Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
phần i: Đặt vấn đề
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 15 năm kể từ khi ruộng đất đợc giao lâu dài cho ngời nông dân
(1993), và sau 20 năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng về phát triển kinh tế
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc,
nhiều loại hình sản xuất mới trong nông nghiệp đã xuất hiện. Trong đó đáng chú
ý hơn cả là loại hình kinh tế trang trại. Kinh tế trang trại là một bớc tiến mới
trong nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Kinh tế trang trại đã tăng cả về số lợng
và chất lợng thu hút đợc rất nhiều sự quan tâm của các ngành, các cấp đầu t
nghiên cứu.
Từ sau nghị quyết 10 của Bộ chính trị (tháng 4 năm 1988) và nghị quyết
hội nghị TW 6 (khoá 6) của ban chấp hành TW Đảng (tháng 3 năm 1989) Gia
đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ, hộ nông dân trong cả nớc đã
huy động đợc khả năng sẵn có về lao động, vật t, tiền vốn để đầu t sản xuất trên
90% diện tích đất canh tác. Kết quả là đã sản xuất ra đợc 98% tổng sản lợng
thóc, 99% sản lợng rau, 95% sản lợng cây công nghiệp ngắn ngày và 97% sản l-
ợng chăn nuôi gia súc gia cầm. Do vậy mà sản xuất nông nghiệp và đời sống
nông thôn đã đạt đợc kết quả cao hơn hẳn thời kỳ trớc đó.
Hiện nay, hình thức kinh tế trang trại đang tăng nhanh về số lợng với nhiều
thành phần kinh tế tham gia nhng chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình. Hầu hết các
trang trại có quy mô đất đai dới mức hạn điền, với lao động chủ yếu là của gia đình,
một số có thuê lao động thời vụ và lao động thờng xuyên, tiền công lao động đợc
thoả thuận giữa hai bên. Nguồn vốn đầu t của trang trại là vốn tự có và vốn vay của
cộng đồng. Tuy nhiên, vốn vay của các tổ chức tín dụng cũng chiếm tỷ lệ lớn. Phần
lớn các trang trại phát huy dợc những lợi thế sẵn có của khu vực mình, kinh doanh
tổng hợp lấy ngắn nuôi dài.
Sự phát triển kinh tế trang trại nói chung còn huy động đợc nguồn vốn tự có
trong cộng đồng, tận dụng đợc lao động lúc nông nhàn. Mặt khác kinh tế trang trại
còn sử dụng tốt những vùng đất trũng, đất hoang hoá nhất là các vùng đất trung du,
ven biển, tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo,
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này chúng tôi tập chung vào nghiên cứu
một số mô hình trang trại trong địa bàn thuộc huyện Văn Giang-tỉnh Hng Yên.
2
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
Từ đó thấy đợc sự khác biệt giữa các loại hình trang trại và tìm đợc những mô
hình trang trại làm ăn có hiệu quả kinh tế cao.
1.3.2. Phạn vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình trang trại là so sánh
hiệu quả kinh tế các loại hình trang trại. Những vấn đề còn tồn tại và những giải
pháp để nâng cao kinh tế sản xuất của các trang trại.
- Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu dựa trên các trang trại của huyện
Văn Giang tỉnh Hng Yên, bên cạnh đó có nghiên cứu một số trang trại điển hình
làm ăn có hiệu quả.
- Thời gian thực hiện đề tài:
Đề tài đợc thực hiện từ ngày 3/1-22/5/2006.
Nguồn số liệu thu thập nghiên cứu chủ yếu trong 3 năm từ năm 2003 đến
năm 2005.
phần ii: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
2.1.Cơ sở lý luận
2.1.1.Cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại
2.1.1.1.Các khái niệm cơ bản
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông-lâm-ng
nghiệp, trang trại bao giờ cũng có sự tập trung, tích tụ các điều kiện sản xuất kinh
doanh nh: đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật và công nghệ. Kinh tế trang trại cùng
sự phát triển với những đóng góp và hạn chế của mình đã và đang đợc sự quan
tâm nghiên cứu của các ngành, các cấp và địa phơng. Trong những năm gần đây
kinh tế trang trại đã phát triển ở hầu hết các địa phơng trong cả nớc, hình thành
mô hình sản xuất hàng hoá mới trong nông nghiệp. Do vậy đã có rất nhiều các
cấp các nghành có liên quan đã nghiên cứu về vấn đề kinh tế trang trại. Vậy kinh
tế trang trại là gì ?
rừng, gắn liền sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản.
Theo TS.Nguyễn Mạnh Tiến: Trang trại là đơn vị sản xuất nông nghiệp
hàng hoá của gia đình.
Theo GS.Trần Văn Hà cùng với quan điểm của TS.Nguyễn Mạnh Tiến nh-
ng đợc diễn giải đầy đủ hơn: kinh tế nông hộ chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp
sang sản xuất hàng hoá thì nông hộ đợc gọi là nông trại hay trang trại.
Theo TS.Chu Tiến Quang - Trởng ban Chính sách nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Viện nghiên cứu kinh tế Trung Ương thì nông hộ sản xuất hàng
hoá chỉ là loại hình cơ bản của trang trại cụ thể: Trang trại là hình thức tổ chức
nông nghiệp hàng hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, t liệu sản xuất cơ bản của
4
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
hộ gia đình, hoàn toàn tự chủ sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các tổ chức
kinh tế khác, sản phẩm chủ yếu là để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia
đình.
Tác giả Lê Trọng-NXB Nông nghiệp thì cho rằng trang trại là cơ sở, là
doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặc một nhóm nhà kinh doanh.
Còn kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trực
tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công
lao động xã hội, đợc chủ trang trại đầu t vốn, thuê mớn phần lớn hoặc hầu hết sức
lao động và trang bị t liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền
kinh tế thị trờng, đợc Nhà nớc bảo hộ theo pháp luật.
Theo tác giả Trần Trác : Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản
xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của một hộ nông dân theo cơ
chế thị trờng.
GS.TS. Nguyễn Thế Nhã thì cho rằng : Kinh tế trang trại là kinh tế hộ nông
dân sản xuất hàng hoá ở mức độ cao.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, trang trại mang đầy đủ và thể hiện rõ
nét các đặc điểm kinh tế trong khái niệm trên. Tuy nhiên, ở mỗi vùng, ở mỗi
quốc gia, mỗi giai đoạn cụ thể, tuỳ theo mức độ phát triển của nền kinh tế mà
- Chủ trang trại hoàn toàn không có t liệu sản xuất phải đi thuê toàn bộ
máy móc, đất đai, thiết bị, kho tàng, mặt nớc, chuồng trại
* Phân loại theo ph ơng thức điều hành sản xuất:
- Chủ trang trại sống cùng gia đình ở nông thôn, trực tiếp điều hành sản
xuất và trực tiếp lao động.
- Chủ trang trại uỷ thác: chủ trang trại uỷ nhiệm ruộng đất cùng t liệu sản
xuất của mình cho anh em, họ hàng bạn bè thân thiết ở quê để tiếp tục công tác.
- Chủ trang trại uỷ nhiệm cho ngời thân quen làm một hoặc nhiều công
việc nh làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch trên một phần hoặc toàn bộ
ruộng đất của mình trong một thời gian nhất định theo giá thoả thuận.
2.1.2. Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Cho đến nay, kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, nông
nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Để phát triển một
nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và giàu có thì chúng ta phải phát huy tốt tiềm
năng sẵn có từ nông thôn. Tuy kinh tế trang trại mới phát triển trong những năm
gần đây nhng nó đã thể hiện là một hình thức kinh doanh nông nghiệp có nhiều u
thế.
Thông qua kết quả hoạt động kinh doanh của trang trại có thể thấy vai trò
và vị trí của kinh tế trang trại là tế bào của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, là
6
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống nông nghiệp, là hình thức doanh
nghiệp trực tiếp sản xuất ra nông sản hàng hoá cho xã hội phù hợp với đặc điểm
sản xuất nông nghiệp, với quy luật sinh học và các quy luật sản xuất hàng hoá, là
đối tợng để tổ chức lại nền nông nghiệp, đảm bảo chiến lợc phát triển nền nông
nghiệp hàng hoá thích ứng với sự hoạt động của các quy luật kinh tế thị trờng.
*Về mặt kinh tế: kinh tế trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
từng địa phơng, phát triển đợc những cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao.
Kinh tế trang trại tiếp thu nhanh những tiến bộ kỹ thuật và đợc đavào sản xuất tạo
thêm nhiều sản phẩm hàng hoá, thúc đẩy nghành công nghiệp chế biến phát triển.
Kinh tế trang trại có nhiều khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
hơn, tốt hơn vì trang trại có nhiều vốn, nhiều lãi hơn. Nhìn chung các trang trại
chẳng những có đủ công cụ thờng dùng và sức kéo trâu bò mà đã trang bị nhiều
máy móc và áp dụng nhiều quy trình công nghệ mới hay quy trình sản xuất mới
vào các nghành sản xuất, dịch vụ theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông
nghiệp. Đó chính là yếu tố để nâng cao năng suất, chất lợng sản phẩm sản xuất,
kinh doanh.
Các trang trại đều có thuê mớn lao động. Thông thờng các trang trại đều có
quy mô sản xuất lớn hơn quy mô sản xuất của hộ nông dân nên nhu cầu về thuê
mớn lao động là tất yếu. Quy mô thuê mớn lao động trong các trang trại khác
nhau và phụ thuộc chủ yếu vào các loại hình trang trại và quy mô sản xuất của
trang trại. Có hai hình thức thuê mớn lao động trong các trang trại là thuê mớn
lao động thờng xuyên và thuê mớn lao động thời vụ. Trong hình thức thuê lao
động thờng xuyên, trang trại thuê ngời lao động làm việc ổn định quanh năm,
còn trong hình thức thuê lao động theo thời vụ thì trang trại chỉ thuê lao động làm
việc theo thời vụ sản xuất.
Các chủ trang trại là ngời có ý chí làm giàu, có phơng pháp và nghệ thuật
biết làm giàu và có những điều kiện nhất định để tạo lập trang trại.
2.2. Khái niệm về kinh tế và kinh tế sản xuất trang trại
2.2.1. Khái niệm về kinh tế.
Kinh tế là khoa học về sử dụng các nguồn lực khan hiếm, để đạt đợc những
mục tiêu trông đợi. Thông thờng, khoa học kinh tế liên quan đến việc ra quyết
định các phơng thức để sử dụng các nguồn lực có hạn. Thoả mãn nhu cầu đa
dạng của con ngời và tính đến hành vi và việc ra quyết định của con ngời để sử
dụng các nguồn lực đã có. Khoa học kinh tế bao gồm: kinh tế vi mô, kinh tế vĩ
mô và kinh tế tài nguyên môi trờng. Những khoa học kinh tế này đề cập đến các
nguyên lý kinh tế nêu trên vận dụng trong nền kinh tế quốc dân cả tầm vi mô và
vĩ mô.
8
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
giữa đầu vào và đầu ra tối u để tạo ra một lợng sản phẩm nhất định. Hiệu quả kỹ
thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng trong sản xuất
nông nghiệp.
9
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm và giá
đầu vào đợc tính để phản ánh giá trị sản phẩm trên một đồng chi phí thêm về đầu
vào hay nguồn lực cho một quá trình sản xuất. Thực chất của hiệu quả phân bổ là
hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố giá của đầu vào và đầu ra. Vì vậy nó đợc
xem là hiệu quả của giá. Việc xác định hiệu quả này giống nh xác định đầu vào
để tối u hoá lợi nhuận.
2.2.1.2. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết đến hiệu quả kinh tế và thể hiện
mục tiêu hoạt động của con ngời, nó chính là yêu cầu, nhiệm vụ của Chính phủ
trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử. Hiệu quả xã hội là mối tơng quan so
sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu đợc về mặt xã hội nh vấn đề công ăn việc
làm, công bằng xã hội, rút ngắn chênh lệch giàu nghèo, sự lành mạnh văn minh
của cộng đồng, bảo vệ môi trờng sinh thái, các mức độ phúc lợi xã hội. Đối với
nớc ta và các nớc đang phát triển việc tính toán các chỉ tiêu về mặt xã hội
còn nhiều vớng mắc nên chủ yếu các chỉ tiêu đánh giá về mặt xã hội chỉ mang
tính chất định tính. Mặt khác trong việc áp dụng các công nghệ vào sản xuất thu
hút nhiều lao động, tăng thêm thu nhập cho ngời lao động nhng do cha nhận thức
đợc tầm quan trọng của hiệu quả xã hội mà thế giới đang phải gánh chịu những
hậu quả hết sức nặng nề về môi trờng nh ngày nay.
2.2.1.3. Hiệu quả môi trờng
Hiệu quả môi trờng bao gồm toàn bộ các yếu tố vật chất và hoàn cảnh,
điều kiện tự nhiên bao quanh con ngời, nó có ảnh hởng trực tiếp đến sự tồn tại và
phát triển của con ngời cũng nh mọi quá trình sản xuất vật chất.
Hiện nay hiệu quả môi trờng đang đợc các nhà quản lý chú ý và đợc sự
quan tâm đúng mực của cộng đồng, cụ thể luật bảo vệ môi trờng đã đợc Quốc hội
xuất và góp phần kích thích sản xuất phát triển.
Từ phơng pháp tính toán có nhiều quan điểm khác nhau. Khi đánh giá kinh
tế sản xuất các tác giả thờng đánh giá về hiệu quả kinh tế mà cha đề cập đến các
chỉ tiêu đánh giá về mặt hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trờng. Kinh tế sản xuất là
một phạm trù kinh tế xã hội của những đặc thù phức tạp nên việc xác định và so
sánh kinh tế sản xuất là một điều khó khăn và mang tính chất tơng đối.
* Các chỉ tiêu đánh giá tài chính:
Các chỉ tiêu tài chính bắt nguồn từ bản chất của hiệuquả tài chính đó là
mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa chi phí và kết quả đạt đợc từ chi phí đó.
Hiệu quả tài chính : H = Q/C
Trong đó : H là hiệu quả tài chính
Q là hiệu quả thu đợc
C là chi phí bỏ ra
11
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
Chỉ tiêu hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực, giúp ta so sánh đợc
hiệu quả giữa các quy mô sản xuất khác nhau. Nhng nhợc điểm của chỉ tiêu này
là cha phản ánh hiệu quả mà ngời sản xuất quan tâm. Do vậy, khi phản ánh quy
mô của hiệu quả tài chính thì nên sử dụng chỉ tiêu tuyệt đối :
H = Q C
Chỉ tiêu này phản ánh rõ nét về quy mô sản xuất của các đơn vị kinh tế, cơ
sở sản xuất. Tuy nhiên chỉ tiêu lại không phản ánh đợc sự tác động của từng yếu
tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Khi nghiên cứu mức độ đầu t của chủ trang trại thì sử dụng chỉ tiêu :
H = Q/C trong đó :
H : Hiệu quả tài chính
Q : Phần tăng thêm của kết quả
C: Phần tăng thêm của chi phí
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:
Là sự so sánh giữa chi phí bỏ ra với hiệu quả thu đợc về mặt xã hội, bao
một phần hay toàn bộ, nếu chủ trang trại không có đủ vốn thì phải huy động vốn
ở ngoài cộng đồng nh vậy có thể phải chịu lãi.
- Phải có thị trờng tiêu thụ sản phẩm ổn định
- Phải có khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trang trại
của mình.
2.3. Cơ sở thực tiễn việc đánh giá kinh tế sản xuất trang trại trên thế giới và
ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình đánh giá kinh tế sản xuất trang trại trên thế giới
Trên thế giới kinh tế trang trại gia đình đã hình thành và phát triển hàng
trăm năm nay và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của sản xuất công
nghiệp, trong tiến bộ khoa học kỹ thuật và thúc đẩy nhanh quá trình CNH
HĐH nền nông nghiệp hàng hoá. Sở dĩ nh vậy vì nó là đơn vị kinh tế phù hợp với
nông nghiệp nông thôn, rất cơ động và linh hoạt, dễ dàng vợt qua những khó
khăn khi giá cả thị trờng không ổn định. Từ nghiên cứu kinh tế trang trại gia đình
ở các nớc có điều kiện địa lý, chế độ xã hội, tình hình chính trị và điều kiện kinh
tế khác nhau cho thấy :
Đa số các nớc có quy mô nông trại gia đình không lớn và phân tán ở nông
thôn, nhng cha tạo ra sản lợng nông sản và nông sản hàng hoá cao, tập trung.
Trong nền kinh tế hàng hoá, nó là lực lợng sản xuất hàng hoá chủ yếu trong nông
nghiệp.
13
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
Tại các nớc đang phát triển, kinh tế nông hộ tự cấp tự túc còn chiếm một tỷ
lệ đáng kể, đồng thời có một bộ phận kinh tế đã và đang chuyển sang kinh tế
trang trại sản xuất hàng hoá.
Tại các nớc đã phát triển ở giai đoạn đầu có số lợng nông trại nhiều và quy
mô nông trại nhỏ. Nhng cùng với sự phát triển của công nghiệp, số lợng nông trại
giảm dần và quy mô của nó tăng lên.
Cơ cấu sản xuất kinh doanh trong các nông hộ rất phong phú và đa dạng
gồm cả nông, lâm, ng nghiệp, chế biến, phi nông nghiệp.
nghiệp. Từ năm 1950 đến năm 1960 với chính sách lấy nông nghiệp nuôi công
nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp và để thực hiện chính sách đó từ
năm 1949 đến năm 1953 công cuộc cải cách ruộng đất đợc thực hiện theo 3 bớc:
- Giảm tô.
- Giải phóng đất công (1951), bán đất cho tá diền.
- Thực hiện khẩu hiệu ngời cày có ruộng (1953)
Sau khi cải cách ruộng đất, ở Đài Loan bắt đầu hình thành những trang
trại sản xuất quy mô nhỏ. Đến năm 1952 Đài Loan có 679.000 trang trại và đến
năm 1988 có khoảng 739.000 trang trại. Quy mô trang trại chỉ dới 1ha, phần lớn
các trang trại ở Đài Loan là trang trại kiêm nghành nghề chiếm 90%, số trang trại
thuần nông chỉ chiếm 10%. Nhờ công cuộc cải cách ruộng đất đó mà thu nhập
bình quân trên đầu ngời của Đài Loan không ngừng tăng lên cho dù dân số tăng
nhanh đến năm 1991 là 20,5 triệu dân: Năm 1952 là 148USD, năm 1959 là
250USD, năm 1989 là 734USD, năm 1993 là 10200USD. Mức dự trữ cũng tăng
lên đáng kể: Năm 1980 là 22 tỷ USD, năm 1989 là 76,7 tỷ USD và năm 1993 là
80 tỷ USD.
* Quá trình phát triển trang trại ở Thái Lan:
Tính đến nay Thái Lan có khoảng 4,5 triệu trang trại với quy mô diện tích
bình quân là 5-6 ha. Trang trại có quy mô dới 2,5 ha chiếm tới 58%, loại trang
trại trên 10 ha chiếm 14%. Những năm 80, hàng năm trang trại của Thái Lan đã
sản xuất ra 20 triệu tấn thóc gạo, 5 triệu tấn ngô, 25 triệu tấn mía đờng Giá trị
nông sản xuất khẩu của trang trại ở Thái Lan năm 1998: gạo 22,2 tỷ bath, sắn 20
tỷ bath, gà đông lạnh 4,5 tỷ bath Hiện nay Thái Lan đang là nớc đứng đầu thế
giới về xuất khẩu dứa hộp chiếm tới 1/3 sản lợng dứa của toàn thế giới.
* Quá trình phát triển trang trại ở Pháp:
Hầu hết trang trại ở Pháp là trang trại gia đình với tổng số khoảng 98000
trang trại, lực lợng này sản xuất ra một lợng nông sản gấp 2,2 lần tổng nhu cầu
15
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
trong nớc. Tỷ suất hàng hoá của hạt ngũ cốc đạt 95%, của thịt, sữa là 80%, hoa
136.000 ha). Tổng số trang trại đồn điền đã lên tới 2350 cái chuyên trồng cao su,
16
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
cà phê, chè, hồ tiêu, dừa, mía, bông, đay Có các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ
khác nhau, có trang trại ở Bắc Kỳ lên tới 8515 ha.
2.3.2.2. Giai đoạn từ 1954-1980
Đây là giai đoạn lịch sử quan trọng đối với nớc ta. Do ảnh hởng của cuộc
chiến tranh xâm lợc nên đất nớc ta tạm thời chia cắt làm hai miền Bắc và Nam.
Miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa đấu tranh xây dựng miền Nam
thống nhất đất nớc, nền kinh tế miềm Bắc trong giai đoạn này là kinh tế tập trung
thời chiến. Nên các trang trại trong thời kỳ này mới chủ yếu là các trang trại của
HTX nh : Trại chăn nuôi, vờn cây, ao cá Bác Hồ, có thể nói trong khoảng thời
gian này kinh tế trang trại của chúng ta cha thật sự hình thành và phát triển mạnh
mẽ.
2.3.2.3. Giai đoạn từ năm 1981 đến nay
Sau hơn 15 năm thực hiện đổi mới nền kinh tế đất nớc. Chúng ta đã gặt hái
đợc những thành tựu đáng tự hào, đặc biệt trong mặt trận nông nghiệp từ một nớc
còn nghèo đói thì nay Việt Nam đã trở thành một trong những nớc đứng đầu về
xuất khẩu gạo trên thế giới với sản lợng xuất khẩu 3,5-4,0 triệu tấn/năm. Cùng
với sự phát triển chung của kinh tế nông nghiệp, trong 10 năm trở lại đây kinh tế
trang trại ở nớc ta cũng phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng khẳng định đợc vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông nghiệp nông
thôn, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống cho ngời dân.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2002 nớc ta có khoảng 55.000
trang trại, trong đó miền Bắc có gần 7000 trang trại, Trung Bộ và Tây Nguyên là
13.000 trang trại và miền Nam là 35.000 trang trại.
Nhìn chung trang trại ở nớc ta có quy mô diện tích tơng đối lớn so với các
nớc trong khu vực, bình quân một trang trại có diện tích 4 - 5 ha, đã có 71,8%
diện tích đất trang trại đợc giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, còn lại 28,2%
diện tích đất cha đợc giao.
Giang có đờng giao thông thuỷ bộ rất thuận lợi vì nằm bên bờ sông Hồng, có
18
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
nhiều bến bãi. Bến Mễ có thuyền buồm từ các tỉnh miền Trung ra, bè gỗ, mía, lá
gồi từ các tỉnh Việt Bắc xuống đậu chen nhau trên bến dới thuyền rất tấp nập.
Trong huyện, có đờng bộ số 206 và 207 đều là những đờng giao thông huyết
mạch. Văn Giang nằm ở gần vị trí phía đông nam thủ đô Hà Nội, nhờ đó mà
nhân dân sớm tiếp cận với những tinh hoa của kinh kỳ Thăng Long Hà Nội.
Văn Giang là vùng đất đai màu mỡ, nằm bên tả ngạn sông Hồng, giữa
vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, có gió mùa, địa
hình tơng đối bằng phẳng, độ cao trung bình 4m so vói mặt biển. Đồng ruộng
chia thành 3 vùng : vùng đất bãi sông Hồng, vùng lúa và vùng lúa màu, cây công
nghiệp. Tuy đất trồng lúa ngày càng thu hẹp, nhng ruộng đất Văn Giang vốn màu
mỡ, ngày nay nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nên năng suất cây trồng
cao, sản lợng nông nghiệp ngày càng nhiều.
Văn Giang có sông Tế Giang, sông Ngu Giang. Sông Tế Giang chảy dọc
theo phía bắc và phía đông xã Nghĩa Trụ, nhân dân gọi là sông Nghĩa Trụ. Sông
Ngu Giang có dòng chảy từ sông Hồng qua Cống Luận, qua các xã Phụng Công,
Văn Phúc, thôn Kim Ngu
Sông Tế Giang và sông Ngu Giang dần dần bị đất bồi lấp, vết tích để lại là
những vùng đất trũng cấy lúa, đầm nuôi thuỷ sản, hồ chứa nớc.
Ruộng đồng Văn Giang đợc nớc sông Hồng mang theo phù sa vào qua hệ
thống thuỷ nông Bắc Hng Hải bồi đắp càng thêm tơi tốt, tạo điều kiện cho
Văn Giang phát triển nông nghiệp.
Khí hậu Văn Giang mang khí hậu đặc trng của miền Bắc Việt Nam khí hậu
nhiệt đới gió mùa và có bốn mùa rõ rệt là Xuân, Hạ, Thu, Đông, ma nhiều về
mùa Hạ, và khô hanh kéo dài về mùa Đông với khí hậu nh vậy rất thuận lợi cho
việc phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng khác nhau
theo từng mùa.
Mùa khô thời tiết thờng lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,
Diện tích đất nông nghiệp là 5020,55 ha chiếm 70% tổng diện tích đất tự
nhiên trong toàn huyện trong đó xã Tân Tiến có diện tích đất nông nghiệp là
719,74 ha chiếm tỷ lệ là 14,33%. Đây là xã có diện tích đất tự nhiên lớn nhất
trong huyện tạo điều kiện cho Tân Tiến có thể phát triển một nền nông nghiệp
hàng hoá để xuất sản phẩm đi các tỉnh bạn cũng nh là thủ đô Hà Nội, xã Nghĩa
Trụ có diện tích đất nông nghiệp đứng thứ hai trong toàn huyện 594,30 ha chiếm
tỷ lệ 11,83%, tiếp đó là xã Long Hng có diện tích đất nông nghiệp là 582,84 ha
chiếm tỷ lệ là 11,61%, thị trấn Văn Giang có diện tích đất nông nghiệp là 502,09
ha chiếm 10,00%, xã Liên nghĩa có diện tích đất tự nhiên là 459,34 ha chiếm tỷ
lệ 9,15%, xã Vĩnh Khúc có diện tích đất tự nhiên là 449,09 ha chiếm tỷ lệ 8,94%,
xã Mễ Sở có diện tích là 444,23 ha chiếm tỷ lệ 8,85%, xã Xuân Quan có diện tích
20
Báo cáo tốt nghiệp Đoàn Thanh Khơng - Lớp KT 47B
đất nông nghiệp là 365,65 ha chiếm tỷ lệ là 7,23% diện tích đất nông nghiệp
trong toàn huyện, xã Phụng Công có 363,92 ha chiếm tỷ lệ 7,25%, xã Cửu Cao
có diện tích đất nông nghiệp là 293,49 ha chiếm tỷ lệ 5,84%, xã có diện tích đất
nông nghiệp thấp nhất trong toàn huyện là xã Thắng Lợi có diện tích là 245,57 ha
chiếm tỷ lệ 4,89%.
Đất sản xuất nông nghiệp trong toàn huyện có diện tích là 4540,88 ha
chiếm 63,25% tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn huyện, xã Tân Tiến vẫn là xã
có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn nhất tới 682,61 ha chiếm 15,03% diện
tích đất sản xuất nông nghiệp trong huyện, xã Thắng Lợi có diện tích đất sản xuất
nông nghiệp ít nhất chỉ có 204,81 ha chiếm 4,51% diện tích đất sản xuất nông
nghiệp trong toàn huyện.
Huyện Văn Giang có diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản là 473,66 ha chiếm
6,60% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó thị trấn Văn Giang là nơi có diện tích
đất mặt nớc lớn nhất là 107,87 ha chiếm tới 22,77% tổng diện tích đất mặt nớc
trong toàn huyện. Do vậy thị trấn Văn Giang là trung tâm nuôi trồng thuỷ sản th-
ơng phẩm cũng nh là thuỷ sản giống cho các khu vực. Tại thị trấn Văn Giang có
những chợ buôn bán cá từ đó các thơng nhân chuyển đi phân phối đến hầu hết
2
) 2381.99
2. Diện tích đất NN/khẩu(m
2
) 511.04
3. Diện tích đất canh tác/hộ NN(m
2
) 3314.25
4.Diện tích đất canh tác/lao độngNN(m
2
) 1848
Nguồn : Tổng hợp từ số liệu
Văn Giang là một huyện có diện tích đất tự nhiên không lớn, mặt khác do
sức ép về dân số mà diện tích đất nông nghiệp có xu hớng giảm vì phải chuyển
đổi một phần diện tích đất nông nghiệp sang diện tích đất thổ c và đất chuyên
dùng. Do vị trí thuận lợi năm ven tuyến đờng 5 nối liền Hà Nội - Hải Phòng nên
Văn Giang có nhiều công ty đợc xây dựng trong những năm gần đây. Nhận thức
đợc điều đó nên lãnh đạo huyện Văn Giang đã sớm có chủ trơng tiến hành phát
triển nền nông nghiệp trên địa bàn theo hớng CNH - HĐH nông nghiệp nông
thôn, tập trung hớng sản xuất nông nghiệp vào các sản phẩm có năng suất chất l-
ợng và hiệu quả kinh tế cao, đa cơ giới hoá vào nông nhiệp nông thôn giải phóng
sức lao động cho nông dân. Đẩy mạnh các nghành sản xuất phụ gia đình. Vùng
trồng lúa tiến hành sản xuất chuyên canh các giống lúa có năng suất chất lợng
cao, chăn nuôi kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, vùng đất bãi ven sông Hồng tiến
hành trồng các loại cây ngắn ngày. Diện tích đất nông nghiệp/ hộ nông nghiệp
tính đến hết năm 2004 là 2381,99 m2, diện tích đất nông nghiệp/ khẩu là 511,04
m2, diện tích đất canh tác/ hộ nông nghiệp là 3314,25 m2, diện tích đất canh tác /
lao động nông nghiệp là 1848 m2.
3.1.2.2. Tình hình dân số và lao động của huyện Văn Giang qua 3 năm
(2003 - 2005).