Đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29

I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGUYễN NGọC TOảN Tờn ti:

Đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân trồng mía trên địa bàn
xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Kinh t Nụng nghip
Lp : K42A - KTNN
Khoa : KT - PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn : ThS. Nguyn Th Hin Thng
Thỏi Nguyờn, nm 2014

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả kinh tế hộ
nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao
Bằng” là khóa luận do chính bản thân tôi thực hiện và dựa trên cơ sở nghiên cứu
lý thuyết, kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và
dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Hiền Thương.
Các số liệu bảng, biểu, và những kết quả trong khóa luận là trung thực, các
nhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm hiện có.
Một lần nữa em xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên. Sinh viên Nguyễn Ngọc Toản

DANH MỤC CÁC BẢNG
trang
Bảng 1: Tình hình sản xuất Mía đường của các khu vực trên thế giới 12
Bảng 1.2 Dự báo cung cầu đường thế giới niên vụ 2012-2013 13
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng mía Việt Nam trong ba năm 15
Bảng 2.4. Diện tích, năng suất, sản lượng mía tại một số xã 18
Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Cách Linh qua 3 năm
2011-2013 27
Bảng 3.2. Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng của xã Cách Linh năm
2013 30
Bảng 3.3: Tình hình hộ, khẩu và lao động của xã qua 3 năm 2011-2013 32

trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
4. Đóng góp của đề tài 3
5. Bố cục của khóa luận 3
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất mía 4
1.1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 7
1.2. Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1. Tình hình sản xuất mía ở Thế giới 11
1.2.2. Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam 14
1.2.3. Tình hình sản xuất mía ở huyện Phục Hòa 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 20
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 20
2.2. Trả lời cho nội dung nghiên cứu 20
2.3. Nội dung nghiên cứu 20
2.4. Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1. Phương pháp thu thập thông tin 21
2.4.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 22

nông dân 49
4.2.3. Giải quyết tốt vấn đề vốn vay cho hộ nông dân 50
4.2.4. Tìm kiếm thị trường đầu ra 50
4.2.5. Phát huy những lợi thế về điều kiện tự nhiên và xã hội 50
4.2.6. Giải pháp về công tác khuyến nông 50
4.2.7. Giải pháp về bảo vệ thực vật 51
4.2.8. Giải pháp cho tiêu thụ 51
4.3. Kiến nghị 52
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời kỳ hội nhập cùng với những chuyển biến tích cực của nền
kinh tế Việt Nam thì ngành nông nghiệp luôn được coi là ngành quan trọng
hàng đầu. Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều hơn tới nông
nghiệp. Song nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như
khả năng cạnh tranh so với các nước trong khu vực, gặp nhiều rủi ro, bất lợi
do thời tiết, thị trường, thể chế chính sách, những rủi ro bất lợi này tác động
rất lớn tới người nông dân. Xét một cách toàn diện người nông dân luôn là
những người chịu nhiều thiệt thòi và luôn gặp khó khăn nhất trong cuộc sống.

sản phẩm, giá cả thị trường không ổn định và giá cả vật tư nông nghiệp phục
vụ hoạt động sản xuất mía tương đối cao. Do đó, người nông dân không dám
mạnh dạn đầu tư thâm canh dẫn đến hiệu quả sản xuất mía thấp. Xuất phát từ
thực tế đó, việc xem xét tình hình sản xuất mía của địa phương, đánh giá
chính xác HQKT của cây trồng là một trong những cơ sở để đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất mía để giúp nông hộ sản
xuất mía có hiệu quả hơn. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả
kinh tế hộ nông dân trồng mía tại xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh
Cao Bằng”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất
cây mía trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất mía trên địa bàn xã, góp phần
thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ cây mía tại xã
- Đánh giá hiệu quả sản xuất cây mía tại xã
- Đề ra giải pháp phát triển cây mía địa phương
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên.
- Giúp rèn luyện kĩ năng, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với
công việc, phuc vụ tích cực cho quá trình công tác sau này.
- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về hiệu quả kinh tế sản
xuất cây mía tại địa phương.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Nắm bắt được tình hình sản xuất mía và vị trí của cây mía trong sự
phát triển kinh tế địa phương. Đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng
tới sự phát triển cũng như hiệu quả kinh tế của cây mía.


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất mía
1.1.3.1. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất mía
Mía là một trong những cây trồng quan trọng của nước ta. Trong
những năm qua, cây mía đã giúp nhiều địa phương xoá đói giảm nghèo.
Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu từ những cây
trồng, vật nuôi phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất của mình. Ngày xưa
cây mía tạo ra thu nhập cho người nông dân với các sản phẩm mật mía,
đường mía thì ngày nay, cây mía và ngành mía đường tại Việt Nam chiếm
một vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của người dân. Do nó có ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng nghìn người nông dân. Ngoài ra mía
còn là một thức uống . Theo đông y dược thảo, cây mía tên khoa học là Sa
officinarum, họ Lúa (Gramineal). Khi bón đủ phân nước, mía cao 2,5 ÷ 3
m. Khi trổ cờ ở ngọn, đó chính là hoa mía, chứa chất đường đã chuyển hóa
thành men rượu, cũng là vị thuốc có tác dụng diệt khuẩn trực trùng đường
ruột, lọc sạch mô mỡ có trong máu.[7]
Viện sức khỏe cộng đồng Mỹ cho biết, cứ 100ml nước mía chứa 10%
đường saccarose, 22% protein, 0,5% lipit, sáp, 0,05% cacbon, 0,5% tro muối
cali, natri, mangan, silic, sắt và magiê.
1.1.3.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất mía
a, Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
* Khí hậu:
- Nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20 - 25
0
C. Nhiệt độ cao quá hoặc
thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp.
Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con, nhiệt độ thích hợp

giữ nước - phân, đất chua, nhiều phèn (sắt và nhôm); đất mất chất hữu cơ, đất
bị chai do tập quán đốt lá mía sau thu hoạch, ta phải tiến hành cải tạo bằng cách
bón phân chuồng (trâu, bò), tro rơm, tro trấu. Có thể luân canh hoặc trồng xen
canh cây họ đậu để làm đất tốt hơn.
b, Nhóm yếu tố về kỹ thuật
- Thời vụ: Thời vụ trồng mía thường vào đầu và cuối mùa mưa.
- Làm đất: Tiến hành vệ sinh đồng ruộng để diệt trừ cỏ dại, mầm mống sâu
bệnh, làm cho đất tơi xốp thông thoáng. Cày đất là khâu quan trọng giúp bộ rễ mía
ăn sâu, chịu hạn, chống đổ và tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây.
Khoảng cách hàng trồng khoảng 0,8 - 1 m. Đào hộc: Rộng 20 - 30 cm,
sâu 20 - 30 cm. Bón lót toàn bộ phân nền hữu cơ, phân lân và thuốc Basudin
trước khi đặt hom 1 - 2 ngày.
- Chuẩn bị hom mía: Chọn hom ta nên chọn hom không sâu bệnh,
không lẫn giống, không xây xát, không quá già và cũng không quá non (tốt
nhất là từ 6 -8 tháng tuổi). Hom mía phải có từ 2-3 mầm tốt. Ngâm hom trong
nước 8-24 giờ đối với giống nảy mầm chậm. Tiến hành chặt mỗi hom hai mắt

6

mầm, chặt ngang giữa lóng, không chặt sát mầm. Hom chặt xong đem trồng
ngay là tốt nhất.
- Đặt hom: Giống chuẩn bị xong là có thể đặt ngay. Hom đặt thành một
hàng giữa rãnh mía, hai hom cách nhau từ 10 - 20 cm (tùy theo giống). Đối
với nền đất ẩm khi đặt hom nên ấn nhẹ cho lún xuống nửa thân hom, để giữ
ẩm cho mầm và rễ dễ phát triển. Ở nền đất khô, hom đặt xuống phải lấp một lớp
đất mỏng để cố định hom và giữ ẩm.
- Chăm sóc: Sau khi trồng 1 - 1,5 tháng tuổi nếu phát hiện có chết hom

nguyên liệu phục vụ cho xuất khẩu.
- Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn
phương thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu
được là tối đa. còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên
cứu kỹ được thị trường, xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương thức
tiêu thụ. Muốn vậy phải xem xét quy luật cung cầu trên thị trường.
+ Giá cả
Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng mía nói
riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá cả trên thị trường; giá cả không ổn định ảnh
hưởng tới tâm lý người trồng mía.
- Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời
sống của người sản xuất. Do đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu
thụ là hết sức cần thiết cho sự phát triển lâu dài của ngành mía đường.
1.1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
1.1.2.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ
cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động
kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản
xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng
tăng. Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng
của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế .
Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
• Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ
tăng trưởng sản xuất sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả
cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả có nghĩa là
không lãng phí. Một nền kinh tế có hiệu quả khi nó nằm trên đường giới hạn
năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của nền kinh
tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế và sản lượng thực tế là sản
lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần bị lãng phí.

Quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và
yếu tố đầu ra, là biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả và HQ sản xuất. Kết quả
là một đại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung
tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Khi xác định HQKT không nên chỉ quan
tâm đến hoặc là quan hệ so sánh (phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối (phép
trừ) mà nên xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng

9

tuyệt đối. HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, thu nhập,
lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:
- Quy luật cung - cầu
- Quy luật năng suất cận biên giảm dần.
HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét đến hiệu quả hữu ích
được tạo ra như thế nào, có được chấp nhận hay không. Như vậy, HQKT liên
quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp
là rất đa dạng vì ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi
phí vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất. Việc đánh giá
phần lớn phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp giữa các yếu tố đầu
vào và khối lượng đầu ra, nó là một trong những nội dung hết sức quan trọng
trong việc đánh giá HQKT. Tùy thuộc vào từng ngành, quy mô, đặc thù của
ngành sản xuất khác nhau thì HQKT được xem xét dưới góc độ khác nhau,
cũng như các yếu tố tham gia sản xuất. Xác định các yếu tố đầu ra, các mục
tiêu đạt được phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng
hóa sản xuất ra phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả đạt được là:

triệu đồng, ngoại tệ,…
Trong khi đó HQ là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
sản xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất không thể đo lường bằng
các đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị mà nó mang tính tương đối. Ta có thể tính
toán trình độ lợi dụng nguồn lực bằng số tương đối là tỷ số giữa kết quả và
hao phí nguồn lực.
Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối: Phạm trù này
chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là
kết quả của quá trình kinh doanh không bao giờ phản ánh được trình độ lợi
dụng nguồn lực sản xuất.
1.1.2.3. Phân loại hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế - xã hội được diễn ra ở các phạm vi
khác nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản
xuất càng khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT càng khác nhau. Do đó,
để nghiên cứu HQKT đúng cần phân loại HQKT.
Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau:
* Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét. HQKT được phân theo
các khía cạnh sau:
- HQKT quốc dân: Là HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã
hội của một quốc gia.
- HQKT ngành: Là HQKT tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất
nhất định như công nghiệp, nông nghiệp,

11
- HQKT theo lãnh thổ: Tính riêng cho từng vùng, từng địa phương.
- HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất - kinh doanh: Doanh nghiệp
Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình,
12
giới, trong khi đó sản lượng mía ở Châu Âu năm 2009 giảm chỉ còn 1,63%
sản lượng năm 1961.
Bảng 1: Tình hình sản xuất Mía đường của các khu vực trên thế giới
Chỉ tiêu
Sản xuất (Triệu tấn)
2010 2011 2012
2012/2010
+/- %
Thế giới 1807,86 1819.41 1832.54 24.68

1.37
 Các nước đang phát triển

184.85 197.02 202.87 18.02

9.75
 Các nước kém phát triển

51.64 52.83 54.26 2.62 5.05
(Nguồn: FAO)
Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 quốc gia sản xuất đường
mía trong đó 78% tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới và tiểu nhiệt đới của
khu vực phía nam bán cầu. Theo số liệu của FAO năm 2012, sản lượng Mía
đường của thế giới đạt 1832.54 triệu tấn tăng 1.73% so với năm 2010.
Trong đó các nước đang phát triển năm 2012 sản lượng đường Mía là
202.87 triệu tấn tăng 9.75% so với năm 2010, còn các nước kém phát triển
có sản lượng mía rất thấp là 54,26 triệu tấn chie chiếm 2.47% sản lượng

Philippin 387 2,400 300 2,000 487
Mỹ 1,515 7,779 2,595 227 10,555 843
Mêxico 848 5,448 192 1,024 4,621 843
Nga 455 5,050 1,200 375 6,030 400
(Nguồn FAO)
Ấn Độ- nước tiêu thụ đường hàng đầu và là nước sản xuất đường lớn
thứ hai thế giới. Ước tính sản lượng đường ở nước này đạt 25 triệu tấn trong
năm nay, cao hơn nhu cầu hàng năm 22 triệu tấn. Hiệp hội mía đường Ấn Độ
(ISMA) ước tính dự trữ đường đạt 6 triệu tấn trong niên vụ bắt đầu từ
1/10/2012 so với 5,5 triệu tấn niên vụ trước. Ấn Độ có thể xuất khẩu 2,5 triệu
tấn đường niên vụ 2012/13. Dự trữ đầu vụ đạt 6 triệu tấn, nguồn cung nội địa
ước đạt 30 triệu tấn so với 22,5-23 triệu tấn tiêu thụ nội địa. Bởi vậy, chưa
nên hạn chế xuất khẩu. Chính phủ Ấn Độ đang xem xét kế hoạch tăng thuế
nhập khẩu đường trắng lên 20%, K V Thomas, Bộ thực phẩm cho biết. Tăng
thuế là để kiểm tra đường tràn ngập thị trường trong nước. Thuế nhập khẩu
đường thô cũng có thể bị loại bỏ. Sau khi tham khảo ý kiến các Bộ có liên
quan, lưu ý nội các sẽ được chuyển trong 10-15 ngày tới. Hiện tại, thuế nhập
khẩu đường trắng cũng như đường thô là 10%.

14
Tại Brazil- nước xuất khẩu đường lớn nhất thế giới, ước tính sản lượng
mía tại trung nam Brazil, nơi trồng chính có thể tăng 26 triệu tấn lên 538 triệu
tấn vào vụ tới. Dự báo sản lượng đường niên vụ 2012/2013 đạt 32,3 triệu tấn
so với 31,3 triệu tấn niên vụ trước đó. Bên cạnh đó, không chỉ Brazil mà
nhiều nước sản xuất khác dự báo cũng đạt sản lượng đường lớn năm nay. Tổ
chức Đường thế giới (ISO) dự báo nguồn cung đường toàn cầu năm nay sẽ
thặng dư năm thứ 3 liên tiếp. Ước tính, nguồn cung đường toàn cầu năm nay

có quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ. Ở những vùng nguyên
liệu tập trung lớn, xây dựng các nhà máy có thiết bị công nghệ tiên tiến hiện
đại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản lượng đường năm 2000 đạt khoảng
một triệu tấn. Chương trình mía đường được chọn là chương trình khởi đầu để
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá đói,
giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp.
Cho đến nay ngành mía đường của Việt Nam đã góp phần vào sự tăng
trưởng nền kinh tế quốc dân và phần quan trọng hơn là góp phần lớn về mặt xã
hội giải quyết việc làm cho hàng triệu nông dân trồng mía. Trong những năm
vừa qua tình hình sản xuất mía cũng có sự thay đôi thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng mía Việt Nam trong ba năm

Diện tích(Nghìn ha) Sản lượng(Nghìn tấn)
2010 2010 2011 2012 2011 2012
CẢ NƯỚC 269,1

16161,7

17539,6

19040,8

282,2

297,9

Quảng Ninh 0,4

16,8


Cao Bằng 2,9

168,6

195,8

244,3

3,4

4,2

Tuyên Quang 6,6

374,3

480,8

589,2

8,6

10,1

Yên Bái 0,8

20,7

18,9


Thanh Hoá 30,3

1581,1

1669,2

1963,7

31,1

34,6

Nghệ An 23,4

1249,0

1293,3

1464,0

23,3

25,6

Quảng Ngãi 5,8

272,2

289,1


Khánh Hoà 17,3

732,8

764,0

916,1

17,2

17,7

Ninh Thuận 1,7

87,4

122,3

138,2

2,3

2,6 16
Bình Thuận 4,8


26,9

30,3

Đắk Lắk 12,9

780,1

1005,7

954,1

16,1

16,1

Lâm Đồng 1,0

71,6

64,8

66,5

0,9

0,9

Bình Phước 0,5


1,1

1,0

Đồng Nai 9,6

568,7

620,5

624,8

10,5

10,7

TP.Hồ Chí Minh 2,0

124,8

132,2

141,3

2,1

2,3

Long An 12,8


6,6

6,7

Kiên Giang 4,5

362,3

313,7

305,7

4,4

4,3

Cần thơ 0,0

0,0

0,0

0,0

0,0

0,0

Hậu Giang 13,1


0,2

0,2

( Nguồn: tổng cục thống kê 2014)
Qua bảng số liệu thì diện tích mía của cả nước năm 2012 là 19040,8 ha
tăng 1501 ha so với vụ trước. Diện tích tăng thêm chủ yếu ở Cao bằng,
Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Yên, Gia lai…Do các tỉnh này có diện tích đất
chưa sử dụng chiếm tỷ lệ lớn, đất đai phù hợp cho cấy mía phát triển.
Năng suất mía của cả nước là 297,9 nghìn tấn tăng 15,7 nghìn tấn so
với năm trước. Trong đó khu vực sản lượng mía nhiều nhất là ở Thanh
Hóa, Nghệ An
Phú Yên, Gia Lai do các tỉnh này có diện tích mía nhiều nhất cả nước
Mặc dù những năm qua Việt Nam đã nhập nội và chọn tạo trong nước
được một số giống mới có năng suất và chất lượng tốt như: MEX 105, K88-
65, VN84-1427, VN84-422, VD93-159, QD94-119, Liễu Thành 00-236, Việt

17
Đường 55… Tuy nhiên, do hệ số nhân giống thấp và thiếu nguồn nhân lực
nên đến nay diện tích canh tác các giống mía này còn rất khiêm tốn.
Sản suất mía đường là nói đến hai mảng gồm mảng công nghiệp chế
biến và mảng nông nghiệp. Mảng công nghiệp chế biến thường thực hiện khá
tốt, tuy nhiên, mảng này chỉ chiếm khoảng 20 – 25 % giá thành phẩm. Trong
khi mảng nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ lớn từ 70 – 80% trong cơ cấu giá thành
nên rất cần có những chủ trương, chính sách nhất quán của nhà nước để hình
thành nên các vùng mía nguyên liệu tập trung, từ đó đưa cơ giới hóa cùng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status