i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRIỆU THỊ THU HÀ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ TRẤN HÙNG QUỐC – HUYỆN TRÀ LĨNH – TỈNH CAO BẰNG” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên Nghành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 -2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Cù Ngọc Bắc
sẽ không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, xin chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, hạnh phúc và thành
công trong sự nghiệp trồng người.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Triệu Thị Thu Hà
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng: 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn qua 3 năm (2011 - 2013) 20
Bảng: 4.2: Tình hình dân số và lao động của thị trấn qua 3 năm (2011 - 2013)
22
Bảng: 4.3: Tình hình kinh tế nông nghiệp của thị trấn 25
qua 3 năm (2011 - 2013) 25
Bảng: 4.4: Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 30
Bảng 4.5: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra 31
Bảng 4.6: Tình hình lao động và nhân khẩu bình quân/hộ của nhóm hộ điều
tra 32
Bảng: 4.7: Tình hình vốn của nhóm hộ điều tra 33
Bảng 4.8: Tư liệu sản xuất chủ yếu bình quân nhóm/nông hộ điều tra 34
Bảng 4.9: Chi phí trên 1 sào lúa của nhóm/hộ trồng trọt 35
Bảng 4.10: Chi phí sản xuất của nhóm hộ trồng trọt và chăn nuôi 36
Bảng 4.11: Chi phí bình quân của nhóm trồng trọt và lâm nghiệp 37
Bảng 4.12: Chi phí cho nhóm hộ hỗn hợp BQ/hộ 38
Bảng 4.13: Kết quả sản xuất của nhóm hộ trồng trọt 39
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 7
2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước trong khu vực
và trên thế giới 7
2.2.1.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản.[7] 7
2.2.1.2. Kinh nghiệm của Đài loan 10
2.2.1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc 10
2.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta 11
2.3. Những bài học kinh nghiệm rút ra 12
2.3.1. Qua kinh nghiệm các nước cho thấy Việt Nam cần rút ra bài học
như sau 12
2.3.2. Bài học rút ra cho địa phương 13
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
v
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 14
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 14
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 14
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 14
3.3. Nội dung nghiên cứu 14
3.4. Phương pháp nghiên cứu 14
3.4.1. Phương pháp điều tra chọn mẫu. 14
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin 15
3.4.3. Phương pháp xử lý thông tin số liệu 16
3.4.4. Phương pháp phân tích số liệu 16
3.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài 16
3.5.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của kinh tế hộ nông dân 16
3.5.2. Chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập từ nông nghiệp của hộ 16
3.5.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và công thức tính 17
4.2.4. Kết quả thu được từ các nhóm hộ điều tra 39
4.2.4.1. Nhóm chuyên trồng trọt 39
4.2.4.2. Kết quả của nhóm trồng trọt và chăn nuôi 40
4.2.4.3. Kết quả thu từ trồng trọt và lâm nghiệp 41
4.2.4.5. Tình hình thu nhập của nhóm hộ hỗn hợp 42
4.2.5. Tình hình thu nhập thực tế từ sản xuất nông lâm nghiệp. 44
4.3. Tác động của chính quyền địa phương tới sản xuất nông nghiệp của thị trấn Hùng
Quốc. 45
4.4. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân 48
4.4.1. Các yếu tố về nguồn lực 48
4.4.1.1. Trình độ văn hóa của nhóm hộ 48
4.4.1.2. Yếu tố đất đai 48
4.4.1.3. Vốn đầu tư cho sản xuất 49
4.4.2. Yếu tố thị trường 49
4.4.3. Yếu tố về khoa học công nghệ 50
4.5. Đánh giá chung về kinh tế nông hộ thị trấn 51
4.5.1. Những khó khăn 51
4.5.2. Những vấn đề cần được giải quyết trong phát triển kinh tế nông hộ
51
4.6. Định hướng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế hộ 51
4.6.1. Định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp của thị trấn Hùng Quốc.
51
4.6.2. Một số giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp của thị trấn Hùng Quốc. . 52
vii
4.6.3. Một số giải pháp chung cho phát triển kinh tế nông nghiệp của thị trấn 52
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1. Kết luận 56
5.2. Kiến nghị 57
5.2.1. Đối với nhà nước 57
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả
những nước đã đạt trình độ phát triển cao. Nó là một trong những hai ngành sản
xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế, là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo
việc làm và đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và tiêu
thụ sản phẩm của nền kinh tế, là nguồn nhân lực và tích lũy cho công nghiệp. Nó
càng trở nên quan trọng đối với một quốc gia với gần 80% dân số sống ở nông
thôn và gần 70% lao động làm việc trong các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp
Thị trấn có những điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, tuy nhiên bên
cạnh đó cũng có những khó khăn cần được giải quyết, để cuộc sống của người
dân ấm no hơn.
Để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển kinh tế
nông nghiệp tại địa phương tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
thực trạng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nông
hộ của Thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân thị trấn
Hùng Quốc, đề xuất một số giải pháp chủ yếu, hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh
tế nông hộ trong thị trấn phát triển.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về kinh tế
nông hộ.
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân và những nhân tố
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân.
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế
hộ của nông dân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ trong thời gian
tới của thị trấn.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên hiểu biết thêm về địa phương mình, các yếu tố ảnh
hưởng đến phát triển nông nghiệp tại địa phương.
- Có một cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng sản xuất nông nghiệp
trong thị trấn, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực góp phần phát triển kinh
tế nông nghiệp của thị trấn.
- Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu
khoa học cho sinh viên trước khi ra trường.
phát triển khác nhau của xã hội cho tới nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trong
từng giai đoạn, hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, hộ luôn là đối tượng thu hút
sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, tổ chức trên thế giới.
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: “Hộ là những
người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có chung ngân
quỹ. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những
nguời làm công”.
Hộ là “đơn vị cơ bản, trong đó sản xuất kinh tế, tiêu thụ, thừa kế, nuôi
con và nơi cư trú ẩn được tổ chức và thực hiện”; “Có thể có hoặc không có
thể đồng nghĩa với gia đình”.
Năm 1989 theo Giáo sư T.G.Mc.Gee: “Hộ là một nhóm người cùng
chung khuyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn
chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”.
Có thể nói trải qua mỗi thời kỳ khác nhau hộ và kinh tế hộ được biểu hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, song vẫn có bản chất chung là: Sự hoạt động
sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình, cố gắng làm sao tạo ra
nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội.
2.1.1.2. Khái niệm về hộ nông dân
Tác giả Frack Ellis định nghĩa như sau: “Hộ nông dân là các hộ gia
đình làm nông nghiệp, tự khiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử
dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất thường năm trong hệ
thống kinh tế lớn hơn. Nhưng chủ yếu đặc trưng bằng sự tham gia cục bộ và
các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Nhà khoa học Traiianop cho rằng: Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất
ổn định và ông coi hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng phát triển
nông nghiệp.
Ở Việt Nam, theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng:
“Nông hộ là tế bào kinh tế, xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông
nghiệp và nông thôn”.
5
Sở hữu trong nông hộ là sản xuất chung, nghĩa là mọi thành viên trong
nông hộ đều có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có, cũng như
những tài sản khác của hộ. Mặc khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và cùng
nhau chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm
6
rất cao và việc bố trí, sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý.
Từ đó hiệu quả sử dụng lao động trong kinh tế nông hộ rất cao.
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ.
Trong nông hộ mọi người thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan
hệ huyết thống, kinh tế nông hộ lại tổ chức với quy mô nhỏ hơn các loại hình
doanh nghiệp nông nghiệp khác nên việc điều hành sản xuất cũng đơn giản,
gọn nhẹ. Trong nông hộ vừa là người điều hành quản lý sản xuất, dòng thời
gian cũng là nguời trực tiếp tham gia lao động sản xuất nên tích thống nhất
giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao.
- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ
nông dân. Cuốc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ
giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản của kinh tế nông hộ. Ở
nước ta, từ năm 1988 khi nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ
nông dân, sản xuất nông nghiệp mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng
trưởng chưa hề có về năng suất và số lượng. Người nông dân phấn khởi trong
sản xuất. Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền
kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ.
- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao.
Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên có sự thích ứng dễ dàng hơn so với
các doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn. Nếu gặp điều kiện thuận lợi hộ có
thể tập trung mọi nguồn lực, thậm chí đôi khi cả phần tất yếu của mình để mở
rộng sản xuất. Khi gặp các điều kiện bất lợi thì cũng có khả năng duy trì bằng
cách thu hẹp quy mô sản xuất tự cung, tự cấp.
Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất và lợi ích của người lao
động. Trong kinh tế nông hộ mọi người gắn bó với nhau trên cả cơ sở kinh tế,
1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30%. Sản lượng nâng cao là điều kiện thuận
lợi để Nhật Bản thực hiện chương trình HĐH sản xuất nông nghiệp.
Để phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào
các viện nghiên cứu nông nghiệp của nhà nước và chính quyền các địa phương.
Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp nhà nước là cơ
quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành
thành một khối. Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường
liên kết nghiên cứu với các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội
khuyến nông; liên kết với các tổ chức này và các tổ chức của nông dân để giúp
nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất
lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định.
b. Cải cách ruộng đất
Cải cách ruộng đất năm 1945 và 1948 đã tạo động lực kích thích mạnh mẽ
nông nghiệp phát triển, mở rộng việc mua bán nông phẩm và tăng nhanh tích lũy.
Để duy trì, bảo vệ những vùng đất tốt dùng cho mục đích nông nghiệp,
năm 1969 nhà nước đã ban hành luật cải tạo và phát triển những vùng đất có
8
khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1970, luật đất đai nông
nghiệp và luật hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ sung đã nới rộng
quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệp cũng như quyền quản
lý cho các tập đoàn và các hợp tác xã nông nghiệp. Năm 1975, Nhật Bản
quyết định thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm:
đảm bảo an toàn lương thực; xem xét lại chính sách giá cả; hoàn thiện cơ cấu
sản xuất, đẩy mạnh các công trình phúc lợi trong các làng xã. Đồng thời
chương trình "đẩy mạnh sử dụng đất nông nghiệp" được triển khai. Chương
trình này được bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vai trò quan trọng
trong việc hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Từng hộ sản xuất riêng lẻ, với quy mô quá nhỏ thì không thể có đủ điều
kiện kinh tế và kỹ thuật để hiện đại hóa quá trình sản xuất nông nghiệp hàng
hóa lớn. Năm 1995 số lượng nông trại giảm 791 nghìn cái (giảm 18,7%) so
Bản. Hầu hết những người nông dân đều là xã viên của HTX nông nghiệp.
Chính phủ rất coi trọng thể chế vận hành các HTX nông nghiệp và đã ban hành,
thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản
xuất nhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo và cùng hội nhập vào
nền kinh tế thế giới. Theo luật hợp tác xã nông nghiệp, năm 1972 liên hiệp các
HTX nông nghiệp quốc gia Nhật Bản chính thức được thành lập và được chính
phủ giao thực hiện các mục tiêu về phát triển nông nghiệp và nông thôn. Hệ
thống HTX nông nghiệp Nhật Bản được phân làm 3 cấp, hoạt động với tôn chỉ
dựa vào sự nỗ lực hợp tác giữa các HTX nông nghiệp cấp cơ sở, các liên đoàn
cấp tỉnh và cấp trung ương tạo thành một bộ máy thống nhất hoàn chỉnh từ trung
ương đến địa phương. Vai trò của các HTX và tổ chức kinh tế HTX dịch vụ đã
thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất và chuyên môn hóa sâu theo
hướng thương mại hóa trong nông nghiệp nước này.
e. Chính sách hỗ trợ nông nghiệp
Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đã
kích thích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo. Từ năm 1970, Nhật Bản bắt
đầu hạn chế mức sản xuất gạo, do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu
lương thực trong nước so với 79% của năm 1960. Theo quan điểm an ninh lương
thực là mục tiêu số một nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao.
Cuối năm 1999 Nhật Bản đã đưa ra "luật cơ bản mới về lương thực,
nông nghiệp và khu vực nông thôn" với nhiều hứa hẹn về những cải cách mới
trong lĩnh vực nông nghiệp. Song thực tế cải cách nông nghiệp diễn ra hết sức
chậm chạp và Nhật Bản vẫn duy trì mức thuế cao đối với một số mặt hàng
như gạo, lúa mỳ và các sản phẩm từ sữa, nếu đem so sánh về chính sách giữa
các nước, khối nước khác nhau như Mỹ, EU, với việc duy trì mức thuế cao,
Nhật Bản phải đối mặt với những phản ứng của các đối tác thương mại trên
các diễn đàn song phương và đa phương về sức ì quá lớn của Nhật Bản đối
với tiến trình tự do hóa trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, chính sách hỗ
trợ nông nghiệp kéo dài của Nhật Bản đã đẩy giá nông phẩm trong nước lên
cao, song nó lại làm giảm sức mua của người tiêu dùng, làm tổn thương tới
"nông mại bất nông" thì phải đóng thuế gấp 3 lần tiền mua (bán đất cho đối
tượng phi nông nghiệp). Nguồn lao động trẻ ở nông thôn rất dồi dào nhưng
không di chuyển ra thành thị, mà dịch vụ tại chỗ theo kiểu "ly nông bất ly
hương". Các cơ quan khoa học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên cứu cải tạo
giống mới cho nông dân và họ không phải trả tiền.
2.2.1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực đầu tư cho
nông nghiệp nông thôn. Một trong những thành tựu của Trung Quốc trong cải
11
cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao. Nguyên nhân của thành tựu đó
có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu
tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng
trước hết là đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi, mở rộng sản xuất lương thực,
xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi,
cây con vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông.
2.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta
Bắc Ninh: Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Bắc Ninh có
nhiều nỗ lực trong thực hiện chủ trương cho vay hộ sản xuất, trở thành một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, đóng góp tích
cực vào công cuộc xây dựng và phát triển địa phương.
Từ đó đến nay, hàng ngàn hộ nông dân trên địa bàn đã được tiếp cận
nguồn vốn vay ngân hàng. Với thủ tục vay vốn ngày càng đơn giản, thuận
tiện, thời gian nhanh hơn, số tiền vay nhiều hơn, phong cách phục vụ tận tình,
chu đáo hơn, ngân hàng đã luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hộ
nông dân thúc đẩy phát triển trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng các mô hình
trang trại, VAC tạo việc làm, thu nhập ổn định, từng bước xoá đói, giảm
nghèo, vươn lên làm giàu.
Phong trào hộ nông dân thi đua sản xuất giỏi của Trung ương. Hội
Nông dân Việt Nam phát động được các cấp hội và nông dân trong tỉnh Bắc
thủ các quy định của WTO cùng các chính sách hỗ trợ khác. Chính sách hỗ
trợ trong nông nghiệp gồm 2 loại: hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu.
Nông dân Việt Nam vẫn cần tiếp tục nhận được những hỗ trợ khác để giúp đỡ
nông dân trong phát triển sản xuất nông sản nhằm xóa đói giảm nghèo. Nhà
nước cần hỗ trợ mạnh cho các HTX, hội nông dân để giúp các tổ chức này
hoạt động tốt trong vai trò cung ứng vật tư nông nghiệp thiết yếu, đào tạo, dạy
nghề, cung cấp thông tin, hỗ trợ kinh phí, điều kiện sinh hoạt, buôn bán xuất
khẩu nông sản, bảo vệ lợi ích của người nông dân. Sự phát triển của các tổ
chức HTX và hội nông dân giúp cho cộng đồng xã hội nông thôn phát triển
hài hòa cả về kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường.
Thứ ba, hiện tích tụ ruộng đất bình quân ở Việt Nam chỉ có 0,6ha/hộ
vào loại thấp nhất thế giới, điều này dẫn đến sản xuất phân tán manh mún,
năng suất không cao, không hiệu quả. Chính sách dồn điền đổi thửa cho phép
xử lý vấn đề đất đai manh mún, song cần có những tác động hỗ trợ cần thiết
của Chính phủ trong tiến trình này, và nên tiến hành từng bước tích tụ ruộng
đất gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sỏ
phát triển kinh tế hộ gia đình.
Thứ tư, kiên quyết thực hiện liên kết nông nghiệp, nông thôn với công
nghiệp và đô thị nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đô thị và nông thôn. Hoạch
định rõ chiến lược phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp về thu hút lao
động, chế biến nông phẩm, cung cấp vật tư, máy móc cho nông nghiệp. Điều
chỉnh kế hoạch mở rộng các đô thị lớn thành xây dựng nhiều thành phố vệ
13
tinh nhỏ nằm ồ nông thôn. Cải thiện hệ thống giao thông để cư dân nông thôn
và đô thị có thể di chuyển cư trú thuận lợi.
Thứ năm, để tạo điều kiện cho người nông dân có thể tự tăng được thu
nhập và có động lực ở lại nông thôn, Chính phủ cần xây dựng hạ tầng cơ sở
tốt, đào tạo dạy nghề tốt ở nông thôn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây
dựng nhà máy ở nông thôn vì xây dựng ở nông thôn sẽ rẻ hơn đô thị. Nông
thôn nếu tìm được những ngành nghề có ưu thế để phát triển (phát triển các
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là kinh tế hộ nông dân trên địa bàn thị trấn.
Cụ thể: nghiên cứu các hoạt động kinh tế nông hộ tại thị trấn như: Trồng
trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, hỗn hợp
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Tình hình sản xuất kinh doanh của nông hộ.
- Tình hình sử dụng đất đai của nông hộ.
- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến kinh tế nông hộ để đưa ra các giải
pháp phát triển trong thời gian tới.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn thị trấn Hùng Quốc, huyện trà lĩnh,
tỉnh Cao Bằng.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
- Các số liệu phục vụ nghiên cứu được lấy từ năm 2011 - 2013, số liệu
khảo sát thực trạng được điều tra năm 2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng kinh tế nông nghiệp của địa phương.
- Tình hình kinh tế nông nghiệp theo nhóm nông hộ điều tra.
- Tình hình kinh tế nông nghiệp của một số nông hộ đại diện và đưa ra
các giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp tại địa
phương.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp điều tra chọn mẫu.
Điều tra chọn mẫu là một loại điều tra không toàn bộ mà trong đó một
*Thu thập thông tin sơ cấp:
Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ các nông hộ trong vùng nghiên
cứu thông qua phiếu điều tra nông hộ.
- Phương pháp điều tra:
+ Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của
người dân (PRA):
Trực tiếp tiếp xúc với chủ hộ, tạo điều kiện để cho họ tự
bộc lộ, tự mô tả những điều kiện sản xuất, những kinh nghiệm, những khó
khăn và mong muốn của họ, để thu thập được thông tin cần thiết và tìm ra
những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển nông hộ làm cơ sở đưa ra
định hướng và giải pháp.
16
+ Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp để nắm được tổng quan về
địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu. Đồng thời có thể kiểm tra tính xác
thực khi phỏng vấn người dân.
3.4.3. Phương pháp xử lý thông tin số liệu
Số liệu điều tra các nông hộ sau khi thu thập đủ, sẽ tiến hành làm
sạch biểu tức là kiểm tra, rà soát và chuẩn hoá lại thông tin, loại bỏ
thông tin không chính xác, sai lệch trong điều tra và chuẩn hóa lại các
thông tin. Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, phân tổ,
đồng thời được xử lí thông qua chương trình Excle. Việc xử lí thông tin
là cơ sở cho việc phân tích.
3.4.4. Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
Các thông tin, số liệu được mô tả, liệt kê rõ ràng theo các phương pháp
thống kê.
- Phương pháp thống kê so sánh
Các số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy
được những thực trạng liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: Giá bán sản phẩm thứ i
Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ được sử
dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm trong một thời kỳ sản xuất. Với hệ
thống trồng trọt IC bao gồm chi phí về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, dụng cụ
lao động, tiền điện Với hệ thống chăn nuôi IC bao gồm chi phí về giống, thức
ăn, dịch vụ thú y…Có thể nói IC là toàn bộ chi phí của quá trình sản xuất. Tăng
giảm IC có liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế của hộ.
IC = ∑Ci
Giá trị gia tăng (VA): Là chỉ số phản ánh kết quả cuối cùng của quá
trình sản xuất kinh doanh.
Công thức tính: VA = GO - IC.
Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần túy của nông hộ sản
suất, bao gồm cả công lao động và lợi nhuận trong một thời kỳ sản xuất.
MI = VA - (A+T) - Tiền công lao động (nếu có)
Trong đó:
A: Khấu hao tài sản cố định
T: Các khoản thuế phải nộp
Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí trung gian
TVA = VA/MC
Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo chi phí trung gian
TMI = MI/IC