tự nhiên
Là do mưa,tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động
sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng
bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất,
sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm hoặc theo dòng nước ngầm hòa
vào dòng lớn. Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những
chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ
rác và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ. Nước lụt có thể
bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân
độc hại ở các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ
nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất. Ô nhiễm nước do các
yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng
7
không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất
8
nhiễm bẩn nước và nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp và nông
nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” (Trần Yêm và cs, 1998) [13].
Tóm lại, ô nhiễm nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất
hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và vi sinh vật.
Nguồn gốc gây ô nhiễm có thể là tự nhiên hay nhân tạo.
Các xu hướng chính làm thay đổi lượng nước khi bị ô nhiễm:
Giảm độ nước ngọt bị ô nhiễm bởi H
2
S0
4
, HN0
3
từ khí quyển, tăng hàm
lượng S0
2
- và N0
3
- trong nước.
- Tăng hàm lượng các ion Ca
2+
, Mg
2+
, Si0
3
2-
trong nước ngầm và nước
sông do nước mưa hòa tan và phong hóa quặng cacbonat.
-
Căn cứ tiêu chuẩn vệ sinh ăn uống (Ban hành kèm theo quyết định số
1329/ ngày 18 tháng 4 năm 2002 của bộ trưởng y tế).
-
Nghị định số 21/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ sung nghị định 80/2006/NĐ-
CP về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều kiện của luật
BVMT.9
-
Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCN ngày 5/6/2002 của BKHCN về
việc ban hành tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
-
Quyết đinh số 34/2004/QĐ-BKHCN ngày 9/10/2004 về việc ban hành
tiêu chuẩn Việt Nam.
Quyết định số 22/2006/ QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của BTNMT về
việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn việt nam
- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của BTNMT
Về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia môi trường.
- TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2:1991) - chất lượng nước - lấy mẫu.
Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu.
- TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3:1985) - chất lượng nước- lấy mẫu.
Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu.
QCVN 02:2009/BYT “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước
sinh hoạt” (Ban hành kèm theo thông tư 05 ngày 01/12/2009
ngòi, ao hồ và hơi nước trong không khí, 30,1% nước ngầm, và phần còn lại
là những tảng băng trải rộng ở Bắc và Nam cực. Trong 0,4% nước mặt đó, có
67,4% nước ao hồ, 1,6% sông ngòi, 12,2% nước đã thấm vào đất, 9,5% hơi
nước trong không khí, và phần còn lại gồm các vùng đất ngập nước.
Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước ô nhiễm ra thì còn khoảng 0,003% là
nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được và nếu tính ra trung bình mỗi
người được cung cấp 879.9000 lít nước ngọt để sử dụng (Miller, 1988) [17].
Mỗi năm 1,6 triệu dân trên thế giới chết do thiếu nước sạch. Trung bình
mỗi ngày, một người dân ở Bắc Mỹ, chủ yếu là Canada và Hoa Kỳ dùng từ
600 đến 800 lít nước, người dân Paris tiêu thụ 100L/ngày. Tại các quốc gia
đang phát triển dao động từ 60 đến 150 lít/ ngày. Trong lúc đó, nhiều vùng ở
Châu Phi, phần đông cư dân không có hơn một lít nước dùng cho sinh hoạt cá
nhân. Tại châu Á và châu Phi có 141 triệu dân cư ở các thành phố lớn không
được bảo đảm về nước ngọt và nước sạch.
Do sự gia tăng dân số của thế giới kéo theo nhu cầu cần phải phát triển
nông nghiệp, nên việc tận dụng nguồn nước, nhất là nước ngầm sẽ là một
nguy cơ làm cạn kiệt nguồn nước trong tương lai. Ví dụ: Ở Hoa Kỳ, khoảng
11
44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và
9% dùng cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991).
Theo tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do bao phủ trên trái
đất khoảng 1,4 tỉ km
3
, nhưng so với trữ lượng nước ở lớp giữa vỏ của trái đất
(khoảng 210 tỉ km
3)
qua đó cho ta thấy nó chỉ chiếm 1% tổng lượng nước tự
nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo các tác giả và nó dao động
từ 1.385.985.000km
Việt Nam
* Tài nguyên nước ở Việt Nam
Tổng lượng nước mặt trên lãnh thổ trên một năm là: 830 - 840 tỷm
3
,
trong đó: Nội sinh là 310-315 tỷ m
3
chiếm 38%. Ngoại sinh là 520- 525 tỷ m
3
chiếm 63%.
Ở Việt Nam, Tài nguyên nước mặt ở đây là dòng chảy sông ngòi thì
tương đối phong phú, có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với 2372 con sông
với dòng chảy quanh năm gắn theo đó mỗi con sông dài hơn 10km. tổng diện
tích lưu vực sông là: 1.167.000km
2
trong đó phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ
là: 835,422 km
2
, chiếm đến 72%. Có 13 sông chính và sông nhánh lớn có diện
tích lưu vực từ 10.000km
2
trở lên; 166 con sông có diện tích lưu vực dưới
12
10.000km
2
. Tuy nhiên, tài nguyên nước mặt biển đổi mạnh mẽ theo thời gian
giao động mạnh mẽ giữa các năm và phân bố không đồng đều trong năm và
còn phân bố không đồng đều giữa các hệ thống sông và các vùng (theo Bộ
khoảng 48 tỷ m
3
/năm và trung bình hàng năm, người dân sử dụng khoảng 1 tỷ m
3
.
Nhu cầu tưới tiêu trong ở Việt Nam hàng năm là 76,6 tỷ m
3
chỉ đủ cung ứng
cho 80% đất trồng trọt trên toàn quốc (9,7 triệu hecta). Tình trạng ô nhiễm
nước do nước thải sinh hoạt kể cả ở các đô thị và nhiều vùng nông thôn đã lên
mức báo động. Qua kết quả kiểm nghiệm 185 nguồn nước trên địa bàn 16 xã
trên cả nước đã thực hiện năm 2006 cho thấy: tỉ lệ nguồn nước đạt tiêu chuẩn
vệ sinh chỉ đạt 1,1; tỉ lệ đạt tiêu chuẩn về hóa lý là 58,47% (tiêu chuẩn thường
13
gặp: pH: 27%; Fe: 8,19%; nitrat: 8,19%; Cl: 4,91%). Chỉ tiêu vi sinh vật là
1,1% (trong đó 25,95 ô nhiễm vi sinh vật ở mức độ nhẹ và trung bình; 72,95%
ô nhiễm ở mức độ cao). Với mức đánh giá của trung tâm Y tế dự phòng sẽ
thấy độ chênh lệch khá lớn giữa loại nước hợp vệ sinh và loại nước đủ tiêu
chuẩn nước sạch. (Trần Yêm và cs, 1998) [13].
Tại Việt Nam, việc tiếp cận với nước sạch là hết sức khó khăn, đặc biệt
tại các vùng sâu, vùng xa và nông thôn. Những bệnh có liên quan đến nước là
nguyên nhân gây ra bệnh tật ở trẻ và người lớn, khiến trẻ không được đến
trường do ốm đau, bị đi ngoài do uống nước không sạch. Phần lớn nước ở các
vùng nông thôn Việt Nam bị ô nhiễm. Người dân lấy nước từ nguồn nước
mặt, nước giếng đào nông. Phần lớn các nguồn nước này đều nhiễm vi khuẩn,
ký sinh trùng, vi rút.
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế hiện chỉ có khoảng 60% dân số Việt
Nam được tiếp cận với nước sạch và nước hợp vệ sinh cho sinh hoạt hàng
ngày. Trong số 52% dân thành thị được tiếp cận với nguồn nước được cho là
2
,
chiều dài của sông được tính từ đầu nguồn đến hết địa phận Thái Nguyên là
206km. Lượng nước bình quân/ năm khoảng 2,28 tỉ m
3
nước / năm. Trên sông
này đã xây dựng hệ thống thủy Sông Cầu như hệ thống đập Thác Huống dùng
để tưới cho 24.000 ha lúa 2 vụ của Phú Bình và Hiệp Hòa, Tân Yên. Theo số
liệu quan trắc tại Thác Bưởi - huyện Phú Lương, lưu lượng nước trung bình
của sông này là 51,4m
3
/s, lưu lượng nhỏ nhất (tháng 2) là 11,3m
3
/s và lưu
lượng nhỏ nhất (tháng 8) là 128m
3
/s. Tuy là con sông chính của tỉnh nhưng
hiện nay chất lượng nước của con sông hiện nay đang rơi vào tình trạng ô
nhiễm trầm trọng do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển. làm
ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trên địa bàn tỉnh thái nguyên.
Hồ Núi Cốc trên con sông Công được xây dựng năm 1972 và hoàn
thành vào năm 1978, có dung tích 175,5.10
6
m
3
. Hồ Núi Cốc có nhiệm vụ
cung cấp nước tưới cho vùng hạ lưu sông Công và cung cấp bổ sung nước cho
Sông Cầu, phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp của thành phố Thái
Nguyên, các khu vực Sông Công, Gò Đầm và tưới cho hơn 20.000 ha ruộng ở
hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh.
3
nước mặt/năm và 1,5-2 tỷ m
3
nước ngầm của
tỉnh Thái Nguyên được cảnh báo ô nhiễm nặng, đặc biệt là nguồn nước sông
Cầu. Các trạm quan trắc tại Cầu Gia Bảy, Đập Thác Huống, Cầu Mây cho
thấy hàm lượng nước sông Cầu có các chỉ tiêu vượt quá tiêu chuẩn cho phép
như B0D
5
vượt từ 1,08- 9,5 lần; COD vượt từ 1,2- 5,8 lần; NH4
+
vượt từ
1,34 - 20 lần [17].
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước
mặt cũng như nước ngầm đang báo động ở Thái Nguyên, là do ngành công
nghiệp khai thác khoáng sản, luyện kim đen, luyện kim mầu, công nghiệp cơ
khí chế tạo… phát triển mạnh, nhưng các biện pháp xử lý ô nhiễm bảo vệ
môi trường không mấy hiệu quả. Sở Tài Nguyên Và Môi Trường của tỉnh
cũng phải công nhận, hâu hết các biện pháp bảo vệ môi trường của các dự án
và các cơ sở sản xuất đề cập trong báo cáo đánh giá tác dộng môi trường
không có tính khả thi hoặc xử lý kém. Trên thực trạng chung phần lớn là các
chất thải sản xuất chưa được xử lý mà thải trực tiếp qua môi trường.
Trên một số địa điểm ở Sông Công và Hồ Núi Cốc đã có dấu hiệu ô
nhiễm của các chất hữu cơ và vô cơ, kim loại nặng, dầu mỡ hóa chất bảo vệ
thực vật.kèm theo nó là nguồn nước ngầm đã có những biểu hiện ô nhiễm
16
nặng mang những đặc điểm đặc trưng của từng vùng khác nhau. Một số khu
vực khai thác tại xã Hà Thượng, Tân Linh (huyện Đại Từ) hàm lượng asen từ
0,068- 0,109mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,7- 8,2 lần. Phường
ử dụng
hóa chất
Khác
Không
xử lý
1 Nước mưa 27,6 35,2 0,0 0,0 37,2
2 Nước máy 1,6 20,3 0,0 0,0 0,0 78,1
3 Nước giếng khoan
36,4 17,0 0,3 0,3 0,1 45,9
4 Nước giếng khơi 6,6 7,9 0,3 0,0 0,1 85,1
5 Suối đầu nguồn 5,3 6,7 0,0 0,0 0,1 87,9
6 Sông, ao, hồ 1,5 36,6 42,7 3,8 0,1 15,3
7 Khác 5,6 8,0 0,0 0,0 0,0 86,4
(Nguồn: Nguyễn Huy Nga và cs, 2004) [7]