Nghiên cứu thực trạng phát triển Kinh tế nông hộ tại xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MẠC TRƯỜNG DOANH

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ
TẠI XÃ HÓA TRUNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : 42 - KTNN
Khóa học : 2010 - 2014 Thái Nguyên, 2014


LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban Giám Hiệu Nhà trường, Ban
chủ nhiệm Khoa Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn, tôi đã tiến hành Khóa
luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu thực trạng phát triển Kinh tế nông hộ tại xã Hóa
Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”.
Đặc biệt để hoàn thành Khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn sâu
sắc tới thầy giáo ThS. Vũ Đức Hải đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình tôi làm Đề tài tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám Hiệu Nhà trường, Ban chủ
nhiệm khoa cùng quý Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Kinh Tế và Phát Triển
Nông Thôn – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt
kiến thức trong suốt quá trình học 4 năm qua, có một hành trang giúp cá nhân
tôi tự tin bước vào cuộc sống.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo UBND xã Hóa Trung,
cùng cán bộ địa phương cùng bà con nhân dân của xã. Trong thời gian thực tập
tại xã đã tận tình giúp đỡ tôi thu thập thông tin và số liệu tại địa phương.
Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do
thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với
công tác nghiên cứu nên bản Khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót.
Tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và
bạn bè để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Mạc Trường Doanh



Bảng 3.2. Giá trị sản xuất kinh doanh của xã Hóa Trung qua 3 năm (2011-
2013) 27

Bảng 3.3. Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm (2011-2013) 28

Bảng 3.4. Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 32

Bảng 3.5. Tình hình đất đai bình quân /hộ của xã 34

Bảng 3.6. Tình hình lao động bình quân/hộ 35

Bảng 3.7. Tình hình vốn sản xuất bình quân trên một hộ điều tra năm 2013 . 36

Bảng 3.8. Chi phí sản xuất ngành trồng trọt của các nhóm hộ điều tra năm
2013 37

Bảng 3.9. Chi phí sản xuất ngành Chăn nuôi của nhóm hộ điều tra năm 2013 39

Bảng 3.10. Kết quả sản xuất ngành Trồng trọt bình quân/hộ của nhóm hộ điều
tra năm 2013 40

Bảng 3.11. Kết quả sản xuất ngành Chăn nuôi bình quân/hộ của nhóm hộ điều
tra năm 2013 42

Bảng 3.12. Tổng hợp thu nhập của nhóm hộ điều tra 43

Bảng 3.13. Kết quả từ sản hoạt động sản xuất của nông hộ/1 đồng chi phí 44

Bảng 3.14. Chi phí sinh hoạt và khả năng tích lũy của hộ 45

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 19
2.1.3. Nội dung nghiên cứu 19
2.2. Câu hỏi nghiên cứu 19
2.3. Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1. Phương pháp điều tra chọn mẫu 19
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin 20
2.3.3. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, số liệu 20
2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 21
2.4.1. Các chỉ tiêu nghiên cứu 21
2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả Kinh tế 22
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22

3.1.1. Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội 27
3.2. Thực trạng tình hình sản xuất và kinh doanh kinh tế hộ Nông dân xã
Hóa Trung 32
3.2.1. Khái quát chung về nhóm hộ điều tra 32
3.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của chủ hộ 34
3.2.3. Mức độ đầu tư chi phí sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra . 36
3.2.4. Kết quả sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 40
3.2.5 Tổng hợp và đánh giá thu nhập của nhóm hộ điều tra 43
3.2.6. Tình hình chi tiêu và tích lũy của nhóm hộ điều tra 44
3.3. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển Kinh tế nông hộ của
xã Hóa Trung 45
3.3.1. Các yếu tố về nguồn lực 45
3.3.2. Về thị trường 47
3.3.3. Về khoa học công nghệ 48

thực tế nhiều hộ chưa dám mạnh dạn đầu tư sản xuất Nông nghiệp với quy mô
lớn vì rủi ro lớn. Vì vậy cần tìm hiểu thực trạng phát triển Kinh tế nông hộ ở xã,
những yếu tố, nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển Kinh tế nông hộ?
Từ đó đưa gia những định hướng, giải pháp để phát triển, nâng cao hiệu quả
Kinh tế nông hộ.
Việc nghiên cứu thực trạng, để đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự
phát triển kinh tế nông hộ là vấn đề cấp bách và vô cùng cần thiết nhằm khai
thác tốt những tiềm năng sẵn có, tăng thu nhập cho người Nông dân. Vì vậy
tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng phát triển Kinh tế nông hộ tại xã
Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng phát triển Kinh tế nông hộ từ đó đưa
ra các giải pháp phát triển Kinh tế nông hộ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về hiệu quả của phát triển Kinh tế
nông hộ
- Đánh giá thực trạng phát triển Kinh tế nông hộ tạ xã Hóa Trung .
- Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn trên địa bàn xã Hóa Trung trong phát
triển Kinh tế.
- Phân tích tình hình Kinh tế của hộ gia đình.
- Tìm hiểu sơ bộ về hiệu quả của kinh tế hộ tại địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển Kinh tế hộ nông dân
xã Hóa Trung trong những năm tới. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề kinh tế có liên quan đến

3
- Đưa ra những giải pháp phát triển Kinh tế nông hộ tại xã nói riêng và
trên các vùng có đặc điểm tự nhiên tương tự
5. Bố cục của Khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết, bố cục của khóa luận gồm những
chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Các giải pháp nhằm phát triển Kinh tế hộ tại xã Hóa Trung
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ Nông dân và Kinh tế hộ Nông dân
1.1.1.1. Khái niệm hộ
Hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua
mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất
kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của
cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”.
Theo Liên hợp quốc “Hộ là những nhóm người cùng sống chung dưới
một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.

và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm “Hộ nông dân là đơn vị
sản xuất cơ bản”
Theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn
năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao
động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt,
chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây cây trồng, bảo vệ
thực vật …) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”
(Nguyễn Sinh Cúc 2000) [2].
Từ những nghiên cứu trên của các tác giả và theo cá nhân tôi cho rằng:
Hộ Nông dân là những hộ sinh sống ở Nông thôn và tham gia sản xuất chính
là Nông nghiệp. Thu nhập của hộ chủ yếu là từ Nông nghiệp, ngoài ra hộ
Nông dân còn tham gia các hoạt động sản xuất phi Nông nghiệp khác như :
Dịch vụ, Tiểu thủ Công nghiệp…
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất
vừa là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị
kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ
thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế Quốc dân. Khi trình độ phát triển lên
mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng
và đi vào chiều sâu, thì các hộ Nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ
thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều
này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.
1.1.1.3. Kinh tế hộ Nông dân .
Kinh tế hộ Nông dân là một cơ sở Kinh tế có đất đai, các tư liệu sản
xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình
để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống Kinh tế lớn hơn, nhưng chủ 6
yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng
hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao.

nâng cao trình độ dân trí nông thôn. 7
1.1.3. Đặc trưng của Kinh tế hộ Nông dân
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và
sử dụng các yếu tố sản xuất.
Sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, nghĩ là mọi thành viên trong
nông hộ đề có quyền sở hữu với những tài liệu sản xuất vốn có, cũng như
những tài sản khác của hộ. Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và cùng
nhau chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm
rất cao và việc bố chí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý.
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ.
Trong nông hộ mọi người thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ
huyết thống, kinh tế nông hộ lại tổ chức với quy mô nhỏ hơn các loại hình
doanh nghiệp nông nghiệp khác nên việc điều hành sản xuất cũng đơn giản
gọn nhẹ. Trong nông hộ chủ hộ vừa là người điều hành quản lý sản xuất, đồng
thời cũng là người trực tiếp tham gia lao động sản xuất nên tính thống nhất
giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao.
- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ
Nông dân.
Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ giữa
nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Ở nước ta,
từ năm 1988 khi nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ
nông dân, sản xuất nông nghiệp mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng
chưa từng có về năng suất và số lượng. Người nông dân phấn khởi trong sản
xuất. Một số vấn đề quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm
sống gắn bó với mảnh đất của họ .
- Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao
Do kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ nên có sự thích ứng dễ dàng hơn so

trường vốn, ruộng đất, lao động.
1.1.4.2. Phân loại theo tính chất của ngành sản xuất
+ Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp.
+ Hộ chuyên nông: là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí,
mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ,
dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.
+ Hộ kiêm nông: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ
công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính.
+ Hộ buôn bán: Ở nơi đông dân cư, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ.
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy
sản xuất Công nghiệp Nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở
nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh 9
tế Nông nghiệp Nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành
hoặc chuyên môn hoá. Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao
động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên.
1.1.4.3. Phân loại căn cứ vào mức thu nhập của hộ gồm 3 loại
+ Hộ giàu - khá
+ Hộ Trung bình
+ Hộ nghèo
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển Kinh tế hộ
nông dân
1.1.5.1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu
kinh tế cũng như quá trình phát triển kinh tế hộ Nông dân. Những nhân tố về
điều kiện tự nhiên bao gồm: Điều kiện về đất đai, thời tiết, khí hậu, nguồn
nước, khoáng sản, và các yếu tố sinh học khác…
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên có tác động trực tiếp tới sự phát triển

- Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong Nông nghiệp Nông thôn bao gồm: Đường
giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị Nông
nghiệp , đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất của kinh tế
hộ Nông dân, thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất
phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các Nông hộ được ổn định và cải thiện.
- Thị trường:
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? với số lượng
bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị
trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị
trường cần trong điều kiện sản xuất của họ. Từ đó, kinh tế hộ nông dân mới
có điều kiện phát triển.
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất
kinh doanh:
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hoá, các hộ nông
dân phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và
giúp nhau tiêu thụ sản phẩm. Nhờ có các hình thức liên kết, hợp tác mà các hộ
nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ
mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, con gia súc và năng
suất lao động.
1.1.5.3. Nhóm nhân tố thuộc Khoa học - Kỹ thuật và Công nghệ
- Kỹ thuật canh tác:
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng óc khác nhau, với
yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau
.Trong Nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa 11
phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất Nông nghiệp và phát
triển kinh tế Nông hộ.
12
đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai. Về quan điểm phát triển bền vững kinh
tế hộ nông dân không tách rời với quan điểm phát triển bền vững nông thôn.
Nội dung của quan điểm phát triển nông thôn là:
+ Đảm bảo nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng
đáp ứng nhu cầu trong tương lai.
+ Phát triển kinh tế xã hội nông thôn gắn liền với giữ gìn và bảo vệ
môi trường.
Phát triển ý tưởng của Liên Hợp Quốc. Ủy ban quốc tế về phát triển và
môi trường (1987) đã định nghĩa: Phát triển bền vững là một quá trình của sự
thay đổi, trong đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng
phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất,
làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người.
(Nguyễn Thị Châu, 2013)[1].
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình phát triển Kinh tế hộ Nông dân ở các nước trên Thế giới
và những bài học kinh nghiệm
Kinh tế nông hộ xuất hiện lần đầu tiên ở một số nước Tây Âu trong
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội
rõ rệt .Sau đó kinh tế nông hộ phát triển ở tất cả các nước công nghiệp hoá
Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Đại Dương cho đến nay .Ở Châu Á, kinh tế nông hộ
được hình thành và phát triển ở một số nước công nghiệp hoá đầu tiên của
châu lục này từ những năm 50 và đến nay cũng đang xuất hiện ở nhiều nước
đang phát triển trên đường đi lên công nghiệp hoá.
Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của các
nước nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, trang trại, nông thôn đã có
nhiều kinh nghiệm quý báu để chúng ta học tập
- Đài Loan: ý thức được xuất phát điểm của mình có vị trí quan trọng là

đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền
đề vật chất cho sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thuỷ
lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên
cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi, cây con vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông
- Indonexia: ngay từ kế hoạch 5 năm 1969 - 1974, việc di dân đã thành
công với sự tài trợ của Ngân hàng thế giới, ở đó mỗi hộ di cư đều được trợ cấp
bởi Chính phủ như tiền cước vận chuyển đi quê mới, một căn nhà 2 buồng,
0,5ha đất thổ cư và 2ha đất canh tác (1ha cây lâu năm và 1 ha cây hàng năm),
một năm lương thực khi đến khu định cư mới. Được chăm sóc y tế, giáo dục,
được vay vốn với lãi suất ưu đãi, vay đầu tư cho cây nông nghiệp, khi đến kỳ
thu hoạch mới trả nợ. Hiện nay ở Indonexia có 80.000 - 100.000 hộ đến các
vùng kinh tế mới, chi phí bình quân/hộ từ 5.000-7.000USD. 14
- Thái Lan: một nước trong khu vực Đông Nam châu Á, Chính phủ
Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành
nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan đến
việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành (từ 1950 đến năm 1980). Thứ nhất:
xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới đường bộ bổ sung cho
mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc, Đông Bắc, Nam ),
đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng. Thứ hai: chính sách mở rộng diện tích
canh tác và đa dạng hoá sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía,
bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc. Thứ ba: đẩy mạnh công
nghiệp hoá chế biên nông sản để xuất khẩu như ngô, sắn sang các thị trường
châu Âu và Nhật Bản. Thứ tư: thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và
chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước
cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân
vay tiền với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản
phẩm với giá định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng

chục chợ xã và cụm ngoài xã những chợ truyền thống, đây vừa là đầu mối thu
gom tiêu thụ sản phẩm vừa là những “vệ tinh” kinh tế, giúp người nông dân
tiêu thụ sản phẩm một cách nhanh chóng và đúng giá. Đồng thời các chợ đầu
mối này cũng là nơi thu hút các nhà đầu tư các doanh nghiệp, tư thương có cái
nhìn đúng, đánh giá chính xác để đầu tư chế biến các mặt hàng nông lâm sản
ở từng khu vực và mô hình kinh tế trên địa bàn huyện.
Bắc Ninh: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Ninh có
nhiều nỗ lực trong thực hiện chủ trương cho vay hộ sản xuất, trở thành một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, đóng góp tích
cực vào công cuộc xây dựng và phát triển địa phương. Từ đó đến nay, hàng
ngàn hộ nông dân trên địa bàn đã được tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng.
Với thủ tục vay vốn ngày càng đơn giản, thuận tiện, thời gian nhanh hơn, số
tiền vay nhiều hơn, phong cách phục vụ tận tình chu đáo hơn, ngân hàng đã
luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hộ nông dân thúc đẩy phát triển
trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng các mô hình trang trại,…tạo việc làm thu nhập
ổn định, từng bước xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu. Chủ trương cho
vay hộ sản xuất trong 15 năm qua ở địa phương là chính sách tín dụng ngân
hàng đã đến với 100% thôn xóm, làm thay đổi hẳn quan niệm, nhận thức của
các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội và nhất là các người dân về
tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi hộ nông dân nói
riêng và của cả địa phương nói chung. Đây chính là bài học kinh nghiệm để
trong thời gian tới, ngân hàng tiếp tục chính sách đẩy mạnh tuyên truyền các
chủ trương chính sách tín dụng tới mọi địa bàn, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ
với các cấp các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai nhanh chóng 16
kịp thời và hiệu quả nguồn vốn vay đến các hộ nông dân, tạo điều kiện thuận
lợi cho các hộ thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng góp tích cực cho công cuộc
công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Phong trào hộ nông dân


17
thu nhập. Trong kinh tế thị trường, việc tìm ra cây gì, con gì để cho sản xuất
hàng hóa lớn đã khó, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông
nghiệp mấy năm gần đây cũng đang khó khăn không kém. Đã thế, thị trường
đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân,
giá lên cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua
giá thấp với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những
nhà cung cấp tin cậy và ổn định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa
chọn phương án tối ưu. Vì thế để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển nhà
nước cần có chính sách hỗ trợ cho người nông dân về giá vật tư Nông nghiệp
và thông tin về nhu cầu của thị trường. Từ thực tế cho thấy để phát triển kinh
tế hộ nông dân bền vững và có hiệu quả cao cần phát triển theo chiều sâu, trên
cơ sở phát triển khoa học Nông nghiệp, những tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là
lĩnh vực ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin trong lựa chọn và
tạo giống. Cần phá vỡ tính tự phát trong sản xuất Nông nghiệp của người
nông dân, để làm được điều này Nhà nước cần định hướng, hỗ trợ, tư vấn cho
người nông dân trong phát triển kinh tế nông hộ.
1.2.3.2. Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển Kinh tế nông hộ
tại xã Hóa Trung
Phát triển kinh tế hộ nông dân phải gắn liền với giải quyết các vấn đề
xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Coi phát triển con người
là động lực để phát triển sản xuất, phát triển xã hội và tiến bộ xã hội thực hiện
mục tiêu cơ bản mà Nhà nước đã đặt ra: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng và văn minh". Nắm vững Đường lối, Chủ trương của Đảng và vận dụng
sáng tạo vào tình hình thực tế của xã để đẩy mạnh phát triển sản xuất Nông
nghiệp và kinh tế hộ nông dân. Trong quá trình phát triển sản xuất Nông
nghiệp và kinh tế hộ nông dân, Đảng bộ, UBND phường đã chỉ đạo các ban
ngành tìm mọi cách góp phần tăng năng suất cây trồng vật nuôi, xây dựng cơ
cấu giống hợp lý, phù hợp với từng loại đất, áp dụng tiến bộ Khoa học - Kỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status