BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
CHU HỒNG THẮNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ RỐI LOẠN
CHUYỂN HOÁ Ở NGUỜI TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI XÃ HOÁ THƯỢNG HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
CHU HỒNG THẮNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ RỐI LOẠN
CHUYỂN HOÁ Ở NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI XÃ HOÁ THƯỢNG HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành Nội khoa
Mã số: 60 72 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học: TS. DƯƠNG HỒNG THÁI
THÁI NGUYÊN - 2008
BMMNB
Bệnh mạch máu ngoại biên
CCVC
Công chức viên chức
Cre
Creatinin
CT
Cholesterol toàn phần
DTH
Dịch tễ học
ĐH, CĐ, THCN
Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
Glu
Không tăng huyết áp
NaCl
Natri clorua
NST
Nhiễm sắc thể
PTTH
Phổ thông trung học
TBMMN
Tai biến mạch máu não
THA
Tăng huyết áp
THCS
Trung học cơ sở
WC
Waist Circumference (vòng bụng)
4
1.3. Biểu hiện của bệnh THA
9
1.4. Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong THA
10
1.5. Tình hình bệnh tăng huyết áp và các nghiên cứu bệnh tăng huyết
11
áp ở một số nước trên Thế giới
1.6. Nghiên cứu bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam
13
1.7. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về rối loạn chuyển hoá và
15
các yếu tố liên quan đến bệnh THA
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
2.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu xã Hóa Thượng
34
3.2. Thực trạng về bệnh THA
36
3.3. Một số rối loạn chuyển hoá và yếu tố liên quan với bệnh THA
41
Chƣơng 4. BÀN LUẬN
49
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
49
4.2. Thực trạng bệnh THA
52
4.3. Một số rối loạn chuyển hoá và yếu tố liên quan với bệnh THA
62
KẾT LUẬN
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh THA
chiếm khoảng 10% - 15% dân số và ước tính đến 2025 là 29%. Tại Hoa Kỳ,
hàng năm chi phí cho phòng, chống bệnh THA trên 259 tỷ đô la Mỹ [53].
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của bộ môn Tim mạch và Viện Tim mạch
tại thành phố Hà Nội năm 2001-2002, tỷ lệ THA ở người lớn là 23,2%, cao gần
ngang hàng với các nước trên thế giới [25]. Tỷ lệ THA trong các nghiên cứu về
dịch tễ học luôn vào khoảng từ 20% đến 25% [53]. Một số nghiên cứu mới đây
cho thấy tỷ lệ THA người lớn (trên 25 tuổi) ở một số vùng Việt Nam đã lên đến
33,3% [18]. Bệnh THA còn liên quan đến một số rối loạn chuyển hoá glucose
máu, lipid máu... Các rối loạn chuyển hoá này vừa là nguyên nhân gây THA vừa
là hậu quả của THA và như vậy khi bị THA bệnh ngày càng nặng lên nhanh
chóng và tử vong do các biến chứng tại tim, não, thận. Đây là vòng xoắn bệnh lý
mà chúng ta cần quan tâm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Dự báo trong những năm tới số người mắc bệnh THA sẽ còn tăng do các
yếu tố liên quan như: hút thuốc lá, lạm dụng rượu - bia, dinh dưỡng bất hợp lý, ít
vận động vẫn còn phổ biến. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khống chế được
những yếu tố nguy cơ này có thể làm giảm được 80% bệnh THA [3].
Điều trị THA cần phải liên tục, kéo dài và phải được theo dõi chặt chẽ.
Trên thực tế việc phát hiện, quản lý và điều trị bệnh nhân THA tại cộng đồng
gặp rất nhiều khó khăn. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng như người dân còn nghèo
chưa đủ tiền theo dõi, điều trị, thiếu sự quan tâm, thiếu hiểu biết, trình độ học
vấn thấp... Do đó cần xây dựng một kế hoạch mang tính chất chiến lược trong
Bảng 1.1. Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003)
HuyÕt ¸p (mmHg)
Ph©n ®é THA
T©m thu
T©m tr-¬ng
THA ®é I
140 – 159
90 – 99
THA ®é II
160 – 179
100 – 109
THA ®é III
180
110
- Liên Uỷ ban quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá, điều trị THA Hoa
Kỳ (Join National Committee – JNC) lại đưa phân loại hơi khác qua các kỳ họp
(JNC IV 1988, JNC V 1993, JNC VI 1997) và gần đây JNC VII (năm 2003) chia
THA như sau [46]:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
160
100
B×nh th-êng
- Cách phân loại THA tại Việt Nam: xuất phát từ cách phân độ THA của
WHO/ISH và JNC, Hội tim mạch Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau [12]:
Bảng 1.3. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay
HuyÕt ¸p (mmHg)
Ph©n lo¹i
T©m thu
T©m tr-¬ng
< 120
< 80
HA b×nh th-êng
120 – 129
80 – 84
HA b×nh th-êng cao
130 – 139
Cơ chế bệnh sinh gồm THA nguyên phát và THA thứ phát [41].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
1.2.1. THA nguyờn phỏt
THA nguyờn phỏt chim ti 90% cỏc trng hp [3], c ch bnh sinh n
nay cha c rừ rng, ngi ta cho rng mt s yu t sau õy cú th gõy
THA:
- Tng hot ng thn kinh giao cm s lm tim trng thỏi tng ng do
tng hot ng ca tim dn n tng cung lng v tng tn s tim. Ton b h
thng ng mch ngoi vi v ng mch thn b co tht, lm tng sc cn ngoi
vi li hu qu cui cựng l THA ng mch [8].
Sơ đồ cơ chế bệnh sinh THA do tăng hoạt động thần kinh giao cảm và tăng
cung l-ợng tim [41]:
Tăng hoạt động
thần kinh giao cảm
Tăng cung
l-ợng tim
Tăng huyết áp hệ
thống động mạch
Co thắt động mạch
ngoại vi
lực mạch máu và làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến THA.
+ Kích thích các cúc tận cùng thần kinh giao cảm tăng bài tiết noradrenalin
và giảm sự tái nhập noradrenalin trở lại các cúc tận cùng.
+ Làm tăng tính nhạy cảm của noradrenalin đối với mạch máu.
Từ những hiểu biết trên ta thấy angiotensin II có tác dụng rộng khắp toàn
bộ hệ thống động mạch, làm tăng sức cản noại vi và tăng thể tích dịch lưu hành
là cơ sở THA.
- Giảm chất điều hoà HA: prostaglandin E2 và kali krein ở thận có chức
năng sinh lý là điều hoà huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu khi chất này bị
ức chế hoặc thiếu gây THA.
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: natri có vai trò trong
bệnh THA cả trên thực nghiệm và trong điều trị. Trong điều kiện bình thường các
hormon và thận sẽ hiệp đồng để thải natri làm cho lượng natri trong máu ổn
định. Hiện tượng ứ natri xảy ra khi lượng natri sẽ tăng giữ nước, hệ thống mạch
sẽ tăng nhạy cảm với angiotensin và noradrenalin [41].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Hệ thống cạnh tiểu cầu thận (và
một số các tổ chức khác)
Angiotensinogen
(2 globulin do gan sản xuất)
Renin
1.2.2. THA thứ phát
Bệnh nhân THA có nguyên nhân rõ ràng như:
- Bệnh thận ở nhu mô thận đều có thể gây THA thứ phát. Cơ chế gây THA
do thận liên quan đến thể tích lòng mạch hoặc tăng hoạt động renin - angiotensin
- aldosteron, giảm sản xuất chất giãn mạch cần thiết (có thể là prostaglandin
hoặc bradykinin) giảm bất hoạt các chất giãn mạch hoặc kém thải trừ natri nên
natri bị giữ lại làm THA [36].
- THA do dị dạng động mạch thận: có khoảng 75% bệnh nhân hẹp động
mạch thận là do xơ vữa đặc biệt là bệnh nhân lớn tuổi, 25% còn lại do dị dạng
xuất phát từ lớp cơ (thường gặp ở đối tượng trẻ tuổi). THA do bệnh mạch thận là
do giảm tưới máu nhu mô thận, do hẹp nhánh chính hoặc nhánh phụ động mạch
thận dẫn đến hoạt hoá hệ R.A.A, angiotensin II được giải phóng gây co mạch
trực tiếp [41].
- U tuỷ thượng thận là nguyên nhân hiếm gặp gây THA (chiếm tỷ lệ 1 - 2%
THA). Là khối u tế bào ưa crôm sản xuất và phóng thích ra lượng lớn
catecholamin (norepinephrine hoặc epinephrin hoặc cả hai) [36].
- Do cường aldosteron và hội chứng cushing: Hậu quả angiotensin II kích
thích làm tăng aldosteron gây giữ natri bằng cách kích thích sự trao đổi natri và
kali ở ống thận gây giữ nước làm tăng thể tích tuần hoàn gây THA. Cường
aldosteron có thể do khối u hoặc quá sản vỏ thượng thận hai bên [41]. Cường
aldosteron tiên phát chiếm 0,3% tổng số bệnh nhân THA.
- Hẹp eo động mạch chủ: Chiếm khoảng 7% bệnh nhân tim bẩm sinh.
Đường kính động mạch chủ có thể bị nhỏ hoặc bị thắt ở trên bất kỳ vị trí nào của
động mạch nhưng hay gặp nhất ở đoạn dưới nơi xuất phát của động mạch dưới
đòn trái. Trong hẹp eo động mạch chủ gây THA ở chi trên trong khi lại hạ HA ở
chi dưới, HA ở chi trên cao hơn HA ở chi dưới 30 mmHg [36].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
vữa xơ động mạch trên da (u vàng, u mỡ…).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
- Khám tim phổi có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu hiệu suy tim
trái. Sờ và nghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động
mạch cảnh.
- Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn, trong hẹp
động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang.
- Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch máu não cũ hoặc nhẹ.
1.3.2. Cận lâm sàng
Mục đích để đánh giá nguy cơ tim mạch, tổn thương thận và tìm nguyên
nhân.
1.3.2.1. Những xét nghiệm tối thiểu
* Máu: công thức máu, ure, creatinin, điện giải đồ, cholesterol toàn phần,
HDL - C, LDL - C, glucose, acid uric trong máu.
* Nước tiểu: protein, hồng cầu…
* Soi đáy mắt, điện tâm đồ, X quang tim, siêu âm tim…
1.3.2.2. Những xét nghiệm hay trắc nghiệm đặc biệt
* Đối với THA thứ phát hay THA khó xác định nghi ngờ có bệnh mạch
thận: chụp UIV nhanh, thận đồ.
* U tuỷ thượng thận định lượng catecholamin nước tiểu 24h
1.4. Tổn thƣơng cơ quan đích có thể gặp trong THA
- Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử
vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành
- Mắt: Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt. Theo Keith-Wagener
Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt [8]:
+ Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng
+ Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch
(dấu hiệu Salus Gunn)
+ Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc nhưng chưa có phù gai thị
+ Giai đoạn IV: Phù lan toả gai thị
1.5. Tình hình bệnh tăng huyết áp và các nghiên cứu bệnh THA ở một số
nƣớc trên thế giới
Bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức
cao, đặc biệt các nước phát triển. Tại các nước phát triển có hình thái bệnh tật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
chuyển đổi từ các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang các bệnh không nhiễm
trùng là chính, trong đó có bệnh THA. Điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên
đối tượng là người trưởng thành cho thấy tỷ lệ HA bình thường là 39%, 31%
thuộc nhóm tiền THA và 29% là THA [57]. Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi
ở nam là 39% so với nữ 23,1%. Nhưng tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa
tuổi trước tuổi 45. Ở độ tuổi 45 - 54, tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam
giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở nữ cao hơn nam [55]. THA được coi
là nguyên nhân chủ yếu hoặc góp phần chính trong 11,4% các ca tử vong ở Mỹ
năm 2003. Trong vòng 10 năm (1993 - 2003), tỷ lệ tử vong do THA tăng 29,3%,
số ca tử vong tăng 56,1%. THA giai đoạn II trở lên (HA 160/95 mmHg) làm
tăng nguy cơ đột quỵ thêm 4 lần so với người có HA bình thường [51]. THA
mmHg (95% CI: 2,7 - 3,1) thêm ngoài tác dụng của thuốc hạ áp. So sánh việc
dùng thuốc tích cực, thay đổi lối sống đơn thuần cũng đã đạt hiệu quả tương tự
50% khi dùng thuốc. Hơn nữa phân tích này cũng cho thấy các biện pháp can
thiệp yếu tố nguy cơ thông quan tư vấn giáo dục đến từng cá nhân người THA
hay đến từng hộ gia đình có hiệu quả nhiều hơn trong việc giảm các yếu tố nguy
cơ và cũng dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân THA có nguy cơ cao.
Như vậy, để quản lý và giám sát bệnh THA hiệu quả ở cộng đồng, cần
phối hợp việc điều trị thuốc hạ áp với những biện pháp can thiệp các yếu tố nguy
cơ THA nhằm thay đổi các hành vi lối sống theo chiều hướng có lợi cho người
THA. Điều kiện quyết định là phải nâng cao nhận thức, tìm hiểu các rào cản
trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều
chỉnh các biện pháp giáo dục sức khoẻ phù hợp và có hiệu quả với từng địa
phương. Vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp và các yếu tố
liên quan ở nhiều địa phương khác nhau để có thể đưa ra những kế hoạch chiến
lược, cũng như kế hoạch chi tiết cho chương trình phòng chống bệnh tăng huyết
áp tại các địa phương.
1.6. Nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam
Theo điều tra năm 1982, tỷ lệ THA chung là 1,95% và ở người trên 60
tuổi tỷ lệ THA là 9,2% [30].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Năm 1999, theo điều tra của Phạm Gia Khải và cộng sự, tỷ lệ THA là
16,05% [23]. Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch trung ương, tỷ lệ
THA là 23,2% [26].
15
trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, chưa có mô hình dự
phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng. Công tác tuyên truyền
bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo
cán bộ cho công tác phòng chống THA tại các cơ sở còn nhiều hạn chế nên việc
nghiên cứu thực trạng bệnh THA và các yếu tố liên quan ở các địa phương là rất
cần thiết cho phòng và chống bệnh THA ở cộng đồng.
1.7. Một số nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về rối loạn chuyển hoá và các
yếu tố liên quan đến bệnh THA
1.7.1. Tăng glucose máu
Bệnh đái tháo đường hay đi cùng với bệnh tăng huyết áp. Người ta thấy
khoảng 30 -50% bệnh nhân đái tháo đường bị tăng huyết áp, những bệnh nhân
này thường béo. Ngược lại, xét nghiệm glucose máu thấy tăng cao ở 1/3 số bệnh
nhân tăng huyết áp [10].
Năm 1976, Berghen và cộng sự cũng nhận thấy sự gia tăng insulin khi đói
và sau khi uống 100g glucose ở bệnh nhân THA chưa điều trị. Năm 1987,
Ferranini và cộng sự lần đầu tiên đã chứng minh ở người trẻ bị tăng huyết áp
chưa điều trị với trọng lượng và sự dung nạp glucose bình thường có sự kháng
insulin ở mô ngoại biên và liên quan đến mức độ tăng huyết áp. Năm 1988, Shen
và cộng sự so sánh sự đáp ứng glucose, insulin ở người huyết áp bình thường
với người bệnh tăng huyết áp chưa điều trị và tăng huyết áp được điều trị. Kết
quả cho thấy ở các bệnh nhân THA này có tình trạng kháng insulin [trích dẫn 5].
Người ta đã dễ dàng nhận thấy một tỷ lệ đáng kể các bệnh nhân tăng
huyết áp có kháng insulin và tăng insulin máu, nhưng cũng chưa chắc đây là
quan hệ nhân quả. Sự kháng insulin hay gặp ở những bệnh nhân đái tháo đường
typ 2 hoặc béo phì. Hai bệnh này gặp nhiều trong những người bị tăng huyết áp
hơn những người có huyết áp bình thường. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên