Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình trang trại huyện An Lão Hải Phòng - Pdf 36

PHẦN I

ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế trang trại xuất hiện và phát triển trong nông nghiệp của các
nước trên thế giới từ thế kỉ XVII. Do tính hiệu quả và hình thức tổ chức sản
xuất tỏ ra phù hợp với điều kiện và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, đáp ứng
được yêu cầu CNH - HĐH và nhiều lợi thế trong quá trình tổ chức sản xuất
kinh doanh trên thị trường nên kinh tế trang trại đã nhanh chóng phát triển
rộng rãi ra khắp các lục địa trên thế giới như châu Úc, Phi, Mỹ, Á.
Ở Việt Nam với sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, quy mô lớn, chuyên
môn hoá thì kinh tế trang trại ngày càng có vị trí quan trọng trong nông
nghiệp nông thôn.Theo nghị quyết 04 BCH- TW Đảng (khoá VIII), nghị
quyết 06 (10/11/1998), đặc biệt nghị quyết 03/2000/NQ-CP (02/02/2003)
khẳng định vai trò của kinh tế trang trại: “ Phát triển kinh tế trang trại
chính là góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kĩ thuật,
kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việc
làm tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói, giảm nghèo;
phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới. Quá trình chuyển
dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân
công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông
nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công
nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn.”
Thực tế cho thấy tuy nhà nước có những chính sách khuyến khích các
loại hình trang trại phát triển nhưng các trang trại ở Việt nam vẫn phát triển
chậm cả về số lượng và chất lượng, hiệu quả kinh tế. Để kinh tế trang trại
thực sự trở thành loại hình kinh tế năng động, hiệu quả của nền nông nghiệp

1




1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại, hiệu quả
kinh tế.
Tìm hiểu thực trạng, đánh giá hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh
của các trang trại trên địa bàn huyện. Từ đó rút ra những ưu điểm, nhược
điểm của từng trang trại cũng như nguyên nhân cụ thể.
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các trang trại
trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An
Lão - Hải Phòng.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung:
Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình kinh tế trang
trại trên địa bàn huyện An Lão. Từ đó đưa ra các định hướng và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả từng mô hình trang trại.
+ Về thời gian:
Thời gian nghiên cứu đề tài: tháng 1/08 – tháng 5/08
Thời gian thu thập số liệu liên quan đến đề tài : 2005 - 2007
+ Về không gian:
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện An Lão - Hải Phòng.

3


PHẦN II


Nguyễn Phượng Vỹ: “ Trang trại là một hình thức tổ chức trong nông lâm - ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, n hưng
mang tính sản xuất hàng hoá”.[19]
Như vậy qua nghiên cứu, chúng ta có thể thống nhất các quan điểm về
trang trại như sau: “Trang trại là một tổ chức kinh tế cơ sở lấy hoạt động sản
xuất nông, lâm, ngư nghiệp làm mục đích sản xuất kinh doanh chính, trong đó
có kết hợp thêm ngành nghề, dịch vụ phụ trợ phi nông nghiệp của các thành
phần kinh tế khác nhau trong nông thôn được hình thành chủ yếu trên cơ sở
kinh tế nông hộ, có quy mô sản xuất, thu nhập, giá trị và tỷ xuất hàng hoá cao
vượt trội kinh tế nông hộ, có năng lực tổ chức quản lý và ứng dụng các tiến
bộ KHCN mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế
cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”. Đây là khái niệm phù hợp
nhất với điều kiện ở Việt Nam hiện nay.
2.1.1.2 Khái niệm về kinh tế trang trại
Theo PGS.TS. Lê Trọng (2000): “Kinh tế trang trại là hình thức tổ
chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản
hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trại
đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu
sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường,
được nhà nước bảo hộ theo luật định”. [4]
Theo ông Hai Trần ( Ban kinh tế Trung ương ) thì “ kinh tế trang trại là
hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các
thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực
quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo tỷ suất
sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa ra những
thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh
tranh cao hơn trên thị trường mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao”.[7]

5




6


mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản
xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.[21]
2.1.1.3.2 Vai trò của kinh tế trang trại
Ở nước ta kinh tế trang trại mới phát triển mạnh mẽ trong những năm
gần đây nhưng có vai trò rất lớn trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, xã hội,
môi trường.
* Kinh tế:
KTTT góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn, phát triển những loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế
cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún tạo nên những
vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao. Mặt khác qua
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công
nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ cho sản xuất ở nông thôn;
làm tấm gương tốt trong quá trình sản xuất, tổ chức, quản lý của các hộ nông
dân; góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển nông
nghiệp, nông thôn và kinh tế hộ.
* Về xã hội
Kinh tế trang trại phát triển làm tăng dân số hộ giàu trong nông thôn,
tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Điều đó có ý nghĩa rất
quan trọng về mặt xã hội trong nông thôn. Hơn nữa kinh tế trang trại phát
triển sẽ góp phần phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.
Tuy nhiên, phát triển KTTT sẽ kéo theo sự tập trung ruộng đất, tư liệu
sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp. Dẫn đến ở một vài nơi sẽ có một số bộ
phận lao động thiếu ruộng đất và có thể trở thành người làm thuê. Do đó nhà
nước phải có chính sách cụ thể để giải quyết vấn đề trên một cách hợp lý.
* Môi trường:

- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng
trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

8


2. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế
nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
a. Đối với trang trại trồng trọt
(1) Trang trại trồng cây hàng năm
+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
(2) Trang trại trồng cây lâu năm
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
+Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên
(3) Trang trại lâm nghiệp
+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b. Đối với trang trại chăn nuôi
(1) Chăn nuôi đại gia súc: Trâu , bò, v.v...
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
(2) Chăn nuôi gia súc: Lợn, dê, v.v...
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hơn 20 con trở lên, đối với
dê, cừu từ 100 con trở lên.
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên ( không kể lợn
sữa), dê thịt từ 200 con trở lên.
(3) Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v... có thường xuyên từ
2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi).

quả, chính sách không hợp lý sẽ kìm hãm sự phát triển của trang trại. Vì vậy, nhà
nước phải quan tâm hơn đến trang trại để đưa ra những chính sách phù hợp.
Thị trường: Thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào, thị trường đầu
ra. Thị trường ổn định thì giúp các chủ trang trại yên tâm hơn đầu tư, thúc đẩy
sản xuất.

10


Khoa học công nghệ: Là yếu tố thúc đẩy nhanh hơn công cuộc CNH –
HĐH nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo nông nghiệp phát triển một cách nhanh
chóng, bền vững, tạo nhiều sản phẩm, đa dạng về chủng loại với chất lượng cao.
Ngoài các yếu tố kể trên còn các yếu tố như khí hậu, địa hình, phong tục
tập quán có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hình thành phát triển của trang
trại. Vì vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh cần phải coi trọng mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố này để kinh tế trang trại phát triển một cách đúng hướng,
đạt hiệu quả kinh tế cao.
2.1.2 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
2.1.2.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế là thoả mãn nhu cầu ngày
càng tăng về vật chất và tinh thần cho toàn xã hội trong khi nguồn lực sản xuất
có hạn, ngày càng khan hiếm. Do vậy việc nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội là
một đòi hỏi khách quan của mọi nền kinh tế. Từ nhiều góc độ nghiên cứu khác
nhau mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả
kinh tế:
Quan điểm 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng việ so sánh giữa kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Quan điểm 2: Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt
được với chi phí bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm đó.
Quan điểm 3: Hiệu quả kinh tế được xem xét trong phần biến động giữa

giá hiệu quả kinh tế của các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp. Muốn đánh
giá đúng hiệu quả của các trang trại không chỉ xem xét ở một chỉ tiêu nào mà
xem xét trên hệ thống các chỉ tiêu đánh giá cho phù hợp, liên quan đến những
vấn đề đặt ra xung quanh việc phát triển trang trại như thế nào là tốt nhất. Từ
quan điểm đó đánh giá hiệu quả kinh tế các trang trại ta phải đánh giá theo các
chỉ tiêu như:

12


Chỉ tiêu tổng quát phản ánh hiệu quả kinh tế:
K

H=Q

(1a)

H=

(1b)

H= ∆Q - ∆K (2b)

H = Q – K (2a)
∆Q
H=
∆K

Q
K


VA

MI

TPr

∆Q

GO/TC
GO/FC
GO/VC
GO/IC
GO/L
-

VA/TC
VA/FC
VA/VC
VA/IC
VA/L
-

MI/TC
MI/FC
MI/VC
MI/IC
MI/L
-


phẩm đang rất chậm chạp và khó khăn.
Sự bất ổn định của giá cả quốc tế: Cùng với việc ra nhập WTO là việc
chính phủ Việt Nam ngày càng ít can thiệp trực tiếp đến giá cả. Những thay
đổi này kết hợp với nhau khiến cho chủ trang trại phải đối mặt với giá các nhà
sản xuất vừa kém ổn định, vừa khó dự báo hơn so với trước.
Các vườn cây lâu năm không đạt tiêu chuẩn cả về năng suất cũng như
chất lượng của sản phẩm.
Các hệ thống chế biến không phù hợp với mức sản lượng hiện tại và
trong một số trường hợp không đảm bảo yêu cầu xuất khẩu ra thị trường
thế giới.
Phương pháp thâm canh chủ yếu vẫn dựa vào phân bón hoá học, như
vậy không thể duy trì bền vững được.

14


Trong ngành chăn nuôi thì mức độ cạnh tranh còn rất thấp do năng
suất, chất lượng, giá cả sản phẩm tại thị trường nội địa đều có mức cạnh tranh
thấp hơn so với thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, trình độ sản xuất trong lĩnh
vực này còn thấp đặc biệt những trang trại đầu tư ít, kĩ thuật lạc hậu.
Đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức như vậy để phát
triển KTTT cần phải:
- Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu
trong nông nghiệp và nông thôn. Phát triển những vùng chuyên canh sản
xuất quy mô lớn.
Nhà nước tăng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn về cơ cấu
hạ tầng, thuỷ lợi, đường, điện, nước. Hỗ trợ xây dựng hệ thống kho tàng, các
cơ sở chế biến. Bảo quản nhằm giảm hao hụt, tăng chất lượng sản phẩm sau
thu hoạch, phát triển chợ nông thôn...
- Nhà nước đầu tư vào việc cải tạo giống có năng suất cao, chất lượng

hoàn cảnh chiến tranh suốt từ những năm 1930 – 1960. Do đó, đã làm
cho trang trại giảm chỉ còn 982.000 trang trại, vào năm 1987 đã giảm đi
gần 4 lần so với năm 1929. Tuy nhiên, do nhu cầu hàng hoá nông sản
ngày càng cao lại được thừa hưởng các thành quả của khoa học kỹ
thuật nên kết quả đạt được là số thực phẩm gấp 2,2 lần nhu cầu trong
nước, tỷ lệ hàng hoá về hạt ngũ cốc đạt 95%, thịt sữa là 70 -80%, rau
quả trên 70%.
- KTTT ở Nhật: Từ năm 1950 – 1970 trang trại có quy mô từ 0,3 - 1 ha
giảm từ 66% còn 57% trong khi đó trang trại có quy mô từ 1 – 2 ha tăng từ
24,5% đến 32%. Nhóm trang trại có quy mô bình quân 2 – 5 ha tăng từ
8% - 11% . Đến nay, khi nền kinh tế chuyển dần sang nền kinh tế tri
thức, KTTT vẫn đang phát triển giữ vai quan trọng trong công cuộc CNH –
HĐH nông nghiệp nông thôn, thu hút lao động nhàn rỗi và cải tạo môi trường.
- KTTT ở Đài Loan: Đài Loan là nước có công nghiệp đang phát
triển, cơ cấu kinh tế chuyển dần sang công nghiệp và dịch vụ. Từ năm

16


1955 có 732.000 trang trại đến năm 1970 là 880.274 trang trại, cùng với sự
tăng lên về số lượng, sự giảm đi về quy mô ( từ 1,29 ha/ trang trại xuống còn
0,83 ha/ trang trại). Đến năm 1984 số lượng trang trại giảm còn 796.000 trang
trại và quy mô tăng lên 1.42 ha/ 1 trang trại. Với sự phát triển của khoa học kĩ
thuật, các trang trại ngày càng nâng cao về số lượng và chất lượng sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ của mình.
2.2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt nam
Cùng với sự phát triển của đất nước, KTTT cũng có những bước phát
triển phức tạp qua các mốc lịch sử.
a) Từ trước đến năm 1986
Các nghiên cứu cho rằng các trang trại được hình thành từ

tất cả trên 61 tỉnh thành, trong đó tập trung nhiều nhât ở các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long với 31.967 trang trại.
c) Từ năm 2000 – nay
Sau khi thực hiện nghị quyết số 03/ CP ngày 02/ 02/ 2002 về KTTT đã
mở ra cho các trang trại một sức sống mãnh liệt, nó phát triển khá nhanh và
đa dạng ở khắp mọi nơi. Cùng với nghị quyết các bộ, các ngành đã ban hành
nhiều văn bản hướng dẫn, trong đó có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát
triển KTTT, làm cho trang trại tăng về số lượng và quy mô của từng trang trại
Về số lượng tính đến 7/2005 cả nước có trên dưới 72000 trang trại
(theo tiêu chí mới). Trong đó trang trại tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tế
trọng điểm như ĐBSCL chiếm 51%, Đông Nam Bộ chiếm 21%, ĐBSH chiếm
11,6%, Tây Nguyên chiếm 10%...tổng số trang trại của cả nước.
Về kết quả sản xuất kinh doanh, các trang trại không những thay đổi
dần về tư duy mà còn thay đổi cả cung cách làm ăn từ tự cung, tự cấp sang
sản xuất hàng hoá. Nó trở thành ham muốn, trở thành ước muốn làm giàu,
ước muốn đổi đời của nông dân “chín nắng mười sương”. Bình quân trên
phạm vị cả nước mỗi trang trại phải đạt được 98 triệu đồng, nếu cũng hộ đó
không làm kinh tế trang trại chỉ đạt khoảng 13 – 16 triệu đồng. Tuỳ điều kiện
sản xuất tiềm năng của từng vùng, có những vùng kinh tế trang trại phát huy

18


tác dụng cao như trang trại Tây Nguyên đạt gần 110 triệu đồng, Bà Rịa Vũng
Tàu có 894 trang trại sản xuất nông nghiệp, quản lý 3.450 ha, chuyên canh
cây ăn trại, cây công nghiệp, chăn nuôi hàng hoá... hàng năm đạt giá trị hơn
300 tỷ đồng.... Nét khá rõ ở các trang trại hiện nay là tỷ suất hàng hoá rất cao
chung cho cả nước là 92,6 %, trong đó Nam Trung Bộ 97%, Đông Nam Bộ
95,3%, Tây Nguyên 91,6%...Điều này chứng tỏ tính chất sản xuất hàng hoá
của các trang trại là khá rõ rệt, đó cũng là đặc điểm vượt trội của trang trại so

sông Văn Úc, Đa Độ là 2 con sông cung cấp nước tưới chủ yếu cho thành phố
và theo trục quốc lộ số 10, thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa huyện
với các vùng lân cận. Phía Bắc giáp huyện An Dương, phía nam giáp huyện
Tiên Lãng, đông giáp quận Kiến An, Đông Nam giáp huyện Kiến Thuỵ,
hướng Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương.
3.1.2 Khí tượng và thuỷ văn
Nhiệt độ trung bình của huyện 23,50C; độ ẩm 91%; mức độ bốc hơi
nước 700mm/năm; mưa 1260mm, nắng 150-160 ngày/năm. Huyện chịu tác
động bởi 2 loại gió: gió mùa đông bắc, gió đông nam, tốc độ gió từ 1,7–4 m/s
và 20 – 25 m/s vào mùa bão. Huyện nằm theo 2 triền sông nên rất nhạy cảm
với bão lụt, chịu ảnh hưởng nhiều của thuỷ triều. Vì vậy, tình hình phát triển
sản xuất nông nghiệp của huyện chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện khí hậu
đặc biệt đối tượng sản xuất của nông nghiệp là những sinh vật sống.
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Đất đai
Đất đai vừa là đối tượng sản xuất, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không
thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Do đó, việc sử dụng tài nguyên này
đòi hỏi phải hợp lý, trên cơ sở khai thác và cải tạo là việc làm rất cần thiết.
Bảng 2 thể hiện sự biến động đất của huyện An Lão qua các năm theo
sự phát triển kinh tế của toàn huyện.

20


Bảng 2: Tình hình đất đai của huyện qua 3 năm (2005 – 2007)

Chỉ tiêu

Năm 2005
SL


100

11.490

100

100

100

100

1. Diện tích đất nông nghiệp

8.034

69,38

7.972

69,38

7.917

69,37

99,22

99,31


1,46

116

1,47

106,42 100

c. Đất nuôi trồng thuỷ sản

568

7,07

576

7,22

670

8,46

101,41 116,32 108,61

2. Đất phi nông nghiệp

2.204

19,18


24,23

538

16,5

539

16,25

100,75 100,19 100,47

3. Đất chưa sử dụng

1.250

10,87

237

2,06

256

21

103,16

2,22

22


Quá trình đô thị hoá nhanh trên địa bàn huyện cũng làm thay đổi
mạnh cơ cấu đất. Một số tập đoàn kinh tế mới mở ra như: công ty công
nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu; công ty ô tô Hoa Mai; Giầy Hàng Kênh; dệt
Hàng Kênh;…
Do chủ trương cấp đất ở cho nông dân để dãn dân, tái định cư…
Bên cạnh đó một số diện tích đất được sử dụng mở rộng công trình
giao thông (quốc lộ 10; các đường liên thôn, liên xã…); cải tạo công trình
thuỷ lợi (đê, cống dưới đê,…); và cho an ninh quốc phòng (mở rộng doanh
trại, kho bom, tên lửa, trại giam ở Chiến Thắng..).
Chính những thay đổi đó làm diện tích đất nông nghiệp, đất chưa sử
dụng giảm; diện tích đất chuyên dùng, đất ở tăng lên.
3.2.2 Tình hình lao động của huyện An Lão.
Với diện tích 11490 ha, dân số của huyện là 122434 người, bằng 7,3 %
dân số của thành phố Hải Phòng. Mật độ dân số 1065 người / km 2, gồm 15
xã và 2 thị trấn. Tình hình lao động của huyện được thể hiện qua bảng 3.

23


Bảng 3: Tình hình lao động xã hội của huyện qua 3 năm (2005 – 2007)

Năm 2005
SL
CC
(người) (%)

Năm 2006


101,82

1. Đang làm việc trong các ngành KTế 62.300

90,04

62.630

89,68

66.500

92,69

100,52

106,18

103,31

2. Có khả năng lao động đang đi học

5.270

7,62

5.410

7,75


- Học chuyên môn, nghiệp vụ, nghề

720

13,66

805

14,88

1.150

20,35

111,81

142,86

126,39

3. Người có khả năng lđ làm nội trợ

310

0,45

340

0,49


1.175

1,69

1.310

1,88

580

0,81

111,49

44,27

70,25

Chỉ tiêu
Nguồn lao động

5. Người lao động không làm việc

So sánh ( %)

( nguồn: Thống kê niên giám huyện)

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status