i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THU TRANG
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGHÈO THEO HƯỚNG
TIẾP CẬN NGHÈO ĐA CHIỀU VÀ GIẢI PHÁP
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ BẢO LÝ
PHÚ BÌNH - THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Mạnh Thắng
Thái nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Bùi Thu Trang
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.1.1. Khái niệm nghèo 4
2.1.1.2. Chuẩn mực xác định nghèo đói 5
2.1.2. Nghèo đa chiều (Multidimensional poverty) 8
2.1.2.1. Khái niệm nghèo đa chiều 8
2.1.2.2. Chỉ số nghèo đa chiều 9
4.1.2.1. Tình hình dân số, lao động, việc làm của xã Bảo Lý 24
4.1.2.2. Tình hình kinh tế 24
4.1.2.3. Cơ sở hạ tầng 27
4.1.2.4. Tình hình phát triển các lĩnh vực xã hội 28
4.1.3. Thuận lợi và khó khăn điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội trong
quá trình giảm nghèo của xã Bảo Lý 29
4.2. Thực trạng nghèo của xã Bảo Lý 30
4.2.1. Tình hình nghèo đói của Xã Bảo Lý 30
v
4.2.2. Thực trạng nghèo của các hộ điều tra 32
4.2.2.1. Nguồn vốn con người 32
4.2.2.2. Đặc điểm về vốn tự nhiên 37
4.2.2.3. Đặc điểm tiếp cận vốn vật chất 37
4.2.2.4. Tiếp cận vốn thông tin 42
4.2.2.5. Tiếp cận vốn tâm lý 42
4.2.2.6. Đặc điểm vốn kinh tế 43
4.2.3. Đánh giá nghèo thông qua tiếp cận đơn chiều 44
4.2.4. Đánh giá thực trạng nghèo theo cách tiếp cận đa chiều 45
4.2.5. So sánh tỷ lệ hộ nghèo của phương pháp tiếp cận đa chiều với đơn chiều
về thu nhập 46
4.2.6. Phân loại các nhóm đối tượng nghèo đa chiều và nguyên nhân
nghèo 47
4.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đơn chiều và đa chiều 48
4.4. Giảm nghèo bền vững 49
4.4.1. Giải pháp chung 49
4.4.1.1. Nguồn vốn con người 49
4.4.1.2. Nguồn vốn tài chính 50
4.4.1.3. Nguồn vốn vật chất 51
4.4.1.4. Đối với các nhóm hộ 52
Bảng 4.17: Các khoản thu nhập trong năm 2013 43
Bảng 4.18: Tỷ lệ hộ nghèo tính theo thu nhập năm 2013 44
Bảng 4.19: Tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận đa chiều năm 2013 46
Bảng 4.20: So sánh tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận đa chiều so với đơn chiều 46
Bảng 4.21: Tỷ lệ các nhóm đối tượng nghèo đa chiều năm 2013 47 viiDANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
ESCAP : Châu Á - Thái Bình Dương
KT – XH : Kinh tế - Xã hội
KV : Khu vực
LĐTB&XH : Lao động - Thương binh và xã hội
PTNT : Phát triển nông thôn
TV : Tivi
UBND : Ủy ban nhân dân
WB : Ngân hàng thế giới
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
UNDP : United Nations Development Programme
(Chương trình phát triển liên hợp quốc)
TB : Trung bình
NN : Nông nghiệp 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
2
nghèo đã đạt được và đảm bảo tính bền vững của giảm nghèo, đó là: Độ bao
phủ đối tượng chưa cao, do xuất phát từ đo lường nghèo đói chủ yếu dựa vào
thu nhập mà chưa tính đến các đối tượng khác tuy thu nhập trên chuẩn nghèo
nhưng vẫn không tiếp cận được một số nhu cầu thiết yếu về y tế, giáo dục,
nước sạch Mức độ nghèo phản ánh chưa chính xác nếu chỉ đo lường nghèo
đói dựa vào thu nhập, thiếu công bằng trong thực hiện các chính sách giảm
nghèo và an sinh xã hội, còn một bộ phận người dân chưa được hưởng các
chính sách trợ giúp của Nhà nước do không phải là "hộ nghèo". Thách thức
về tính bền vững trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tình trạng tái nghèo
còn cao, một bộ phận nghèo kinh niên vẫn tồn tại
Vì vậy, việc nghiên cứu, chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường
nghèo đói từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều để đáp ứng các nhu
cầu cơ bản tối thiểu của người dân là một đòi hỏi mang tính khách quan để
thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tới.
Trên cơ sở đó, được sự đồng ý của nhà trường và sự giúp đỡ của Th.s
Nguyễn Mạnh Thắng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng
nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền
vững tại xã Bảo Lý - Phú Bình - Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
• Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng nghèo đói theo hướng tiếp cận đa chiều thông qua
các chỉ số nghèo đói đa chiều và chuẩn nghèo hiện nay. Từ đó đề xuất các giải
pháp để giảm nghèo bền vững, không còn tình trạng tái nghèo tại xã Bảo Lý,
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
• Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng nghèo đói của xã Bảo Lý thông qua phương
pháp tiếp cận nghèo đa chiều và đơn chiều.
- So sánh được thực trạng nghèo của phương pháp tiếp cận đa chiều so
với phương pháp tiếp cận đơn chiều theo thu nhập.
4
Phần 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Khái niệm nghèo
Có nhiều quan niệm về nghèo đói của các tổ chức và quốc gia trên thế
giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như
theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu
dùng và theo những đặc trưng khác nhau của nghèo đói. Song quan niệm
thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu
nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc
thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm
nhất định”.
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã hộ khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào
tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng “Nghèo
đói là tình trạng của bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu
cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được
xã hội thừa nhận”.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về
nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới
1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển
hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO)
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức
độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính
theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức
là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP
(purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương
và cũng tính bằng USD.
6
Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của
các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:
+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.
+ Từ 20.000 dến dưới 25.000 UDS/người/năm là nước giàu.
+ Từ 10.000 đến dưới 20.000 USD/người/năm là nước khá giàu.
+ Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/người/năm là nước trung bình.
+ Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo.
+ Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo.
Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang
nghèo đói như sau:
+ Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu
nhập dưới 0.5 USD/ngày.
+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày.
+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày.
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày.
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.
Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình thông thường
nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng đưa ra. Ví dụ: Mỹ đưa ra chuẩn
nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia
đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1 USD/ngày/người.
Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của
nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy,
Nghèo (KV nông thôn,
đồng bằng trung du)
Dưới 20 Kg (70.000 đồng)
Nghèo (KV thành thị) Dưới 25 KG (90.000 đồng)
2001 - 2005 (mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn,
miền núi hải đảo)
Dưới 80.000 đồng
Nghèo (KV nông thôn,
đông bằng trung du)
Dưới 100.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng
2006 - 2010 (Mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn) Dưới 200.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 260.000 đồng
2011 - 2015 (Mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 500.000 đồng
(Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN
và Quyết định số 170/2005/QĐ-TT)
Phương án chuẩn nghèo này đã được đánh giá phù hợp với mức sống
và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo
nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiến
và đáp ứng được yêu cầu từng bước tiếp cận và hội nhập quốc tế.
vốn thông tin, vốn con người, vốn xã hội, vốn văn hóa, vốn vật chất, vốn tự
nhiên và vốn kinh tế. Nghèo đa chiều đưa ra cái nhìn về tình trạng nghèo một
cách đa chiều và toàn diện hơn, chỉ cần thiếu hụt một trong các loại vốn trên
9
sẽ dẫn đến thiếu hụt những loại vốn khác. Chúng đều có quan hệ qua lại, tác
động lẫn nhau. Ví như thiếu vốn sức khỏe sẽ dẫn đến thiếu vốn tài chính.
Từ cách tiếp cận đa chiều ta sẽ có những biện pháp để giảm nghèo bền
vững. Đưa ra những chính sách và định hướng đúng đắn hợp lý, thay cho việc
cần gì đáp ứng đấy làm người nghèo ỷ nại, lười lao động và sống mãi trong
vòng luẩn quẩn của nghèo đói.
2.1.2.2. Chỉ số nghèo đa chiều
Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) được tổ
chức Sáng kiến phát triển con người và nghèo đói của Đại học Oxford (OPHI)
cùng UNDP (Chương trình phát triển Liên hợp quốc) sử dụng trong Báo cáo
Phát triển Con người (Human Development Report), công bố vào ngày
2/11/2011. Chỉ số MPI được xây dựng dựa trên phương pháp luận của Alkire
và Foster (2007) bao gồm ba chiều đo lường là giáo dục, y tế và mức sống với
mười chỉ báo với các trọng số khác nhau.
Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo đa chiều và
xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều. Các chỉ số đa chiều phổ biến
nhất là Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index - HPI) do Anand và
Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index -
HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng, và Chỉ số nghèo đa chiều
(Multidimensional Poverty Index - MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp
dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007).
Các nhà nghiên cứu của OPHI (Oxford Poverty and Human
Development Initiative) đã thống kê số liệu từ 104 nước với dân số khoảng
5,2 tỷ người (chiếm 78% tổng dân số toàn cầu), có khoảng 1.7 tỉ người
đang sống trong tình trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm khoảng 1/3 tổng dân
Mức sống
• Nhiên liệu nấu ăn
• Nhà vệ sinh
• Nước
• Điện
• Nhà ở
• Tài sản
(Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người, 2011)
Mỗi chiều và mỗi chỉ số trong một chiều hướng là bằng nhau về
trọng số.
Tính toán chỉ số MPI: MPI = H x A
H: Tỷ lệ % những người nghèo đa chiều trong cộng đồng (tỷ lệ
nghèo đói).
A: Cường độ trung bình sự thiếu hụt các chỉ số của những người
nghèo (%).
11
Quy ước: 0% cho thấy hộ không thiếu thốn trong chỉ số
100% cho thấy hộ thiếu thốn trong chỉ số
Các chỉ số 10 sau đây được sử dụng để tính toán chỉ số MPI:
* Giáo dục (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/6):
1. Năm học: Bị tước đoạt nếu không có thành viên nào trong hộ gia
đình đã hoàn thành cấp độ tiểu học.
Nghĩa là chỉ số năm học có trọng số là 1/6, nếu hộ gia đình nào mà tất
cả các thành viên đều chưa học hết lớp 5 (bậc tiểu học) sẽ bị tướt đoạt trọng
số 1/6.
2. Con đi học: Bị tước đoạt nếu trong gia đình có độ tuổi đi học ở trẻ
em không được đi học đến lớp 9.
Nghĩa là chỉ số con đi học có trọng số 1/6, nếu hộ gia đình nào mà có
trẻ em đang ở độ tuổi đi học mà không được học đến lớp 9, (không tính trẻ
10. Tài sản sở hữu: Bị tước đoạt nếu gia đình không sở hữu nhiều hơn
một TV, điện thoại, xe đạp, xe máy… hoặc tủ lạnh và không sở hữu một
chiếc xe hơi hoặc xe tải.
Một người được coi là nghèo đa chiều nếu họ bị tước trong ít nhất
33,33% của các chỉ số có trọng số. Cường độ của nghèo biểu thị tỷ lệ của các
chỉ số trong đó họ bị tước đoạt.
Chỉ số nghèo đa chiều bao quát được trực tiếp hơn sự túng thiếu, tổn
thất trong tác động đến sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ thiết yếu như nước
sạch, vệ sinh và năng lượng. Ở một số nước các nguồn này được cung cấp
miễn phí hoặc với một giá rất thấp trong khi một số nơi chúng trở nên vượt
quá mức so với thu nhập của người lao động.
Các nhà nghiên cứu của OPHI (Oxford Poverty and Human
Development Initiative) đã thống kê số liệu từ 104 nước với dân số khoảng 5,2
tỷ người (chiếm 78% tổng dân số toàn cầu), có khoảng 1.7 tỉ người đang sống
trong tình trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm khoảng 1/3 tổng dân số). Con số
này vượt quá 1.3 tỷ người cùng ở các nước này nếu tính theo ngưỡng 1.25$
/ngày - phương pháp được chấp nhận phổ biến đo lường nghèo cùng cực.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Các khía cạnh của nghèo đói
* Về thu nhập: Đa số những người nghèo có cuộc sống khó khăn cực
khổ và có mức thu nhập thấp. Điều này do tính chất công việc của họ đem lại
người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều,
công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp. Hơn thế nữa, những công việc này
lại thường bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và
có tính rủi ro cao liên quan đến thời tiết (chẳng hạn mưa, nắng, lũ lụt, hạn
13
hán, động đất…). Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là
những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu trong cuộc
sống của những người nghèo hạn chế hầu hết các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
14
* Không có tiếng nói và quyền
Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm
với sự khó khăn về vật chất lẫn con người. Nguy cơ đó là họ phải đối mặt với
nhiều loại rủi do, bị đánh đập, thiên tai, bị thôi học, bị thôi việc… Nói cách
khác, những rủi do mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của
họ chính là nguyên nhân khiến họ dễ bị tổn thương. Khi có rủi do như mất
mùa, gia đình có người ốm đau, phải chạy chữa một khoản tiền lớn, hay bị
thất nghiệp… họ dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộc sống
gia đình một thời gian sau mới có thể khắc phục được. Nguy cơ dễ bị tổn
thương đã tạo nên 1 tâm lý chung của người nghèo là sự đối mặt với rủi do, vì
vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi ro cao, kể cả khi những
người nghèo họ thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề của xã
hội vì thế họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung
của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ.
2.2.2. Đặc điểm tình trạng nghèo đói của nước ta
* Giảm nghèo bấp bênh
Bộ trưởng Bộ LĐTB & XH thừa nhận: "Việt Nam đang đứng trước
những thách thức lớn, đó là tốc độ giảm đói, nghèo không đồng đều, chưa bền
vững và thiếu tính tập chung cao. Tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện
nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, nhưng nhiều nơi tỷ lệ
nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 60 - 70%; tỷ trọng hộ nghèo dân tộc
thiểu số chiếm 47% tổng số hộ nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân của
hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước; khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo tăng 9,2 lần (năm 2010) lên khoảng 9,4 - 9,5 lần
(năm 2012).
Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) từ cuối năm 2012 cũng phản
ánh một thực tế là tình trạng phân hóa giàu - nghèo tại Việt Nam đang chuyển
dần từ mức tương đối bình đẳng (năm 2002) sang mức chênh lệch thu nhập
thì đối tượng nghèo cũng phải đáp ứng về độ tuổi. Từ trước tới nay, nhiều địa
phương áp dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều vì thế đã dẫn tới hạn
chế không làm rõ được từng đối tượng thì nên áp dụng chính sách gì và họ
thiếu hụt gì thì hỗ trợ. Chúng ta cứ nghĩ thay cho người nghèo. Họ thiếu gì thì
chúng ta hỗ trợ dẫn tới chính sách không minh bạch, tham vọng quá lớn nên
hiệu quả không cao.
"Nghèo đa chiều” đang được xem là "chìa khóa” tháo gỡ cho thực
trạng "nghèo -tái nghèo - nghèo” ở Việt Nam. Trong công tác xóa đói giảm
16
nghèo, bên cạnh việc kế thừa những kinh nghiệm, cách làm hay, việc cần
có một chiến lược giảm nghèo mới là một yêu cầu cấp bách. Song việc
chuyển đổi phương pháp tiếp cận sang nghèo đa chiều để thực sự đem lại
hiệu quả thì còn rất nhiều việc phải làm. Nhất là khi sự bình đẳng tuyệt đối
giữa giàu - nghèo là rất khó, đặc biệt việc kéo gần khoảng cách giữa người
giàu và người nghèo không hề đơn giản. Chính vì vậy, cùng với việc thực
hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội thì Nhà nước cũng cần
thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ khác như cải thiện chất lượng khám
chữa bệnh, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học và dạy
nghề, chăm lo tốt đời sống người có công…
2.2.3. Ảnh hưởng của đói nghèo đến sự phát triển xã hội và con người
Người nghèo, quốc gia nghèo luôn phải sống trong tình trạng lo âu, day
dứt, mong muốn tìm ra lối thoát. Báo cáo chương trình tổng kết giảm nghèo ở
Châu Á - Thái Bình Dương đã đánh giá rằng: sống một cuộc sống nghèo khổ
hiển nhiên sẽ gây ra những thất vọng mà sự thất vọng này lại là nguồn gốc
của những hành động phá phách, gây phiền hà cho cuộc sống và trật tự xã hội.
Tình trạng nghèo ấp ủ các xung đột về chính trị xã hội, phá hoại những giá trị
cơ bản của con người và làm xói mòn hạnh phúc gia đình.
Sự nghèo khó không chỉ gây nhức nhối cho người nghèo ở khía cạnh
vật chất mà còn kể đến nghèo khổ cả về mặt tinh thần. Nó làm giảm khả năng
dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó
khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mục tiêu giảm nghèo bền vững của ta đến năm 2020 không chỉ tiếp tục
ưu tiên nguồn lực cho các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, khu vực đồng bào dân
tộc thiểu số, mà quan trọng là chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo đói từ
đơn chiều sang đa chiều, tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng. Xóa
nghèo không chỉ tăng thu nhập cho các hộ nghèo mà còn tăng mức độ thụ
hưởng của các thành viên trong các dịch vụ xã hội khác. "Việc khuyến khích
người nghèo bày tỏ tiếng nói, trao quyền để họ tự tìm ra cách thức giảm
nghèo, lôi cuốn sự tham gia của người nghèo vào quá trình lập kế hoạch và
giám sát thực hiện là những yếu tố để giảm nghèo bền vững”- bà Pratibha
Mehta, Điều phối viên Thường trú của Liên Hợp quốc lưu ý.
Giảm nghèo bền vững phải được thực hiện một cách đồng bộ trên tất cả
các lĩnh vực (chính sách, y tế, giáo dục và điều kiện sống) đảm bảo không có
hiện tượng tái nghèo xảy ra.
18
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ dân trong cộng đồng xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1. Phạm vi không gian nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu là xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên,
gồm 3 xóm Hóa, xóm Dinh, xóm Vạn Già.
3.1.2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài sử dụng nguồn thông tin, số liệu thứ cấp trong thời gian 3 năm
2011- 2012 - 2013. Nguồn thông tin, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2013.
Đề tài thực hiện từ ngày 07/01/2014 đến 13/05/2014.