Giải pháp quản lý chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
_____________
 
______________
LÊ THỊ HOÀI VINH
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ
TẠI TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình

HÀ NỘI, 2014
ii

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Nguyễn Khắc
Bình, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ dẫn tận tình của tất cả các giảng viên
trực tiếp giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu vừa
qua, đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy, cô đang công tác tại
phòng Đào tạo, Trung tâm Sau đại học - Bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý
Học viện Quản lý Giáo dục.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu cùng cán bộ, giảng viên
Trường Đào tạo,bồi dưỡng cán bộ Công thương Trung ương, các đồng nghiệp
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi được tham gia học tập và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng, xong thời giam nghiên cứu có hạn nên luận
văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn
của các quý thầy,cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.

QLGD : Quản lý giáo dục
THPT : Trung học phổ thông
iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Điều 35, Hiến pháp (năm 1992) nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam đã viết “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội
phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài. Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực công dân, đào tạo những người lao động có nghề, năng động và
sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm
cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc”. [28]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh và khẳng
định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng
đầu, là nên tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”. [15] Bởi vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là công cuộc xây
dựng kinh tế mà phải là xây dựng, phát triển trên tất cả cả lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, văn hóa… do đó cần có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất
lượng. Muốn có nguồn nhân lực đó nhất thiết phải chú trọng phát triển GD -
đào tạo vì GD đào tạo trực tiếp giúp con người nâng cao trí tuệ, hiểu biết và
khả năng vận dụng tri thức, khoa học kỹ thuật, nên GD - đào tạo trở thành mối
quan tâm hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta.
Hệ thống GD của Việt Nam hiện nay bao gồm: GD mầm non, GD phổ
thông, GD nghề nghiệp, GD đại học và sau đại học. Trong thời gian qua, GD
Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, hệ thống GD quốc dân được hoàn

nhà trường với nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
đào tạo, bồi dưỡng nói chung, đặc biệt là cần phải có các biện pháp QL đồng
bộ để nâng cao chất lượng dạy nghề nói riêng, góp phần đào tạo nguồn nhân
2
lực có trình độ tay nghề cao đáo ứng nhu cầu phát triển KT - XH của đất nước
trong giai đoạn hiện nay.
Để đóng góp một phần công sức trong việc nâng cao hiệu quả, chất
lượng dạy nghề tại Nhà trường, tôi chọn đề tài “Giải pháp quản lý chất lượng
dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung
ương” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ QLGD.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp
chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương
Trung ương.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Xây dựng cơ sở lý luận về QL chất lượng dạy nghề.
3.2. Phân tích thực trạng chất lượng dạy nghề và QL chất lượng dạy
nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương.
3.3. Đề xuất các giải pháp QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo,
Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương
Trung ương.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán
bộ Công Thương Trung ương.
5. Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, công tác QL chất lượng đào tạo tại Trường Đào
tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương đã đạt được những kết quả

định hướng của đề tài.
4
7.2.3. Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát quá trình QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào
tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương nhằm đưa những đánh giá
thực trạng về chất lượng dạy nghề và QL chất lượng dạy nghề tại nhà trường.
7.3. Nhóm phương pháp bổ trợ khác
Đề tài cũng tiến hành sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như:
- Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý và phân tích các số liệu,
kết quả điều tra; đồng thời xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả
nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số CBQL
và GV nhằm làm rõ thêm một số nội dung đề cập trong phiếu hỏi, từ đó có
nhận định đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo; phụ
lục; đề tài được trình bày 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý chất lượng dạy nghề.
Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo,
Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương.
Chương 3: Giải pháp quản lý chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo,
Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển như
Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề dạy nghề và quản lí
quá trình dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do đặc

lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô trước đây cũng sớm
quan tâm đến vấn đề chất lượng dạy nghề, với những đóng góp quan trọng của
các nhà GD học, tâm lý học như X.I Arkhangenxki, X.Ia Batưsep, A.E
Klimov, N.V Cudmina, Ie. A Parapanôva, T.V Cuđrisep,.v.v. [11] dước góc độ
GD học nghề nghiệp, tâm lý lao động, tâm lý học kỹ sư, tâm lý học xã hội. Tuy
nhiên, theo nhận xét của T.V Cuđrisep, những nghiên cứu trong lĩnh vực dạy
học và GD nghề vào những năm 70 của thế kỷ XX còn mang tính từng mặt,
một chiều nên chưa giải quyết được một cách triệt để vấn đề chuẩn bị cho thế
hệ trẻ ước vào cuộc sống và lao động. Quá trình hình thành nghề lúc đó được
chia làm 4 giai đoạn tách rời nhau, đó là: giai đoạn nảy sinh dự định nghề và
bước vào học các trường nghề; giai đoạn HS lĩnh hội có tính chất tái tạo những
tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; giai đoạn thích ứng nghề và cuối cùng là giai
đoạn hiện thực hoá từng phần hoạt động nghề. Quan niệm trên theo T.V
Cuđrisep đã tạo ra những khó khăn rất lớn trong quá trình học và dạy nghề.
Quá trình dạy nghề trở lên áp đặt và không thấy được mối quan hệ giữa các
giai đoạn hình thành nghề.
Cũng theo T.V Cuđrisep, để khắc phục những khó khăn, hạn chế trên
cần thiết phải có nhận thức lại, theo tác giả sự hình thành nghề của thế hệ trẻ
7
trong điều kiện của GD và dạy học là một quá trình lâu dài, liên tục và thống
nhất. Quá trình hình thành nghề trải qua bốn giai đoạn nhưng chúng có sự gắn
bó mật thiết với nhau. Quan điểm này của tác giả đã tạo nên nhận thức mới về
sự hình thành nghề, là cơ sở khoa học để xây dựng mô hình dạy nghề và nâng
cao chất lượng dạy nghề.
1.1.2. Một số nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, những vấn đề về dạy nghề, quản lí chất lượng dạy nghề
cũng được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi đó còn
Tổng Cục dạy nghề. Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực GD
nghề nghiệp, tâm lý học lao động (ví dụ như Đặng Danh Ánh, Nguyễn Ngọc

đặt ra". [26]
Sự tác động này được mô hình hoá như sau:
Sơ đồ 1.1. Mô hình về quản lý [26]
Như vậy, có thể nói QL là phương thức tốt nhất để đạt đề mục tiêu chung
của một nhóm người, một tổ chức hay nói rộng hơn là một nhà nước. QL bao
giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định. QL thể hiện mối
quan hệ giữa hai bộ phận, đó là chủ thể QL, là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm
Chủ thể
QL
Đối tượng
QL
Mục tiêu
QL
Phương pháp
QL
Cụng cụ
QL
9
vụ QL, điều khiển và đối tượng QL là bộ phận chịu sự QL. QL bao giờ cũng là
QL con người. QL là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
quy luật khách quan. QL xét về mặt công nghệ là sự vận động của các thành tố
này có mối quan hệ tác động, tương hỗ với nhau như sơ đồ 1.1.
1.2.1.2. Chức năng cơ bản của quản lý
QL là một loại lao động đặc biệt, lao động sáng tạo, hoạt động QL cũng
phát triển không ngừng tìm Bản chất của hoạt động QL là sự tác động có mục
đích đến tập thể người và tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu QL Chức năng QL
là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể QL nảy sinh từ sự
phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động QL nhằm thực hiện mục tiêu. QL
phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, từng chức năng có tính độc lập
tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán. Có

xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GD thường xuyên, công tác GD
không chỉ dành riêng cho thế hệ trẻ mà cho tất cả mọi người, tuy nhiên trọng
tâm vẫn là thế hệ trẻ.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí: "QLGD thực hiện chức năng ổn định,
duy trì đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền KT- XH, QLGD nhằm phối
hợp với các ngành, các lực lượng xã hội tiến hành công tác xã hội hoá GD,
huy động các nguồn lực và HTQT trong lĩnh vực GD - đào tạo. QLGD thực
hiện nhiệm vụ này thông qua việc thực hiện 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo, kiểm tra". [12]
11
QLGD có đặc điểm là bao giờ cũng chia thành chủ thể QL và đối tượng
bị QL, QLGD là QL việc đào tạo con người, việc hình thành và hoàn thiện
nhân cách, việc tái sản xuất nguồn lực con người. Đối tượng QL ở đây là
những ai nhận được sự GD và đào tạo. QL việc GD và đào tạo con người là
loại hình QL khó khăn nhất, phức tạp nhất.
QLGD bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối
liên hệ ngược. Thông tin là các tín hiệu mới, được thu nhận, được hiểu và được
đánh giá là có ích cho các hoạt động QL. Mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, quyết
định là các thông tin điều khiển. QLGD luôn có khả năng thích nghi tức là
luôn biến đổi: Khi đối tượng QL mở rộng về quy mô thì chủ thể QL cũng có
thể tiếp tục QL có hiệu quả bằng cách đổi mới quá trình QL thông qua các cấp
trung gian.
Quá trình GD là một thể thống nhất toàn vẹn với sự liên kết của các
thành tố:
Bảng 1.1: Các thành tố của quá trình giáo dục
Mục tiêu đào tạo MT Lực lượng đào tạo (Thầy) Th
Nội dung đào tạo ND Đối tượng đào tạo (Trò) Tr
Phương pháp đào tạo PP Điều kiện đào tạo ĐK
Quá trình GD phải làm cho các thành tố trên gắn kết với nhau, với nền
tảng của quá trình đào tạo là MT - PP và Th - Tr - Đk là tác động của hoạt

nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ
luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao
động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH, củng cố
quốc phòng an ninh. Quá trình này diễn ra trong các cơ sở đào tạo như: Các
trường Đại học, Cao đẳng, THCN và dạy nghề… theo một kế hoạch, một
chương trình, nội dung trong một thời gian quy định cho một ngành nghề cụ
thể nhằm giúp cho người học đạt được một trình độ nhất định trong lao động
nghề nghiệp.
Theo chúng tôi, đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm
cho con người có lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái
độ một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho họ thích nghi với cuộc sống và
khả năng đảm nhận một sự phân công lao động nhất định. Đào tạo là một loại
công việc xã hội, một hoạt động đặc trưng của GD (nghĩa rộng) nhằm chuyển
giao kinh nghiệm hoạt động từ thế hệ này qua thế hệ khác.
1.2.2.2. Dạy nghề
Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với
sự phân công lao động xã hội, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân
loại. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn sinh sống của
con người và đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH theo nhiều lĩnh vực hoạt
động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Chính vì vậy, việc dạy nghề
là một vấn đề quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực.
Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về dạy nghề. Một số nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm:
Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “Dạy nghề là những qui trình mà
các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi
đóng góp vào mục địch và các mục tiêu của công ty ”. [39]
14
Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số
76/2006/QH11.Trong đó viết: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để

việc của một nghề. Thời gian học từ 3 tháng đến dưới 1 năm. Kết thúc chương
trình người học được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề.
- Trung cấp nghề: Đào tạo nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho
người học kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một
nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công
việc. Thời gian học từ 1-2 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp
THPT, 3-4 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp THCS. Kết
thúc chương trình người học được cấp bằng trung cấp nghề.
- Cao đẳng nghề: Đào tạo nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho
người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc
của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm, có
khả năng sáng tạo và ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào công việc; giải quyết
được các tình huống phức tạp trong thực tế. Thời gian từ 2-3 năm tùy theo
nghề đào tạo với người tốt nghiệp THPT, 1-2 năm tùy theo nghề đào tạo với
người tốt nghiệp trung cấp nghề cùng nghề đào tạo. Kết thúc chương trình
người học được cấp bằng cao đẳng nghề.
Hình thức dạy nghề đang áp dụng chủ yếu hiện nay là:
- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm
việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức.
Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: Kèm cặp theo cá
nhân và kèm cặp theo tổ chức, đội sản xuất. Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ
học nghề được một công nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn. Người
16
hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch. Với hình thức
kèm cặp theo tổ, đội sản xuất, thợ học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân
công cho những công nhân dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách trình độ
nghề nghiệp và phương pháp sự phạm nhất định.
- Các lớp cạnh doanh nghiệp: Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm
đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực.
Chủ yếu dạy nghề cho công nhân mới đựợc tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng

thoả mãn hay vượt trội nhu cầu của khách hàng đòi hỏi những đặc tính của sản
phẩm phải thoả mãn một số yêu cầu nào đó của khách hàng về thị hiếu thẩm
mỹ, về mức độ tiện dụng, về khả năng sử dụng được để phục vụ một nhu cầu
nào đó hay để sản sinh ra một lợi nhận mới.
Như vậy, các quan niệm về chất lượng tuy có khác nhau, nhưng đều có
chung một ý tưởng: chất lượng là sự thoả mãn một yêu cầu nào đó. Thực vậy,
trong sản xuất, chất lượng của một sản phẩm được đánh giá qua mức độ đạt
các tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra của sản phẩm. Còn trong GD đào tạo, chất
lượng được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra của chương trình
GD đào tạo.
1.2.2.4. Chất lượng dạy nghề
Chất lượng dạy nghề là một phạm trù động, đa nghĩa, nó phản ảnh nhiều
mặt của hoạt động dạy nghề, khó có thể tổng hợp khái quát bằng một định
nghĩa duy nhất. Dựa vào các định nghĩa về chất lượng, một số tác giả đã đưa ra
một số định nghĩa và khái niệm về chất lượng dạy nghề dưới đây:
Từ điển GD học đưa ra khái niệm: “Chất lượng dạy nghề là kết quả của
quá trình dạy nghề được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân
18
cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp
tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể”.
[40]
Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan
niệm về chất lượng dạy nghề không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào
tạo trong nhà trường thể hiện ở người tốt nghiệp trong những điều kiện đảm
bảo chất lượng nhất định, mà còn phải tính đến sự phù hợp và thích ứng của
người tốt nghiệp với thị trường lao động. Quá trình thích ứng với thị trường lao
động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng dạy nghề mà còn phụ thuộc vào các
yếu tố khác của thị trường lao động như: quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao
động, chính sách sử dụng và bố trí việc làm của nhà nước và người sử dụng lao
động. Quan niệm này được thể hiện ở hình sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status