BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
CHU HỒNG THẮNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ RỐI LOẠN
CHUYỂN HOÁ Ở NGUỜI TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI XÃ HOÁ THƯỢNG HUYỆN ĐỒNG HỶ -
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Chuyên ngành Nội khoa
Mã số: 60 72 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học: TS. DƯƠNG HỒNG THÁI
THÁI NGUYÊN - 2008 Lời cảm ơn !
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt
của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, gia đình và
bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, các phòng, khoa, bộ môn
Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên; Ban giám đốc, các phòng, khoa
Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên; Ban giám đốc, các phòng ban
Sở Y tế Thái Nguyên; Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên;
Đảng uỷ, HĐND, UBND, Trạm Y tế và các ban ngành xã Hoá Thượng,
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo các bộ môn Trường Đại học Y-
Dược Thái Nguyên đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong
suốt quá trình học tập.
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn: TS. Dương Hồng Thái, người
thầy đã tận tình trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
KTHA Không tăng huyết áp
NaCl Natri clorua
NST Nhiễm sắc thể
PTTH Phổ thông trung học
TBMMN Tai biến mạch máu não
THA Tăng huyết áp
THCS Trung học cơ sở
WC Waist Circumference (vòng bụng)
WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)
WHR Waist/Hip Ratio (tỷ số vòng bụng/vòng mông)
YTNC Yếu tố nguy cơ
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN
3
1.1.Định nghĩa và phân loại bệnh THA
3
1.2. Cơ chế bệnh sinh bệnh THA
4
1.3. Biểu hiện của bệnh THA
9
1.4. Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong THA
10
1.5. Tình hình bệnh tăng huyết áp và các nghiên cứu bệnh tăng huyết
áp ở một số nước trên Thế giới
11
49
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
49
4.2. Thực trạng bệnh THA
52
4.3. Một số rối loạn chuyển hoá và yếu tố liên quan với bệnh THA
62
KẾT LUẬN
73
KHUYẾN NGHỊ
74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
75
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VÀ PHỤ LỤC
83 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tăng huyết áp (THA) là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt
Nam, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khoẻ của con người, là nguyên nhân gây
tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi. Trong số các trường hợp mắc
bệnh và tử vong do tim mạch hàng năm có khoảng 35% - 40% nguyên nhân do
THA [53].
Tỷ lệ bệnh THA rất cao và có xu hướng tăng rất nhanh không chỉ ở các
nước có nền kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển. Bệnh THA gây
nhiều biến chứng nguy hiểm như: tai biến mạch máu não, suy tim, suy mạch
vành, suy thận phải điều trị lâu dài, cần sử dụng thuốc và phương tiện kỹ thuật
1. Mô tả thực trạng bệnh tăng huyết áp tại xã Hoá Thượng, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Đánh giá một số rối loạn chuyển hoá và yếu tố liên quan đến bệnh tăng
huyết áp tại cộng đồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp
1.1.1. Định nghĩa THA
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là THA khi HA tối
đa, HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương
(HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2
lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [3], [8], [69].
Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều
nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau.
THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch
máu não, bệnh mạch vành
1.1.2. Phân loại THA
Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây. Theo
WHO/ISH (năm 2003) chia lại THA làm 3 độ [8], [17], [20], [69]:
Bảng 1.1. Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003)
Ph©n ®é THA
HuyÕt ¸p (mmHg)
T©m thu
T©m tr-¬ng
THA ®é II
160
100
- Cách phân loại THA tại Việt Nam: xuất phát từ cách phân độ THA của
WHO/ISH và JNC, Hội tim mạch Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau [12]:
Bảng 1.3. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay
Ph©n lo¹i
HuyÕt ¸p (mmHg)
T©m thu
T©m tr-¬ng
HA tèi -u
< 120
< 80
HA b×nh th-êng
120 – 129
80 – 84
HA b×nh th-êng cao
130 – 139
85 – 89
THA ®é 1 (nhÑ)
140 – 159
90 – 99
THA ®é 2 (trung b×nh)
160 – 179
100 – 109
THA ®é 3 (nÆng)
180
110
THA t©m thu ®¬n ®éc
140
- Vai trũ ca h RAA: Renin - Angiotensin - Aldosteron [8], [41].
Renin l enzym c t bo ca t chc cnh cu thn v mt s t chc
khỏc tit ra khi cú yu t kớch thớch. Yu t kớch thớch tit renin l nng mui
trong huyt tng v kớch thớch th th ca adrenecgic. Khi renin c tit ra
s chuyn
2
globulin (c tng hp t gan) gi l angiotensinogen thnh
angiotensin I (l peptid cú 10 acid amin), theo mỏu n tun hon phi c
Tăng hoạt động
thần kinh giao cảm
Tăng huyết áp hệ
thống động mạch
Tăng cung
l-ợng tim
Co thắt động mạch
ngoại vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
tách khỏi chất vận chuyển và cắt đi 2 acid amin nhờ coverting enzym ở phổi còn
lại 8 acid amin được gọi là angiotensin II có rất nhiều tác dụng [22]:
+ Trên mạch máu: Angiotensin II làm co các tiểu động mạch sát với mao
mạch nơi mà thành tiểu động mạch còn cơ trơn. Tác dụng co mạch của của
angiotensin II mạnh gấp 30 lần so với noradrenalin.
+ Kích thích lớp cầu của vỏ thượng thận làm tăng bài tiết aldosterol do tác
dụng lên enzym 20α hydroxylase, là enzym chuyển cholesterol thành 20α
hydroxy cholesterol, gây tăng giữ nước và giữ muối.
+ Kích thích trực tiếp lên ống thận làm tăng tái hấp thu natri.
+ Kích thích vùng postrema (diện sau cùng ở nền não thất IV) là vùng có
những tế bào nhạy cảm với tác dụng của angiotensin II, do đó làm tăng trương
S vai trũ R.A.A trong tng huyt ỏp
Hệ thống cạnh tiểu cầu thận (và
một số các tổ chức khác)
Angiotensinogen
(
2
globulin do gan sản xuất)
Renin
Angiotensin I
Angiotensin II
Converting anzyme
(ở tuần hoàn phổi)
Chất trung gian
Angiotensin III
Co động mạch
thích làm tăng aldosteron gây giữ natri bằng cách kích thích sự trao đổi natri và
kali ở ống thận gây giữ nước làm tăng thể tích tuần hoàn gây THA. Cường
aldosteron có thể do khối u hoặc quá sản vỏ thượng thận hai bên [41]. Cường
aldosteron tiên phát chiếm 0,3% tổng số bệnh nhân THA.
- Hẹp eo động mạch chủ: Chiếm khoảng 7% bệnh nhân tim bẩm sinh.
Đường kính động mạch chủ có thể bị nhỏ hoặc bị thắt ở trên bất kỳ vị trí nào của
động mạch nhưng hay gặp nhất ở đoạn dưới nơi xuất phát của động mạch dưới
đòn trái. Trong hẹp eo động mạch chủ gây THA ở chi trên trong khi lại hạ HA ở
chi dưới, HA ở chi trên cao hơn HA ở chi dưới 30 mmHg [36].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
- THA ở phụ nữ có thai: Bệnh THA xuất hiện nặng lên trong thời kỳ có
thai gây tử vong cho bà mẹ và thai nhi. Tỷ lệ tử vong của mẹ là 10%, của con là
33% [12].
- Sử dụng estrogen: Đây cũng là dạng phổ biến nhất của THA thứ phát. Cơ
chế do tăng hoạt động hệ R.A.A do estrogen kích thích tổng hợp angiotensin và
làm tăng angiotensin II làm cường aldosteron thứ phát. Trường hợp này chỉ xảy
ra ở 5% phụ nữ sử dụng thuốc và HA trở lại bình thường sau 6 tháng dừng thuốc
[8].
- Các nguyên nhân khác: THA kết hợp với tăng kali máu, bệnh to đầu chi,
tăng canxi máu do cường tuyến cận giáp.
1.3. Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp
1.3.1. Lâm sàng
Bệnh nhân bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện
ra bệnh. Hay gặp nhất đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra có thể
có hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi , một số các triệu chứng khác tuỳ
thuộc vào nguyên nhân hoặc biến chứng của THA [36].
* Đo HA là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định.
Phương pháp korotkoff dùng huyết áp kế thủy ngân hoặc các loại huyết áp kế
1.4. Tổn thƣơng cơ quan đích có thể gặp trong THA
- Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử
vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành
gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp [12]. THA thường xuyên sẽ làm cho thất
trái to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn; khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ
bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ. Về
lâm sàng, lúc đầu người bệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng
sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ.
Ngoài ra người bệnh còn có da xanh, phù, tím tái…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Về cận lâm sàng có các biểu hiện sớm trên điện tâm đồ như: thiếu máu cơ tim,
blook nhánh phải hoàn toàn, blook nhánh phải không hoàn toàn, tăng gánh thất
trái, ngoại tâm thu thất, dày thất trái…
- Não: Tai biến mạch máu não thường gặp như: nhũn não, xuất huyết não
có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề. Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu
não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc
bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội
[12].
- Thận:
+ Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh.
+ Xơ thận gây suy thận dần dần.
+ Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính.
+ Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và
angiotensin II trong máu tăng gây cường aldosteron thứ phát.
- Mạch máu: THA là yếu tố gây vữa xơ động mạch [65], phồng động
mạch chủ.
- Mắt: Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt. Theo Keith-Wagener
Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt [8]:
nghiên cứu ở Brasil, với nhóm tuổi từ 20 đến 69 tuổi có tỷ lệ THA là 23,6% [56].
Kiểm soát huyết áp có hiệu quả cũng làm giảm tỷ lệ tử vong và biến
chứng của các bệnh tim mạch. Tuy vậy, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc
trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40%. Điều trị thuốc hạ áp tích cực cho phép giảm số
đo huyết áp tâm thu 6,3 mmHg so với nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích
cực, hơn nữa nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực lại làm tăng số đo
HA thêm 4,8 mmHg. Các mô hình như bệnh nhân tự theo dõi HA, nhân viên y
tế theo dõi phải được xây dựng và đánh giá thêm. Giáo dục truyền thống trực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
tiếp cho người bệnh hoặc thầy thuốc đơn thuần không có tác dụng đáng kể trong
việc làm giảm số đo HA ở bệnh nhân THA.
Phân tích tổng hợp khác trên các thử nghiệm phòng tiên phát bệnh mạch
vành cho thấy: thay đổi các nguy cơ về lối sống (hút thuốc, chế độ luyện tập thể
lực thường xuyên, chế độ ăn) dù không thay đổi đáng kể tử lệ tử vong chung và
tử vong riêng do bệnh động mạch vành song đã có tác dụng làm giảm HA tâm
thu xuống 3,9 mmHg (95% CI: 3,6 - 4,2); giảm HA tâm trương xuống 2,9
mmHg (95% CI: 2,7 - 3,1) thêm ngoài tác dụng của thuốc hạ áp. So sánh việc
dùng thuốc tích cực, thay đổi lối sống đơn thuần cũng đã đạt hiệu quả tương tự
50% khi dùng thuốc. Hơn nữa phân tích này cũng cho thấy các biện pháp can
thiệp yếu tố nguy cơ thông quan tư vấn giáo dục đến từng cá nhân người THA
hay đến từng hộ gia đình có hiệu quả nhiều hơn trong việc giảm các yếu tố nguy
cơ và cũng dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân THA có nguy cơ cao.
Như vậy, để quản lý và giám sát bệnh THA hiệu quả ở cộng đồng, cần
phối hợp việc điều trị thuốc hạ áp với những biện pháp can thiệp các yếu tố nguy
cơ THA nhằm thay đổi các hành vi lối sống theo chiều hướng có lợi cho người
THA. Điều kiện quyết định là phải nâng cao nhận thức, tìm hiểu các rào cản
trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều
chỉnh các biện pháp giáo dục sức khoẻ phù hợp và có hiệu quả với từng địa
THA và các yếu tố nguy cơ (nhất là các yếu tố lối sống, vốn có thể thay
đổi được) đã trở thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều
trị kiểm soát HA, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức
khoẻ nhằm vào các yếu tố nguy cơ đặc biệt là các yếu tố nguy cơ về lối sống có
khả năng thay đổi theo chiều hướng tích cực có lợi cho bệnh nhân bị THA.
Tình trạng quản lý bệnh nhân THA ở Việt Nam, cho đến nay chưa có hệ
thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA. Các hoạt động y tế mới chỉ tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, chưa có mô hình dự
phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng. Công tác tuyên truyền
bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo
cán bộ cho công tác phòng chống THA tại các cơ sở còn nhiều hạn chế nên việc
nghiên cứu thực trạng bệnh THA và các yếu tố liên quan ở các địa phương là rất
cần thiết cho phòng và chống bệnh THA ở cộng đồng.
1.7. Một số nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về rối loạn chuyển hoá và các
yếu tố liên quan đến bệnh THA
1.7.1. Tăng glucose máu
Bệnh đái tháo đường hay đi cùng với bệnh tăng huyết áp. Người ta thấy
khoảng 30 -50% bệnh nhân đái tháo đường bị tăng huyết áp, những bệnh nhân
này thường béo. Ngược lại, xét nghiệm glucose máu thấy tăng cao ở 1/3 số bệnh
nhân tăng huyết áp [10].
Năm 1976, Berghen và cộng sự cũng nhận thấy sự gia tăng insulin khi đói
và sau khi uống 100g glucose ở bệnh nhân THA chưa điều trị. Năm 1987,
Ferranini và cộng sự lần đầu tiên đã chứng minh ở người trẻ bị tăng huyết áp
chưa điều trị với trọng lượng và sự dung nạp glucose bình thường có sự kháng
insulin ở mô ngoại biên và liên quan đến mức độ tăng huyết áp. Năm 1988, Shen
và cộng sự so sánh sự đáp ứng glucose, insulin ở người huyết áp bình thường
với người bệnh tăng huyết áp chưa điều trị và tăng huyết áp được điều trị. Kết
14,5% số trường hợp bị đái tháo đường (glucose máu tĩnh mạch lúc đói >7,8
mmol/l) [9].
Phạm Gia Khải nghiên cứu 571 người THA tại Hà Nội trong 2 năm
(1998-1999) thì có 17 trường hợp đái tháo đường, chiếm 2,97% [23].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
1.7.2. Rối loạn lipid máu
Được gọi là rối loạn lipid máu khi có rối loạn một hoặc nhiều thành phần
sau: tăng cholesterol toàn phần, tăng triglycerid, tăng LDL-C, giảm HDL-C,
giảm apoprotein AI, tăng apoprotein B [11].
Chẩn đoán rối loạn lipid máu khi:
- Cholesterol toàn phần: > 5,2 mmol/l
- Triglycerid : > 2,3 mmol/l
- HDL- C: < 0,9 mmol/l
- LDL- C: > 3,12 mmol/l.
Nghiên cứu về các mức lipid máu ở những trường hợp THA không có tai
biến. Một phân tích lượng lipid máu tại chỗ trên 3182 bệnh nhân không bị đái
tháo đường, chưa có biến chứng (2425 nữ và 757 nam) có mặt ở thành phố
Patna - Ấn Độ trong khoảng từ 1992 - 1998, được so với nhóm chứng có 4131
người. Kết quả: cholesterol toàn phần trung bình có tăng nhẹ ở những người có
THA (191,8 mg/dl) so với nhóm chứng (190,1 mg/dl) (p ≤0,05) và tỷ lệ
cholesterol HDL toàn phần trung bình cũng cao hơn (4,65 so với 4,48) ở những
người THA (p<0,05), 1069 (chiếm 33,6%) bệnh nhân có cholesterol ở mức lớn
hơn 200 mg/dl trong khi ở 850 (chiếm 26,7%) có lượng triglycerid vượt quá 200
mg/dl ở những người trong nhóm có THA. Tỷ lệ cholesterol HDL toàn phần
không bình thường (>4,5) xuất hiện trong 1600 (50,3%) người có THA; kết quả
này đã chỉ ra rằng tỷ lệ cholesterol HDL toàn phần không bình thường là phổ
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7610 người tại Hà Nội từ tháng 4/1998
đến tháng 4/1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09
2,72. Nhóm BMI từ 22 trở lên đã có nguy cơ THA [23].
Tại Nam Phi, tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố: trọng
lượng, chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA (điều tra trên 431 sinh viên)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Kết quả cho thấy: 18% sinh viên bị tăng cân (BMI 25 - 29,9), 6,5% béo phì
(BMI 30) và 26,8% giảm cân. HA, BMI, WHR, WC đều tăng đáng kể cùng
với tuổi. Chỉ 1,6% sinh viên có THA, 1% hút thuốc lá và 4,4% nghiện hút.
Nghiên cứu cho thấy BMI, WC và WHR có mối tương quan với HA và tuổi [66].
Gus, Moreira và cộng sự (Brazil - 1998) nghiên cứu sự liên quan giữa
BMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỷ lệ THA trong một mẫu đại diện 1088
người trưởng thành ở Porto Alegre - Brazinl. Tiêu chuẩn được gọi là béo bệu
khi: hoặc BMI 27 (cho cả hai giới); hoặc WHR 0,95 (với nam) và 0,80
(với nữ); hoặc WC 96cm (với nam) và 92 cm (với nữ). Kết quả nghiên cứu
cho thấy: béo phì tính theo BMI có sự liên quan với THA ở cả hai giới [58].
Một số nghiên cứu khác cũng nhận thấy béo phì có mối liên quan với các
mức HA. Nguy cơ THA ở người thừa cân, béo phì cao gấp 2 lần so với người
bình thường và cao gấp 3 lần so với người nhẹ cân [9], [23], [30].
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự,
WHR 0,80 có nguy cơ tương đối liên quan chặt chẽ (theo chiều thuận) với
THA. Điều này có nghĩa là: vòng bụng càng to thì nguy cơ THA càng cao [23].
Ngoài ra, trên các đối tượng béo phì có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hoá
như tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [3].
Ở những người béo phì có THA, chỉ cần giảm 5 kg là HA đã giảm nhiều. Người
ta tính rằng, nếu giảm 10 kg thì HA tâm thu có thể giảm từ 5 đến 20 mmHg,
đồng thời còn có nhiều lợi ích khác như giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường, hạ lipid máu
1.7.4. Thói quen hút thuốc lá
Tỷ lệ THA chung ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86% [23].
Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần [3]. Khi
hít khói thuốc vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch
máu. Khói thuốc gây THA cấp tính và THA dao động. Hút thuốc còn giảm tác
dụng của các thuốc điều trị THA [29].