BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
CHU HỒNG THẮNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ RỐI LOẠN
CHUYỂN HOÁ Ở NGUỜI TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI XÃ HOÁ THƯỢNG HUYỆN ĐỒNG HỶ -
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Chuyên ngành Nội khoa
Mã số: 60 72 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học: TS. DƯƠNG HỒNG THÁI
THÁI NGUYÊN - 2008 Lời cảm ơn !
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt
của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, gia đình và
bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, các phòng, khoa, bộ môn
Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên; Ban giám đốc, các phòng, khoa
Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên; Ban giám đốc, các phòng ban
Sở Y tế Thái Nguyên; Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên;
Đảng uỷ, HĐND, UBND, Trạm Y tế và các ban ngành xã Hoá Thượng,
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo các bộ môn Trường Đại học Y-
Dược Thái Nguyên đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong
suốt quá trình học tập.
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn: TS. Dương Hồng Thái, người
thầy đã tận tình trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
KTHA Không tăng huyết áp
NaCl Natri clorua
NST Nhiễm sắc thể
PTTH Phổ thông trung học
TBMMN Tai biến mạch máu não
THA Tăng huyết áp
THCS Trung học cơ sở
WC Waist Circumference (vòng bụng)
WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)
WHR Waist/Hip Ratio (tỷ số vòng bụng/vòng mông)
YTNC Yếu tố nguy cơ
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN 3
1.1.Định nghĩa và phân loại bệnh THA 3
1.2. Cơ chế bệnh sinh bệnh THA 4
1.3. Biểu hiện của bệnh THA 9
1.4. Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong THA 10
1.5. Tình hình bệnh tăng huyết áp và các nghiên cứu bệnh tăng huyết
áp ở một số nước trên Thế giới
11
1.6. Nghiên cứu bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam 13
1.7. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về rối loạn chuyển hoá và
các yếu tố liên quan đến bệnh THA
15
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng nghiên cứu 24
nước có nền kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển. Bệnh THA gây
nhiều biến chứng nguy hiểm như: tai biến mạch máu não, suy tim, suy mạch
vành, suy thận... phải điều trị lâu dài, cần sử dụng thuốc và phương tiện kỹ thuật
đắt tiền. Chính vì thế, bệnh THA không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc
sống của bản thân người mắc bệnh, mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh THA
chiếm khoảng 10% - 15% dân số và ước tính đến 2025 là 29%. Tại Hoa Kỳ,
hàng năm chi phí cho phòng, chống bệnh THA trên 259 tỷ đô la Mỹ [53].
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của bộ môn Tim mạch và Viện Tim mạch
tại thành phố Hà Nội năm 2001-2002, tỷ lệ THA ở người lớn là 23,2%, cao gần
ngang hàng với các nước trên thế giới [25]. Tỷ lệ THA trong các nghiên cứu về
dịch tễ học luôn vào khoảng từ 20% đến 25% [53]. Một số nghiên cứu mới đây
cho thấy tỷ lệ THA người lớn (trên 25 tuổi) ở một số vùng Việt Nam đã lên đến
33,3% [18]. Bệnh THA còn liên quan đến một số rối loạn chuyển hoá glucose
máu, lipid máu... Các rối loạn chuyển hoá này vừa là nguyên nhân gây THA vừa
là hậu quả của THA và như vậy khi bị THA bệnh ngày càng nặng lên nhanh
chóng và tử vong do các biến chứng tại tim, não, thận. Đây là vòng xoắn bệnh lý
mà chúng ta cần quan tâm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Dự báo trong những năm tới số người mắc bệnh THA sẽ còn tăng do các
yếu tố liên quan như: hút thuốc lá, lạm dụng rượu - bia, dinh dưỡng bất hợp lý, ít
vận động vẫn còn phổ biến. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khống chế được
những yếu tố nguy cơ này có thể làm giảm được 80% bệnh THA [3].
Điều trị THA cần phải liên tục, kéo dài và phải được theo dõi chặt chẽ.
Trên thực tế việc phát hiện, quản lý và điều trị bệnh nhân THA tại cộng đồng
gặp rất nhiều khó khăn. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng như người dân còn nghèo
chưa đủ tiền theo dõi, điều trị, thiếu sự quan tâm, thiếu hiểu biết, trình độ học
vấn thấp... Do đó cần xây dựng một kế hoạch mang tính chất chiến lược trong
HuyÕt ¸p (mmHg)
T©m thu T©m tr-¬ng
THA ®é I 140 – 159 90 – 99
THA ®é II 160 – 179 100 – 109
THA ®é III
180 110
- Liên Uỷ ban quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá, điều trị THA Hoa
Kỳ (Join National Committee – JNC) lại đưa phân loại hơi khác qua các kỳ họp
(JNC IV 1988, JNC V 1993, JNC VI 1997) và gần đây JNC VII (năm 2003) chia
THA như sau [46]:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Bảng 1.2. Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)
Ph©n ®é THA
HuyÕt ¸p (mmHg)
T©m thu T©m tr-¬ng
B×nh th-êng <120 <80
TiÒn THA 120 – 139 80 – 89
THA ®é I 140 – 159 90 – 99
THA ®é II
160 100
- Cách phân loại THA tại Việt Nam: xuất phát từ cách phân độ THA của
WHO/ISH và JNC, Hội tim mạch Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau [12]:
Bảng 1.3. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay
Ph©n lo¹i
HuyÕt ¸p (mmHg)
T©m thu T©m tr-¬ng
HA tèi -u < 120 < 80
HA b×nh th-êng 120 – 129 80 – 84
- Tỏc dng co mch ca adrenalin v noradrenalin: hai cht ny do tu
thng thn bi tit ra, khi h giao cm b kớch thớch. Adrenalin cú tỏc dng co
mch di da nhng li lm gión mch vnh, mch nóo, mch c võn nờn ch
lm THA ti a. Noradrenalin lm co mch ton thõn nờn lm tng c HA ti a
v HA ti thiu [22].
- Vai trũ ca h RAA: Renin - Angiotensin - Aldosteron [8], [41].
Renin l enzym c t bo ca t chc cnh cu thn v mt s t chc
khỏc tit ra khi cú yu t kớch thớch. Yu t kớch thớch tit renin l nng mui
trong huyt tng v kớch thớch th th ca adrenecgic. Khi renin c tit ra
s chuyn
2
globulin (c tng hp t gan) gi l angiotensinogen thnh
angiotensin I (l peptid cú 10 acid amin), theo mỏu n tun hon phi c
Tăng hoạt động
thần kinh giao cảm
Tăng huyết áp hệ
thống động mạch
Tăng cung
l-ợng tim
Co thắt động mạch
ngoại vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
tách khỏi chất vận chuyển và cắt đi 2 acid amin nhờ coverting enzym ở phổi còn
lại 8 acid amin được gọi là angiotensin II có rất nhiều tác dụng [22]:
+ Trên mạch máu: Angiotensin II làm co các tiểu động mạch sát với mao
mạch nơi mà thành tiểu động mạch còn cơ trơn. Tác dụng co mạch của của
S vai trũ R.A.A trong tng huyt ỏp
Hệ thống cạnh tiểu cầu thận (và
một số các tổ chức khác)
Angiotensinogen
(
2
globulin do gan sản xuất)
Renin
do giảm tưới máu nhu mô thận, do hẹp nhánh chính hoặc nhánh phụ động mạch
thận dẫn đến hoạt hoá hệ R.A.A, angiotensin II được giải phóng gây co mạch
trực tiếp [41].
- U tuỷ thượng thận là nguyên nhân hiếm gặp gây THA (chiếm tỷ lệ 1 - 2%
THA). Là khối u tế bào ưa crôm sản xuất và phóng thích ra lượng lớn
catecholamin (norepinephrine hoặc epinephrin hoặc cả hai) [36].
- Do cường aldosteron và hội chứng cushing: Hậu quả angiotensin II kích
thích làm tăng aldosteron gây giữ natri bằng cách kích thích sự trao đổi natri và
kali ở ống thận gây giữ nước làm tăng thể tích tuần hoàn gây THA. Cường
aldosteron có thể do khối u hoặc quá sản vỏ thượng thận hai bên [41]. Cường
aldosteron tiên phát chiếm 0,3% tổng số bệnh nhân THA.
- Hẹp eo động mạch chủ: Chiếm khoảng 7% bệnh nhân tim bẩm sinh.
Đường kính động mạch chủ có thể bị nhỏ hoặc bị thắt ở trên bất kỳ vị trí nào của
động mạch nhưng hay gặp nhất ở đoạn dưới nơi xuất phát của động mạch dưới
đòn trái. Trong hẹp eo động mạch chủ gây THA ở chi trên trong khi lại hạ HA ở
chi dưới, HA ở chi trên cao hơn HA ở chi dưới 30 mmHg [36].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
- THA ở phụ nữ có thai: Bệnh THA xuất hiện nặng lên trong thời kỳ có
thai gây tử vong cho bà mẹ và thai nhi. Tỷ lệ tử vong của mẹ là 10%, của con là
33% [12].
- Sử dụng estrogen: Đây cũng là dạng phổ biến nhất của THA thứ phát. Cơ
chế do tăng hoạt động hệ R.A.A do estrogen kích thích tổng hợp angiotensin và
làm tăng angiotensin II làm cường aldosteron thứ phát. Trường hợp này chỉ xảy
ra ở 5% phụ nữ sử dụng thuốc và HA trở lại bình thường sau 6 tháng dừng thuốc
[8].
- Các nguyên nhân khác: THA kết hợp với tăng kali máu, bệnh to đầu chi,
tăng canxi máu do cường tuyến cận giáp.
1.3. Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp
HDL - C, LDL - C, glucose, acid uric trong máu.
* Nước tiểu: protein, hồng cầu…
* Soi đáy mắt, điện tâm đồ, X quang tim, siêu âm tim…
1.3.2.2. Những xét nghiệm hay trắc nghiệm đặc biệt
* Đối với THA thứ phát hay THA khó xác định nghi ngờ có bệnh mạch
thận: chụp UIV nhanh, thận đồ.
* U tuỷ thượng thận định lượng catecholamin nước tiểu 24h
1.4. Tổn thƣơng cơ quan đích có thể gặp trong THA
- Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử
vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành
gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp...[12]. THA thường xuyên sẽ làm cho thất
trái to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn; khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ
bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ. Về
lâm sàng, lúc đầu người bệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng
sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ.
Ngoài ra người bệnh còn có da xanh, phù, tím tái…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Về cận lâm sàng có các biểu hiện sớm trên điện tâm đồ như: thiếu máu cơ tim,
blook nhánh phải hoàn toàn, blook nhánh phải không hoàn toàn, tăng gánh thất
trái, ngoại tâm thu thất, dày thất trái…
- Não: Tai biến mạch máu não thường gặp như: nhũn não, xuất huyết não
có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề. Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu
não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc
bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội
[12].
- Thận:
+ Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh.
+ Xơ thận gây suy thận dần dần.
cũng tăng nguy cơ phát triển suy tim ứ huyết 2 - 3 lần. Năm 1999 - 2000 có tới
37,5 triệu lượt bệnh nhân phải đi khám vì THA tại Mỹ. Ước tính chi phí trực
tiếp và gián tiếp cho THA năm 2003 đã lên tới 65,3 tỷ USD [57].
Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới về bệnh THA ở
người trưởng thành: tại Canada (1995) tỷ lệ THA là 22%, Mêhicô (1998) 19,4%;
Tây Ban Nha (1996) 30%; Cu Ba (1998) 44%; Trung Quốc (2001) 27%; Thái
Lan (2001) 20,5%; Singapore (1998) 26,6%; Châu Phi (2007) 21,3% [60]. Một
nghiên cứu ở Brasil, với nhóm tuổi từ 20 đến 69 tuổi có tỷ lệ THA là 23,6% [56].
Kiểm soát huyết áp có hiệu quả cũng làm giảm tỷ lệ tử vong và biến
chứng của các bệnh tim mạch. Tuy vậy, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc
trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40%. Điều trị thuốc hạ áp tích cực cho phép giảm số
đo huyết áp tâm thu 6,3 mmHg so với nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích
cực, hơn nữa nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực lại làm tăng số đo
HA thêm 4,8 mmHg. Các mô hình như bệnh nhân tự theo dõi HA, nhân viên y
tế theo dõi phải được xây dựng và đánh giá thêm. Giáo dục truyền thống trực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
tiếp cho người bệnh hoặc thầy thuốc đơn thuần không có tác dụng đáng kể trong
việc làm giảm số đo HA ở bệnh nhân THA.
Phân tích tổng hợp khác trên các thử nghiệm phòng tiên phát bệnh mạch
vành cho thấy: thay đổi các nguy cơ về lối sống (hút thuốc, chế độ luyện tập thể
lực thường xuyên, chế độ ăn) dù không thay đổi đáng kể tử lệ tử vong chung và
tử vong riêng do bệnh động mạch vành song đã có tác dụng làm giảm HA tâm
thu xuống 3,9 mmHg (95% CI: 3,6 - 4,2); giảm HA tâm trương xuống 2,9
mmHg (95% CI: 2,7 - 3,1) thêm ngoài tác dụng của thuốc hạ áp. So sánh việc
dùng thuốc tích cực, thay đổi lối sống đơn thuần cũng đã đạt hiệu quả tương tự
50% khi dùng thuốc. Hơn nữa phân tích này cũng cho thấy các biện pháp can
thiệp yếu tố nguy cơ thông quan tư vấn giáo dục đến từng cá nhân người THA
hay đến từng hộ gia đình có hiệu quả nhiều hơn trong việc giảm các yếu tố nguy
tố liên quan mạnh nhất đến THA là tuổi và mức độ béo phì. Tỷ lệ người dân
hiểu biết đúng tất cả các yếu tố nguy cơ chỉ chiếm 23% (18,8% nông thôn so với
29,5% ở thành thị), trong khi hiểu biết sai về các yếu tố nguy cơ chiếm hơn 1/3
dân số (44,1% ở nông thôn so với 27,1% ở thành thị) [26].
Theo điều tra mới nhất một nghiên cứu của Trường Đại học Y- Dược Thái
Nguyên, cho thấy tỷ lệ THA ở vùng nông thôn Thái Nguyên cũng rất cao chiếm
tỷ lệ 33,3% (đối với đối tượng từ 18 tuổi trở lên) [18].
THA và các yếu tố nguy cơ (nhất là các yếu tố lối sống, vốn có thể thay
đổi được) đã trở thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều
trị kiểm soát HA, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức
khoẻ nhằm vào các yếu tố nguy cơ đặc biệt là các yếu tố nguy cơ về lối sống có
khả năng thay đổi theo chiều hướng tích cực có lợi cho bệnh nhân bị THA.
Tình trạng quản lý bệnh nhân THA ở Việt Nam, cho đến nay chưa có hệ
thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA. Các hoạt động y tế mới chỉ tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, chưa có mô hình dự
phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng. Công tác tuyên truyền
bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo
cán bộ cho công tác phòng chống THA tại các cơ sở còn nhiều hạn chế nên việc
nghiên cứu thực trạng bệnh THA và các yếu tố liên quan ở các địa phương là rất
cần thiết cho phòng và chống bệnh THA ở cộng đồng.
1.7. Một số nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về rối loạn chuyển hoá và các
yếu tố liên quan đến bệnh THA
1.7.1. Tăng glucose máu
Bệnh đái tháo đường hay đi cùng với bệnh tăng huyết áp. Người ta thấy
khoảng 30 -50% bệnh nhân đái tháo đường bị tăng huyết áp, những bệnh nhân
này thường béo. Ngược lại, xét nghiệm glucose máu thấy tăng cao ở 1/3 số bệnh
nhân tăng huyết áp [10].
Phạm Tử Dương điều tra 219 bệnh nhân THA trên 4693 người tại Hà Nội
trong 5 năm (1994-1998) thì có 5 trường hợp đái tháo đường (2,3%) [10].
Trương Thanh Hương nghiên cứu 38 bệnh nhân THA điều trị ngoại trú
tại Viện Tim Mạch từ tháng 6/1995 đến tháng 3/1996 thấy mức glucose máu lúc
đói lớn hơn 7,77 mmol/l có 1/38 ca = 3% [21].
Năm 1998, Nguyễn Thị Dung nghiên cứu 1160 bệnh nhân THA tại bệnh
viện Việt Tiệp, trong số 79,3% trường hợp xét nghiệm đường máu lúc đói có
14,5% số trường hợp bị đái tháo đường (glucose máu tĩnh mạch lúc đói >7,8
mmol/l) [9].
Phạm Gia Khải nghiên cứu 571 người THA tại Hà Nội trong 2 năm
(1998-1999) thì có 17 trường hợp đái tháo đường, chiếm 2,97% [23].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
1.7.2. Rối loạn lipid máu
Được gọi là rối loạn lipid máu khi có rối loạn một hoặc nhiều thành phần
sau: tăng cholesterol toàn phần, tăng triglycerid, tăng LDL-C, giảm HDL-C,
giảm apoprotein AI, tăng apoprotein B [11].
Chẩn đoán rối loạn lipid máu khi:
- Cholesterol toàn phần: > 5,2 mmol/l
- Triglycerid : > 2,3 mmol/l
- HDL- C: < 0,9 mmol/l
- LDL- C: > 3,12 mmol/l.
Nghiên cứu về các mức lipid máu ở những trường hợp THA không có tai
biến. Một phân tích lượng lipid máu tại chỗ trên 3182 bệnh nhân không bị đái
tháo đường, chưa có biến chứng (2425 nữ và 757 nam) có mặt ở thành phố
Patna - Ấn Độ trong khoảng từ 1992 - 1998, được so với nhóm chứng có 4131
người. Kết quả: cholesterol toàn phần trung bình có tăng nhẹ ở những người có
hướng tăng nhanh. Ở Việt Nam tỷ lệ thừa cân (BMI ≥ 23) ở nam giới trưởng
thành là 10,1% và ở nữ giới trưởng thành là 13,2% [3].
Béo phì rất có hại cho tim mạch vì hay dẫn đến THA và xơ vữa động
mạch, cuối cùng dẫn đến rút ngắn tuổi thọ rõ rệt. Nhiều nghiên cứu cho thấy
béo phì có tương quan thuận với huyết áp. Tỷ lệ THA tăng theo mức độ béo phì,
tỷ lệ THA tăng dần theo mức độ thừa cân ở cả nam và nữ giới. Người béo phì độ
II có tỷ lệ THA từ 33% - 39% so với người tiền béo phì tỷ lệ THA chiếm 17% - 24% [26].
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7610 người tại Hà Nội từ tháng 4/1998
đến tháng 4/1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09
2,72. Nhóm BMI từ 22 trở lên đã có nguy cơ THA [23].
Tại Nam Phi, tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố: trọng
lượng, chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA (điều tra trên 431 sinh viên)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
Kết quả cho thấy: 18% sinh viên bị tăng cân (BMI 25 - 29,9), 6,5% béo phì
(BMI 30) và 26,8% giảm cân. HA, BMI, WHR, WC đều tăng đáng kể cùng
với tuổi. Chỉ 1,6% sinh viên có THA, 1% hút thuốc lá và 4,4% nghiện hút.
Nghiên cứu cho thấy BMI, WC và WHR có mối tương quan với HA và tuổi [66].
Gus, Moreira và cộng sự (Brazil - 1998) nghiên cứu sự liên quan giữa
BMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỷ lệ THA trong một mẫu đại diện 1088
người trưởng thành ở Porto Alegre - Brazinl. Tiêu chuẩn được gọi là béo bệu
khi: hoặc BMI 27 (cho cả hai giới); hoặc WHR 0,95 (với nam) và 0,80
(với nữ); hoặc WC 96cm (với nam) và 92 cm (với nữ). Kết quả nghiên cứu
cho thấy: béo phì tính theo BMI có sự liên quan với THA ở cả hai giới [58].
Một số nghiên cứu khác cũng nhận thấy béo phì có mối liên quan với các
mức HA. Nguy cơ THA ở người thừa cân, béo phì cao gấp 2 lần so với người
bình thường và cao gấp 3 lần so với người nhẹ cân [9], [23], [30].
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự,
WHR 0,80 có nguy cơ tương đối liên quan chặt chẽ (theo chiều thuận) với
hẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệ
THA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc là không có sự khác
biệt rõ ràng [53].
Năm 1998 - 1999, Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội đã tiến hành
nghiên cứu trên các đối tượng nghiện thuốc lá, có 1450 người chiếm tỷ lệ
19,03% (nam: 1399 người chiếm 96,48%; nữ 51 người chiếm 3,51%). Số điếu
hút trung bình là 22,14 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao (20 điếu)/ngày/người.
Tỷ lệ THA chung ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86% [23].
Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần [3]. Khi
hít khói thuốc vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch
máu. Khói thuốc gây THA cấp tính và THA dao động. Hút thuốc còn giảm tác
dụng của các thuốc điều trị THA [29].