Nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ LIỀN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ NGHĨA THỊNH, HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Vũ Thị Hiền
Thái Nguyên, năm 2014
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQT
BVTV
CN-TTCN

: khoa học kỹ thuật
: Kế hoạch hóa gia đình
: Lao động nông nghiệp bình quân
: Lao động phi nông nghiệp bình quân
: Nông nghiệp
: Phát triển bình quân
: Nuôi trồng thủy sản
: Phi nông nghiệp
: Thương mại dịch vụ
: Ủy ban nhân dân
: Vườn ao chuồng
: Văn hóa thông tin MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 2
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
4. Đóng góp mới của luận văn 3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Khái niệm liên quan 4
1.1.2. Phân loại hạng đất 6
1.1.3 Vai trò của đất nông nghiệp 7

3.3.1 Thực trạng sử dụng đất của các hộ điều tra 45
3.3.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các hộ điều tra 50
3.4 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn xã Nghĩa Thịnh 56
3.4.1 Những vấn đề còn tồn tại trong việc sử dụng đất nông nghiệp
tại xã Nghĩa Thịnh 56
3.4.2 Phân tích SWOT cho từng loại mô hình sử dụng đất nông nghiệp
trên xã 59
Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGHĨA
THỊNH 62
4.1 Quan điểm về sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp 62
4.1.1 Quan điểm về sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp 62
4.1.2 Phương hướng sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả 62
4.2 Tiềm năng đất đai để phát triển 63
4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa
bàn xã Nghĩa Thịnh 64
4.3.1 Giải pháp về chính sách 64
4.3.2 Giải pháp về nguồn nhân lực và về nguồn vốn đầu tư 64
4.3.3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai 65
4.3.4 Giải pháp về bảo vệ môi trường 66
4.3.5 Giải pháp về khao học công nghệ 66
4.3.6 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 67
4.3.7 Nhóm giải pháp về thị trường 67
4.3.8 Nhóm giải pháp về cải tạo đất 68
4.3.9 Một số mô hình đất đai có triển vọng 69
4.4 Kiến nghị 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho
con người. Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động xã hội, nó không
chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc
biệt là đối tượng sản xuất nông nghiệp. Đất là cơ sở của nông nghiệp, là yếu tố đầu
vào tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi
trường duy nhất để sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Việc sử
dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia
nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và tương lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng
về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con
người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày
càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích
nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của tự nhiên và sự thiếu ý thức của
con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất
nông nghiệp do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai
hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo
quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất
toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có
nền nông nghiệp như Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xã Nghĩa Thịnh - huyện Nghĩa Hưng- Tỉnh Nam Định là một xã vùng đồng
bằng của tỉnh. Nền kinh tế của xã chủ yếu dựa vào phát triển sản xuất nông nghiệp
do đất đai có độ phì nhiêu còn thấp hiệu quả sản xuất không cao nên để đáp ứng nhu

3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thông qua nghiên cứu thực hiện đề tài giúp cho sinh viên nâng cao năng
lực nghiên cứu cũng như rèn luyện kỹ năng của mình, vận dụng những kiến thức đã

3
tiếp thu trong nhà trường cũng như kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình
thực tập tại cơ sở nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin trong quá
trình làm đề tài đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu và kỹ năng tiếp cận
các phương pháp nghiên cứu cho bản thân.
- Đây là cơ hội cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng kiến thức
vào thực tiễn có cơ hội gặp gỡ trao đổi kiến thức với những người có kinh nghiệm
và người dân địa phương.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả báo cáo là cơ sở quan trọng cho những nhà hoạch định chính sách,
nhà quản lý địa phương, đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp qua đó góp phần thực hiện thành công của quá trình quy
hoạch tổng thể phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dụng nông thôn mới hiện nay
tại địa phương.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Nghĩa Thịnh có những
định hướng, giải pháp phát triển phù hợp khai thác tốt điều kiện của địa phương.
4. Đóng góp mới của luận văn
- Đã gắn hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với vấn đề an ninh lương thực và
phát triển bền vững trong bối cảnh khí hậu biến đổi. Củng cố quan điểm mới về vai
trò của đất nông nghiệp tại vùng đồng bằng trong việc đảm bảo an ninh lương thực,
chống thoái hóa đất, duy trì nguồn nước, điều hòa khí hậu và giảm nhẹ thiên tai.
- Đã đưa ra khái niệm về “đất”, “vai trò của đất nông nghiệp”, “nguyên tắc sử
dụng và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp” sử dụng để phục vụ cho nghiên cứu.
- Luận văn là nghiên cứu đầu tiên về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã
Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định có sự kết hợp giữa các phương

trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa
hình, thủy văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và
ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống xã hội loài người.
Như vậy, Luật Đất đai năm 1993 đã khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc
gia quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống, an ninh quốc phòng [9]. Còn theo luật đất đai năm

5
2003 “đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng lúa, đất đồng
cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác), đất lâm nghiệp (đất rừng sản
xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối
và đất nông nghiệp khác theo quy đinh của Chính Phủ” [10].
Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích
sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,
làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản
xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông
nghiệp khác. Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu
lao động. Ở đây, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung
cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho
ngành chăn nuôi phát triển. Với định nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội. Ở nước ta gần 80% dân số
làm trong ngành nông nghiệp cho nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
* Đánh giá đất:
Đánh giá đất đai so sánh đánh giá khả năng của đất theo từng khoanh đất dựa
vào độ màu mỡ và khả năng sản xuất của đất.
- Đánh giá đất đai là sự phân chia có tính chất chuyên canh về hiệu suất của
đất do những dấu hiệu khách quan (khí hậu, thời tiết, thủy văn thảm thực vật tự
nhiên, hệ động thực vật tự nhiên ) và thuộc tính của chính đất đai tạo nên.
- Theo FAO (1976) đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những

trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản mới đưa vào
kinh doanh, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều lần.
• Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại cây
rừng với mục đích sản xuất.
• Đất rừng phòng hộ là diện tích đất để trồng rừng với mục đích phòng hộ.
• Đất trồng rừng đặc dụng là diện tích đất được Nhà Nước quy hoạch, đưa
vào mục đích riêng.
• Đất nuôi trồng thủy sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thủy sản như
tôm, cua, cá….

7
• Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản
xuất muối.
1.1.3 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động-
thực vật và con người trên trái đất. Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người
tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người. Đất đai tham gia vào
tất cả các ngành kinh tế của xã hội. Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị
trí khác nhau.
Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai là tư liệu
sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Đặc biệt vì đất đai vừa đối tượng
lao động, vừa là tư liệu lao động. Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu tác
động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới …để có môi trường
tốt cho sinh vật phát triển. Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng
như một công cụ lao động. Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi.
Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp. Với sinh vật, đất đai không chỉ
là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Năng suất
cây trồng vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai. Diện tích, chất lượng
của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất từng
nông trại và cả vùng. Vì vậy việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất

- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai, trên diện tích đất đai được sử dụng, hình
thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất, cần có sự tập chung thích hợp, hình thành quy mô sư
dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một
cách kinh tế, tập chung, thâm canh, [4].
- Thực hiện đánh giá đất đai theo số lượng, chất lượng làm cơ sở khoa học
cho việc phân loại, bố trí quy hoạch, sử dụng đất đai theo hướng khai thác lợi thế
của từng vùng.
- Đẩy mạnh thâm canh nông nghiệp, đồng thời tích cực mở rộng diện tích
bằng khai hoang và tăng vụ.

9
- Phải sử dụng một cách tiết kiệm quỹ đất nông nghiệp, đặc biệt là việc
chuyển đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác.
- Thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất khắc phục tình trạng phân tán manh
mún trong sử dụng đất.
- Tăng cường quản lý Nhà nước đối với đất đai. Ruộng đất là tài sản quốc
gia, Nhà nước giao quyền sử dụng ổn định và lâu dài cho nông dân. Vì vậy, việc
tăng cường quản lý Nhà nước đối với đất đai là rất cần thiết. Nội dung quản lý Nhà
nước đối với đất đai bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất, xây dựng hệ thống các biện
pháp sử dụng đất, xác lập các chính sách sử dụng đất…” [4].
Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai (trong đó phạm
vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất), chịu sự chi phối của các nhân
tố: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, nhân tố không gian, Do đó, đánh giá
đất là để có cơ sở định hướng sử dụng đất, điều này không những mang ý nghĩa
trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài, tránh tình trạng sử dụng đất nông nghiệp
không đúng mục đích, đặc biệt là diện tích đất trồng lúa. Ngăn chặn các hiện tượng
tiêu cực tranh chấp, lấn chiếm, hủy hoại phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi
trường là vấn đề cấp bách đặt ra.

nâng cao năng suất đất đai cần phải áp dụng một cách đồng bộ hệ thống các biện
pháp kỹ thuật trong sản xuất,
Đất đai cần được quản lý và sử dụng bền vững: Sự bền vững trong sử dụng
đất đai có nghĩa cả về số lượng và chất lượng đất đai phải được bảo tồn không
những đáp ứng được mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà phải đáp ứng được
nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau. Sự bền vững của đất đai gắn liền
với điều kiện sinh thái môi trường. Vì thế cần đảm bảo hài hòa phương thức sử
dụng đất đai vì lợi ích trước mắt mà kết hợp với lợi ích lâu dài. [2].
1.1.5.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Là một hệ sinh thái, một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục vụ
con người, hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ chính
con người. Các tác động của con người nhiều khi, đã làm cho hệ sinh thái biến đổi
vượt quá khả năng tự điều chỉnh của đất. Con người không chỉ chịu tác động vào

11
đất đai, mà tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ra một lượng lương thực,
thực phẩm ngày càng nhiều. Trong khi các hoạt động cải tạo đất chưa được quan
tâm đúng mức và hậu quả là đất đai và cũng như các nhân tố tự nhiên khác bị thay
đổi theo chiều hướng ngày càng xấu đi. Ngày nay, nhiều vùng đất đai màu mỡ đã bị
thoái hóa nghiêm trọng kéo theo sự sói mòn đất và sự suy giảm nguồn nước kèm
theo hạn hán lũ lụt. Vì vậy, để đảm bảo cho cuộc sống của con người trong hiện tại
và tương lai, cần phải có những chiến lược về sử dụng đất không chỉ duy trì những
khả năng hiện có của đất, mà còn khôi phục khả năng đã mất. Thuật ngữ “sử dụng
đất bền vững” ra đời trên cơ sở của những mong muốn trên [18].
Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn
là mong muốn của con người trong mọi thời đại. Nhiều nhà khoa học và tổ chức
quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn để sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng
của thế giới. Trong đó có Việt Nam, việc sử dụng đất bền vững nhằm đạt được các
mục tiêu sau:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất)

canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất hơn cây hàng năm … ).
Ba yêu cầu bền vững trên là tiêu chuẩn để xem xét và đánh giá các loại hình
sử dụng đất hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp
cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [3].
1.1.6 Sự cần thiết sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả và bền vững
Đảng và Nhà nước đã quan tâm nhiều tới nông nghiệp, nông dân, nông thôn,
tăng mức đầu tư để khuyến khích nông nghiệp phát triển. Tuy nhiên, so với tầm
quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp thì mức đầu tư chưa tương xứng. Từ năm 2010
đến nay, mức đầu tư bình quân toàn xã hội của nước ta cho lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp chưa đến 3% GDP, ngân sách Nhà nước đầu tư vào lĩnh vực này cũng chỉ
chiếm 1,4% GDP, cho nên, mức tăng sản xuất nông nghiệp nhiều năm gần đây có
chiều hướng giảm.
Tình trạng lao động nông thôn, chủ yếu là lao động trẻ ở nhiều vùng trong cả
nước bỏ nghề nông ra thành phố tìm kế sinh nhai ngày càng nhiều, đã và tiếp tục
làm gia tăng dân số cơ học, gây quá tải cho các thành phố lớn, góp phần nảy sinh

13
không ít những phức tạp, như ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí, mất trật tự, an
toàn xã hội. Vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp ai cũng thấy, nhưng mấy
năm nay, nước ta cũng phải nhập khẩu thức ăn chăn nuôi với số lượng lớn (năm
2011, nhập khẩu gần 89 triệu tấn). Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các
giáo sư, tiến sĩ "ra đời", nhưng ứng dụng thiết thực vào nông nghiệp còn hạn chế.
Thực hiện Nghị quyết đại hội XI của Ðảng về phát triển nông nghiệp, nông
thôn một cách bền vững, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông dân, thiết nghĩ
Ðảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành và các địa phương cần tiếp tục quan tâm hơn
nữa để đa dạng hóa các chương trình đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Cần nghiên cứu và sớm quyết định việc giao kinh phí cho các địa phương trực tiếp
đầu tư cho nông dân nhưng không thông qua các doanh nghiệp như trước. Làm như
vậy để nhằm bảo đảm tính trách nhiệm, tính pháp lý của địa phương với vấn đề đầu
tư cho nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, để hạn chế tình trạng dàn trải, thất thoát

Chỉ có 14% đất có năng suất cao, 28% đất có năng suất trung bình, nhưng có tới
58% đất có năng suất thấp [13].
Đất đai trên thế giới phân bổ ở các châu lục không đều. Tuy có diện tích đất nông
nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng châu Á có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp
trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác, châu Á là nơi tập chung phần lớn dân số
thế giới, ở đây các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ,
Inđônêxia, Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ
nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang
được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông
Nam Á. Phần lớn diện tích này là diện tích đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước
đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã
bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại [12].
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai
thác thêm những diện tích đất nông nghiệp có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng
nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên do dân số ngày một
tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP (chương trình
phát triển của liên hợp quốc nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế chuyển giao công nghệ

15
và chuẩn bị đầu tư) năm 1995 cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông
trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp. Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong
các quốc gia ASEAN [7].
1.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam
Tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam là 33.168,855 ha, đứng thứ 59 trong
hơn 200 nước trên thế giới. Thế nhưng diện tích canh tác của Việt Nam thấp vào
bậc nhất thế giới. Đó là dự báo của các chuyên gia trong hội thảo “sử dụng tài
nguyên đất ở Việt Nam với định cư ở đô thị và nông thôn’’ do liên hiệp các Hội
khoa học Kỹ thuật Việt Nam, viện nghiên cứu định cư (SHI), Viện nghiên cứu đô
thị và phát triển hạ tầng tổ chức vào ngày 24-25/5/2007.


17
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu hiệu quả của một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp của xã
Nghĩa Thịnh.
- Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến quá trình sử
dụng đất nông nghiệp của xã.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn xã Nghĩa Thịnh, huyện
Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2011 -
2013, số liệu sơ cấp điều tra là số liệu của hộ thể hiện năm 2013.
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, KT-XH của xã Nghĩa Thịnh
- Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Nghĩa Thịnh
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Nghĩa Thịnh
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn xã Nghĩa Thịnh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
+ Thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết, các bài
viết liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Thu thập số liệu từ chính quyền địa phương. Thống kê của UBND xã,
huyện, và các phòng ban liên quan, thu thập từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ
internet…
+ Thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng các dụng cụ

mạnh, cơ hội mà địa phương có được và những điểm yếu, rủi ro gặp phải nếu loại
hình này được áp dụng tại địa phương.

Trích đoạn Những vấn đề còn tồn tại trong việc sử dụng đất nông nghiệp Phân tích SWOT cho từng loại mô hình sử dụng đất nông nghiệp Giải pháp về bảo vệ môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status